CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Nghiên cứu về quản lý tổng hợp tài nguyên nước Nước là yếu tố quan trọng đối với phát triển kinh tế và xã hội, đồng thời cũng có chức năng cơ bản trong việc duy trì tính toàn vẹn của môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, nước chỉ là một trong số những nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng và các vấn đề về nước nói riêng chưa được xem xét một cách riêng biệt và cấp thiết.
Các nhà quản lý gặp khó khăn khi phải đưa ra những quyết định trong việc phân phối nước, cân đối nguồn nước cấp đang giảm dần giữa những nhu cầu đang ngày càng tăng. Những yếu tố quan trọng như thay đổi về nhân khẩu học và khí hậu làm tài nguyên nước trở nên căng thẳng hơn. Phương pháp tiếp cận phân mảng truyền thống không còn khả thi và cần có cách tiếp cận toàn diện hơn để quản lý TNN. Chính vì vậy, tiếp cận Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) mà hiện nay đã được chấp nhận ở quy mô quốc tế như một giải pháp nhằm hướng đến việc quản lý hiệu quả, công bằng và bền vững tài nguyên nước có hạn của thế giới và giải quyết những yêu cầu liên quan đến tranh chấp (Cục Thông tin KH&CN quốc gia, 2015).
Đã có nhiều cuộc hội nghị, hội thảo ở cả tầm khu vực và Quốc tế để thảo luận xung quanh các chủ đề về nước như: Hội nghị thượng định về nước năm 1992 tại Rio với chủ đề “Nước và môi trường”; Diễn đàn nước thế giới lần thứ nhất tại Marrakech (Marocco) năm 1997 với chủ đề “Tầm nhìn dài hạn về nước, cuộc sống và môi trường cho thế kỷ 21”; Diễn đàn nước thế giới tại Hague (Hà Lan) năm 2000 với chủ đề “Nước là công việc của tất cả mọi người”; Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tại Johannesburg năm 2002 “Nước là một trong năm chủ đề quan trọng nhất của thế giới ”; Diễn đàn nước thế giới lần thứ ba tại Kyoto (Nhật Bản) với các chủ đề thảo luận như: Quản lý tổng hợp nguồn nước và quản lý lưu vực sông; nước và khí hậu; nước và nông nghiệp; khoa học công nghệ và quản lý nước,. Tại Hội nghị về Nước và Môi trường tháng 1/1992 tại Dublin, 4 nguyên tắc về quản lý tổng hợp tài nguyên nước (QLTHTNN) đã được đưa ra (gọi tắt là 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên tắc Dublin). Những nguyên tắc này đã phản ánh sự thay đổi nhận thức về tài nguyên nước. Các nguyên tắc sau đó đã được hoàn thiện trong những hội nghị tiếp theo đang được coi là nền tảng của công tác quản lý tổng hợp nguồn nước.
Nguyên tắc chung để quản lý tài nguyên nước là “Quản lý tổng hợp". Trong nghiên cứu quản lý tổng hợp tài nguyên nước, có một số hướng nghiên cứu phổ biến như: quản lý tổng hợp lưu vực sông, quản lý tổng hợp đới bờ biển hay quản lý tổng hợp vùng bờ. - Nghiên cứu quản lý tổng hợp lưu vực sông: Quản lý lưu vực sông là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới trong nửa cuối của thế kỷ 20 và phát triển rất mạnh trong vài thập kỷ gần đây nhằm đối phó với những thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm và suy thoái các nguồn tài nguyên và môi trường của các lưu vực sông. Hiện nay trên thế giới đã có hàng trăm các tổ chức quản lý lưu vực sông được thành lập để quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan khác trên lưu vực sông, tối đa hoá lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng nhưng không làm tổn hại đến tính bền vững của hệ thống môi trường trọng yếu của lưu vực, duy trì các điều kiện môi trường sống lâu bền cho con người.
Trên thế giới, kể từ sau Hội nghi Dublin và Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và phát triển của thế giới họp tại Rio de janero (Brasin, 1992), phần lớn các nước trên thế giới đều trong tiến trình thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước (QLTHTNN) với việc lấy lưu vực sông làm đơn vị quản lý nước càng được chú trọng và được coi là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng nước, điều phối và giải quyết tốt các mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước giữa các vùng, các khu vực thượng hạ lưu của lưuvực sông. - Nghiên cứu quản lý tổng hợp đới bờ biển: Quản lý tổng hợp đới bờ biển (QLTHĐBB, ICZM) là một chương trình tạo dựng nhằm quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đới bờ biển, có sự tham gia liên kết của tất cả các ngành kinh tế bị tác động, các cơ quan chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. QLTHĐBB là mẫu hình mới nhất về quản lý các đới bờ biển, liên kết hoạt động đối tác, tập hợp các bên có quyền lợi, là một quá trình phối hợp và các hoạt động 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không trùng lặp. Nó bao gồm việc đánh giá toàn diện, đặt ra các mục tiêu, quy hoạch và quản lý hệ thống vùng bờ và tài nguyên, có xét đến các đặc điểm lịch sử, văn hoá và truyền thống, mâu thuẫn lợi ích và sử dụng; đó là một quá trình liên tục và tiến hoá nhằm đạt tới sự phát triển bền vững.
