Tổng quan nghiên cứu

Hệ sinh thái rừng ngập mặn đóng vai trò như lá chắn xanh bảo vệ vùng duyên hải trước các biến cố thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo thống kê từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc, giai đoạn từ năm 1980 đến năm 2013 ghi nhận khoảng 20% đến 35% diện tích rừng ngập mặn toàn cầu bị suy giảm. Tại Việt Nam, diện tích rừng ngập mặn đã sụt giảm nghiêm trọng từ hơn 400.000 ha vào năm 1943 xuống còn 155.290 ha vào năm 2005, trước khi phục hồi nhẹ lên mức khoảng 160.000 ha vào năm 2012 nhờ nỗ lực trồng mới.

Tỉnh Thái Bình hiện sở hữu 3.708,98 ha rừng ngập mặn, tập trung chủ yếu tại huyện Thái Thụy với hơn 2.000 ha trải dài qua 5 xã ven biển. Trong đó, xã Thụy Trường là khu vực trọng điểm với tổng diện tích đất ngập mặn đạt 1.234,8 ha, bao gồm 784,7 ha đất có rừng che phủ và khoảng 400 ha rừng cổ thụ lâu năm nhất lưu vực đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên, áp lực chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang nuôi trồng thủy sản, chăn thả gia súc và ô nhiễm nguồn nước đang đe dọa trực tiếp đến tính bền vững của hệ sinh thái nơi đây.

Luận văn thạc sĩ khoa học môi trường của tác giả Nguyễn Thị Tâm tập trung đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý, cấu trúc khai thác và sử dụng dịch vụ hệ sinh thái rừng ngập mặn tại xã Thụy Trường trong giai đoạn 2013-2018. Mục tiêu chính của đề tài nhằm nhận diện các xung đột lợi ích giữa bảo tồn và sinh kế, phân tích bất cập trong phân cấp quản lý cơ sở, từ đó thiết lập hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên rừng, hướng đến mục tiêu kép vừa bảo vệ hệ sinh thái vừa gia tăng thu nhập bền vững cho cộng đồng địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng cách tiếp cận Hệ thống Sinh thái - Xã hội để phân tích mối tương tác hai chiều, hữu cơ giữa cấu trúc sinh thái tự nhiên và cộng đồng dân cư địa phương. Hệ thống này xem con người là một hợp phần không thể tách rời của hệ sinh thái, trong đó mọi biến động về diện tích rừng đều tác động trực tiếp đến dòng năng lượng và cấu trúc sinh kế.

Đồng thời, luận văn vận dụng khung phân loại của Đánh giá Hệ sinh thái Thiên niên kỷ và chương trình Kinh tế Hệ sinh thái và Đa dạng sinh học. Bốn nhóm dịch vụ sinh thái cốt lõi được định lượng gồm: dịch vụ cung cấp (thực phẩm, thủy hải sản, gỗ củi), dịch vụ điều tiết (giảm sóng bão, chống xói lở bờ biển, điều hòa vi khí hậu), dịch vụ hỗ trợ (chu trình dinh dưỡng, vườn ươm con giống tự nhiên) và dịch vụ văn hóa (du lịch sinh thái, tâm linh). Các chỉ số sinh thái quốc tế chứng minh rừng ngập mặn có khả năng lưu trữ carbon vượt trội, đạt trung bình 1.023 mg carbon/ha ở tầng đất sâu trên 30 cm, đồng thời có thể hấp thụ từ 75% đến 83% năng lượng sóng bão khi triều cường dâng cao.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa thu thập tài liệu thứ cấp và dữ liệu thực địa sơ cấp thông qua phương pháp Đánh giá Nông thôn có sự tham gia.

Quy trình khảo sát thực địa được triển khai theo các bước cụ thể:

  • Phỏng vấn sâu 10 cá nhân chủ chốt gồm cán bộ Hạt Kiểm lâm Thái Thụy, lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã, ban địa chính lâm sinh, đại diện Đồn Biên phòng và tổ trưởng tổ bảo vệ rừng.
  • Tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung tại thôn Trường Xuân và thôn Đồng Xuân với quy mô từ 6 đến 8 thành viên mỗi nhóm, đại diện cho các ngành nghề khai thác bãi triều, trồng trọt và nuôi thủy sản.
  • Khảo sát bảng hỏi cấu trúc trên cỡ mẫu 30 hộ gia đình tại thôn Trường Xuân. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng dựa trên danh sách 173 hộ dân của thôn, chia đều thành 15 hộ có mức sống khá và 15 hộ trung bình. Lý do lựa chọn phân tầng này vì 100% số hộ nghèo tại địa phương không có điều kiện tiếp cận sinh kế từ rừng ngập mặn.

Nghiên cứu sử dụng phần mềm MapInfo 15.0 để xây dựng bản đồ không gian và phân vùng 5 cấp độ cung cấp dịch vụ hệ sinh thái. Toàn bộ số liệu định lượng kinh tế - xã hội được tổng hợp và phân tích thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel nhằm tìm kiếm mối tương quan giữa diện tích mặt nước nuôi trồng và biến động thu nhập bình quân đầu người.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích hiện trạng cho thấy xã Thụy Trường đang sở hữu diện tích đất ngập mặn lớn nhất huyện Thái Thụy với 1.234,8 ha, trong đó diện tích có rừng chiếm 784,7 ha và diện tích đất bãi bồi trống là 450,1 ha. Tỷ lệ diện tích đầm nuôi thủy sản so với rừng ngập mặn tại xã duy trì ở mức 33,6% đầm và 66,4% rừng, bám rất sát khuyến nghị kỹ thuật 30:70 của Bộ Nủy sản nhằm bảo đảm an toàn sinh thái.

Đa dạng sinh học vùng rừng ghi nhận 111 loài thực vật thuộc 38 họ, tiêu biểu là Bần chua, Vẹt và Đước đôi. Hệ động vật ghi nhận 100 loài động vật đáy, 64 loài thực vật nổi và 59 loài động vật nổi. Rừng ngập mặn Thụy Trường phân bố thành các đai tuổi rõ rệt: khu vực rừng tự nhiên kề sát đầm nuôi có tuổi đời trên 40 năm, các đai rừng phòng hộ trồng theo Dự án 327 và Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch tài trợ từ năm 1994 có độ che phủ cao, và đai rừng non ngoài mép biển trồng mới 110 ha vào năm 2017 theo chương trình ứng phó biến đổi khí hậu.

Về mặt kinh tế, tổng giá trị sản xuất toàn xã năm 2016 đạt 274 tỉ 895 triệu đồng, trong đó nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tỷ trọng 45,8% tương đương 126 tỉ 004 triệu đồng. Hoạt động nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ trên diện tích 258 ha mang lại doanh thu 19 tỉ 500 triệu đồng; 187 ha nuôi ngao bãi triều đạt 14 tỉ 600 triệu đồng; và hoạt động khai thác hải sản tự nhiên tạo sinh kế trực tiếp cho khoảng 400 đến 500 lao động với giá trị đạt 7 tỉ 700 triệu đồng mỗi năm.

Thảo luận kết quả

Mô hình quản trị rừng ngập mặn tại Thụy Trường được thiết lập theo cơ chế phân cấp 3 tầng rõ ràng: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Bình chịu trách nhiệm chỉ đạo vĩ mô, Trạm Kiểm lâm liên huyện Thái Thụy thực hiện giám sát địa bàn, và Ủy ban nhân dân xã Thụy Trường trực tiếp điều hành Tổ bảo vệ rừng ngập mặn cơ sở gồm 10 thành viên. Mỗi nhân sự trong tổ được phân chia lô rừng cụ thể để tuần tra 24/24 giờ với mức phụ cấp hỗ trợ khoảng 2 triệu đồng/tháng.