QLTHĐBB là một quá trình động và liên tục, nhờ đó các quyết định được đưa ra nhằm sử dụng, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, tài nguyên bờ và biển. Theo Cộng đồng châu Âu (1999), QLTHĐBB là một quá trình động, đa năng và lặp lại nhằm phát triển quản lý bền vững đới bờ biển. Nó gồm một số chu kỳ lặp lại, mà một chu kỳ đầy đủ bắt đầu từ thu thập thông tin, lập quy hoạch (theo nghĩa rộng nhất), ra quyết định, quản lý và giám sát thực hiện và kết thúc bằng đánh giá thực hiện. QLTHVBB có sự tham gia và hợp tác được đồng thuận của tất cả các bên có lợi ích để đạt được các mục tiêu xã hội ở một đới bờ biển xác định và thực thi các hành động nhằm hướng tới các mục đích này.
Về lâu dài, QLTHĐBB tiến tới sự cân bằng về các mục tiêu môi trường, kinh tế, xã hội, văn hoá và nghỉ dưỡng, nằm trong phạm vi của quá trình tự nhiên. “Tổng hợp” ở đây mang nghĩa tổng hợp các mục tiêu và lợi ích, tổng hợp các cách thức cần thiết để đạt mục tiêu; tổng hợp mọi lĩnh vực chính sách và mọi ngành liên quan; tổng hợp về không gian, gồm cả các phần biển và đất liền của vùng quản lý (Tổng cục Biển và Hải đảo, 2015). Nghiên cứu về quản lý nhà nước dưới góc độ quản lý tổng hợp Quản lý tổng hợp là nền tảng để quản lý thống nhất các hợp phần tự nhiên và các hoạt động khai thác, sử dụng của con người, đảm bảo phát triển bền vững. Tiếp cận quản lý tổng hợp là sự thống nhất về không gian địa lý, thể chế chính sách, quy hoạch phát triển và quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên.
Đồng thời cũng là sự thống nhất về cơ chế tài chính bền vững cho hoạt động quản lý vùng lãnh thổ trên mọi phương diện khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên, môi trường. Như vậy, quản lý tổng hợp sẽ đảm bảo cho việc khai thác, sử dụng và phát triển toàn diện, bền vững tài nguyên (thiên nhiên và nhân văn) cũng như bảo vệ môi trường. Tiếp cận quản lý tổng hợp là tiếp cận hệ thống và dựa vào hệ sinh thái (Đoàn Thị Thanh Mỹ, 2016). 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý nhà nước dưới góc độ quản lý tổng hợp là sự quản lý về mặt hành chính nhà nước của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua các thể chế pháp lý nhằm điều hòa, phối hợp tốt giữa các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong việc tham gia vào quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sử dụng và khai thác, bảo vệ tài nguyên, môi trường phù hợp với định hướng, yêu cầu phát triển bền vững, đồng thời bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia (Đoàn Thị Thanh Mỹ, 2016).
Bản chất của phương thức quản lý nhà nước tổng hợp là việc nâng cao chất lượng quản lý phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững thông qua việc dân chủ hóa các quá trình quản lý (từ hoạch định đến thực thi chính sách), dựa trên việc xác lập một cơ chế quản lý có sự tham gia tích cực, bình đẳng của các cộng đồng gắn với môi trường để chia sẻ và phát triển các lợi ích kinh tế giữa các ngành, lĩnh vực, các địa phương một cách hài hòa, đồng thời vẫn bảo đảm tính thống nhất về lợi ích quốc gia (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015). Trong quản lý tổng hợp, nhân tố cộng đồng không chỉ là đối tượng quản lý mà còn là đối tác quản lý của chính quyền, có mối quan hệ bình đẳng về quyền và lợi ích mà chính quyền địa phương phải tôn trọng, bảo đảm thực hiện dân chủ, tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý. Có thể nói, quản lý nhà nước tổng hợp là phương thức quản lý dựa trên quá trình hoạch định, thỏa thuận và đi đến thống nhất trong việc chia sẻ lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường nhằm quản lý phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững. Nếu làm tốt các mặt tổng hợp trên trong quan hệ hài hoà giữa ba thành tố kinh tế - xã hội – môi trường, chúng ta sẽ đạt được sự quản lý bền vững.
Cơ sở lý luận công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước 1. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý nhà nước về tài nguyên nước Từ các cách tiếp cận khác nhau, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý như: Quản lý là nghệ thuật nhằm đạt mục đích thông qua nỗ lực của người khác; quản lý là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm đưa ra các quyết định; quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của các cộng sự trong cùng một tổ chức; quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt đuợc những 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mục tiêu của tổ chức.