Dữ liệu khảo sát được biểu diễn trực quan qua sơ đồ phân cấp dịch vụ sinh thái và biểu đồ tương quan thu nhập. Kết quả cho thấy nhận thức của người dân về dịch vụ cung cấp và dịch vụ điều tiết đạt mức độ rất cao, trong khi dịch vụ hỗ trợ sinh học và giá trị văn hóa cảnh quan chưa được khai thác tương xứng.

Bên cạnh mặt tích cực, luận văn chỉ ra nhiều tồn tại đe dọa sinh thái rừng:

  • Tập quán chăn thả tự do đàn gia súc 303 con trâu bò dọc chân đê làm giẫm đạp, gãy đổ nghiêm trọng các dải cây ngập mặn non mới tái sinh.
  • Tình trạng một số chủ đầm tôm tự ý chặt tỉa thân cây sú vẹt vì lo ngại lá rụng làm ô nhiễm nguồn nước nuôi.
  • Việc sử dụng phổ biến ngư cụ lưới bát quái có mắt lưới siêu nhỏ khai thác tận diệt nguồn ấu trùng và con non thủy hải sản.
  • Hệ thống thoát nước thải chưa qua xử lý từ các ao nuôi thâm canh trong nội đồng xả trực tiếp ra bãi triều rừng ngập mặn gây ô nhiễm cục bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các bất cập nêu trên và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững dải ven biển Thụy Trường, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch phân khu chức năng và cắm mốc ranh giới bảo vệ. Ủy ban nhân dân huyện Thái Thụy phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoàn thành việc phân định ranh giới cho toàn bộ 1.234,8 ha đất ngập mặn trước năm 2025. Bắt buộc các đầm nuôi thủy sản ngoài đê phải tuân thủ nghiêm ngặt tỷ lệ che phủ tối thiểu 60% diện tích rừng ngập mặn trong khuôn viên đầm.

Thứ hai, thể chế hóa và nhân rộng mô hình đồng quản lý tài nguyên. Ủy ban nhân dân xã Thụy Trường cần trao quyền tự quản nhiều hơn cho cộng đồng thôn Trường Xuân và Đồng Xuân; đồng thời nâng mức kinh phí hỗ trợ tuần tra cho 10 thành viên Tổ bảo vệ rừng lên mức 3,5 đến 4 triệu đồng/tháng thông qua nguồn quỹ dịch vụ môi trường rừng.

Thứ ba, tăng cường kiểm tra thực địa và thực thi chế tài xử phạt hành chính. Hạt Kiểm lâm Thái Thụy kết hợp cùng lực lượng Bộ đội Biên phòng tổ chức tuần tra liên ngành định kỳ, kiên quyết tịch thu 100% ngư cụ lờ bát quái trái phép, đồng thời cấm tuyệt đối việc chăn thả 303 con gia súc vào các lô rừng trồng dưới 5 năm tuổi.

Thứ tư, chuyển đổi sinh kế bền vững và áp dụng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng. Xã cần hỗ trợ người dân chuyển đổi từ mô hình nuôi quảng canh truyền thống sang nuôi tôm, cua sinh thái dưới tán rừng ngập mặn kết hợp mở rộng diện tích nuôi ngao 187 ha; phấn đấu nâng thu nhập bình quân của nhóm hộ phụ thuộc rừng thêm 15% đến 20% trong giai đoạn 5 năm tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác, mang tính ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Chi cục Kiểm lâm, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình, Ủy ban nhân dân các huyện ven biển có thể ứng dụng khung phân tích của đề tài để ban hành quy chế quản lý rừng ngập mặn liên xã và xây dựng phương án giao khoán đất bãi bồi.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Các chuyên gia thuộc khối ngành Khoa học môi trường, Quản lý tài nguyên, Sinh thái học biển tham khảo phương pháp luận kết hợp GIS với công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia.
  • Ban quản lý các tổ chức phi chính phủ và dự án phát triển: Các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn đất ngập nước và ứng phó biến đổi khí hậu có thêm cơ sở dữ liệu thực địa tin cậy để thiết kế dự án sinh kế dựa vào cộng đồng.
  • Cộng đồng cư dân và chủ đầm nuôi thủy sản ven biển: Người dân địa phương học hỏi kỹ thuật kết hợp hài hòa giữa duy trì độ tán che của rừng với kỹ thuật nuôi tôm cua nước lợ đạt hiệu quả kinh tế cao.

Câu hỏi thường gặp

Rừng ngập mặn Thụy Trường có vai trò gì nổi bật nhất đối với công tác phòng chống thiên tai? Đai rừng ngập mặn rộng hơn 1,5 km tại Thụy Trường có khả năng làm giảm chiều cao sóng biển từ 1m xuống còn 0,05m khi tiến vào chân đê. Hệ số suy giảm năng lượng sóng đạt từ 75% đến 83%, giúp bảo vệ an toàn cho hệ thống đê biển trước các cơn bão mạnh cấp 10 đến cấp 12 đổ bộ hàng năm.

Tỷ lệ diện tích giữa đầm nuôi thủy sản và rừng ngập mặn tại địa phương hiện nay ra sao? Hiện nay xã Thụy Trường duy trì tỷ lệ 33,6% diện tích đầm nuôi thủy sản và 66,4% diện tích rừng ngập mặn trên tổng số 1.234,8 ha đất bãi triều. Con số này tiệm cận rất sát với tiêu chuẩn kỹ thuật 30% nuôi trồng và 70% che phủ rừng do ngành nông nghiệp khuyến nghị.

Cơ chế tuần tra và vận hành của Tổ bảo vệ rừng ngập mặn xã Thụy Trường như thế nào? Tổ bảo vệ gồm 10 thành viên là người dân địa phương am hiểu luồng lạch, duy trì trực gác 24/24 giờ tại trạm kiểm soát chân đê. Diện tích 784,7 ha rừng được chia thành từng lô riêng biệt cho từng thành viên chịu trách nhiệm kiểm tra, báo cáo sự cố và phối hợp xử lý vi phạm.

Các hoạt động nhân tạo nào đang gây tác động tiêu cực nhất đến rừng ngập mặn địa phương? Tác động tiêu cực nhất gồm việc chăn thả tự do đàn gia súc hơn 300 con ăn mầm cây non, tình trạng chặt phá cây rừng cục bộ trong các đầm thủy sản, việc sử dụng ngư cụ lưới bát quái đánh bắt tận diệt và nguồn xả thải nước ao nuôi chưa qua lắng lọc.

Vì sao xã Thụy Trường được lựa chọn làm địa bàn nghiên cứu điển hình về rừng ngập mặn? Thụy Trường là xã ven biển có dải rừng già ngập mặn hơn 400 ha nguyên sinh lớn nhất châu thổ sông Hồng. Nằm tại ngã ba cửa sông Hóa và vịnh Bắc Bộ, nơi đây phản ánh rõ nét nhất sự tương tác phức tạp giữa chế độ thủy văn cửa sông, đa dạng sinh thái và hoạt động mưu sinh ven biển.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng quản lý và sử dụng 1.234,8 ha đất ngập mặn tại xã Thụy Trường, khẳng định vai trò sống còn của 784,7 ha rừng đối với phòng hộ đê biển và duy trì sinh kế cộng đồng.
  • Đánh giá chi tiết cơ cấu kinh tế ven biển, chỉ ra đóng góp to lớn của ngành thủy sản với giá trị sản xuất đạt 44 tỉ 770 triệu đồng năm 2016 cùng sự tham gia của gần 500 lao động đánh bắt tự nhiên.
  • Làm rõ cấu trúc phân cấp quản lý lâm nghiệp 3 cấp và phát hiện các xung đột môi trường then chốt như chăn thả gia súc, ngư cụ tận diệt và xả thải đầm nuôi.
  • Xây dựng thành công bản đồ phân vùng 5 cấp độ cung cấp dịch vụ hệ sinh thái bằng công nghệ MapInfo kết hợp điều tra xã hội học phân tầng trên 30 hộ dân.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, thể chế và sinh kế khả thi, tạo tiền đề để địa phương hoàn thiện chính sách đồng quản lý tài nguyên rừng bền vững trong giai đoạn 2020-2025.