Tổng quan nghiên cứu

Sông Đào tại Nam Định là một phân lưu quan trọng dài 33 km nối liền sông Hồng và sông Đáy, giữ vai trò huyết mạch cung cấp 75.000 m3/ngày đêm nước sinh hoạt cho hơn 98% dân số thành phố Nam Định với quy mô 249.865 người và mật độ dân cư lên tới 5.381 người/km2. Tuy nhiên, sự phát triển công nghiệp và đô thị hóa nhanh chóng với hơn 121 cơ sở sản xuất tại Khu công nghiệp Hòa Xá và 64 doanh nghiệp tại Cụm công nghiệp An Xá đang tạo áp lực nặng nề lên nguồn nước mặt. Dòng sông vừa là nguồn cấp nước chính vừa phải tiếp nhận lượng lớn nước thải đô thị và công nghiệp qua các cửa xả lớn như trạm bơm Kênh Gia với công suất 43.000 m3/h và trạm bơm Cốc Thành.

Trước thực trạng suy giảm chất lượng nước và sự thiếu hụt cơ chế tham gia của người dân địa phương, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng môi trường nước mặt sông Đào, nhận diện các nguồn thải trọng yếu và xây dựng mô hình quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng (CBCM). Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đoạn sông chảy qua địa phận thành phố Nam Định và các vùng phụ cận, khảo sát trên địa bàn 8 xã, phường trong giai đoạn từ tháng 4/2015 đến tháng 10/2015 kết hợp chuỗi dữ liệu quan trắc định kỳ từ năm 2010 đến năm 2015.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm về mức độ ô nhiễm của các thông số hóa lý, đồng thời thiết lập giải pháp chuyển giao quyền quản lý và nâng cao 100% mức độ sẵn sàng tham gia bảo vệ nguồn nước của người dân bản địa, góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước cho toàn khu vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem Approach) trong quản trị môi trường kết hợp với Lý thuyết Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (Community-Based Resource Management - CBRM). Cách tiếp cận hệ sinh thái đặt con người và hoạt động kinh tế - xã hội vào trung tâm của các quyết định quản lý nhằm cân bằng giữa khai thác và bảo tồn. Mô hình tiến trình 9 bước tham gia dự án bảo tồn của Isobel W. Heathcote (1998) và cấu trúc 4 chuẩn mực cộng đồng của Gene Barrett (2001) gồm địa điểm lãnh thổ, quyền lợi kinh tế, luật tục hương ước và bản sắc tập thể được lấy làm nền tảng xây dựng khung phân tích.

Khung lý thuyết của đề tài xoay quanh 5 khái niệm cốt lõi:

  • Ô nhiễm môi trường nước mặt: Hiện tượng suy giảm các tiêu chuẩn hóa lý, sinh học do chất thải nhân tạo.
  • Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (CBCM): Cơ chế trao quyền cho người sử dụng trực tiếp trở thành chủ thể quản lý, vận hành và giám sát tài nguyên.
  • Nguồn gây ô nhiễm tập trung (có địa chỉ) và nguồn phân tán (không có địa chỉ): Phân loại nguồn thải dựa trên vị trí cửa xả và phương thức phát tán chất ô nhiễm.
  • Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA): Phương pháp học tập và hành động có sự can thiệp trực tiếp của cư dân địa phương.
  • Sức tải môi trường: Khả năng tiếp nhận chất thải của lưu vực mà không làm biến đổi cấu trúc hệ sinh thái nước mặt.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ dữ liệu sơ cấp qua điều tra khảo sát thực tế và dữ liệu thứ cấp từ chuỗi quan trắc môi trường giai đoạn 2010 - 2015 của Trung tâm Quan trắc và Phân tích Tài nguyên Môi trường tỉnh Nam Định, Chi cục Bảo vệ Môi trường cùng số liệu thống kê kinh tế - xã hội của tỉnh.

Nghiên cứu thực hiện chọn mẫu điều tra xã hội học với cỡ mẫu 60 hộ gia đình phân bố tại 6 phường (Trần Tế Xương, Vị Hoàng, Phan Đình Phùng, Cửa Đông, Trần Quang Khải, Cửa Nam) và 2 xã (Nam Phong, Nam Vân) ven sông Đào. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng dựa trên các tiêu chí về vị trí địa lý tả ngạn - hữu ngạn, mức thu nhập, đa dạng nghề nghiệp và ưu tiên tỷ lệ phụ nữ tham gia. Lý do chọn mẫu này nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các nhóm dân cư trực tiếp hưởng lợi và chịu tác động từ nguồn nước sông.

Về phương pháp phân tích, luận văn tích hợp công cụ Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), ma trận SWOT và biểu đồ Venn để phân tích sự tương tác và trách nhiệm của các bên liên quan. Việc lựa chọn công cụ này giúp làm rõ nhận thức bản địa và các rào cản xã hội mà các phép đo kỹ thuật không thể hiện được. Đồng thời, các mẫu nước được lấy và phân tích theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 6663-1:2011, TCVN 6001-1:2008, TCVN 6491-1999) và so sánh đối chiếu với Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2008/BTNMT cột A2. Tiến trình nghiên cứu được triển khai từ tháng 4/2015 đến tháng 10/2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả quan trắc định kỳ giai đoạn 2010 - 2015 cho thấy chất lượng nước mặt sông Đào có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng trên diện rộng. Hàm lượng oxy hóa học (COD) trung bình tại các điểm quan trắc vượt quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT cột A2 từ 1,8 đến 2,7 lần. Thông số chất rắn lơ lửng (TSS) vượt từ 1,1 đến 1,6 lần. Đáng chú ý, nồng độ Tổng dầu mỡ khoáng vượt ngưỡng cho phép từ 2 đến 9,5 lần, đạt giá trị đỉnh điểm 0,19 mg/l vào năm 2013 trước khi giảm nhẹ về 0,04 mg/l vào năm 2014.

Thứ hai, tại 7 vị trí cửa lấy nước đầu vào của các trạm cấp nước sinh hoạt trên địa bàn các huyện ven sông, chất lượng nước mặt đều ghi nhận tình trạng vượt chuẩn. Cụ thể, nồng độ COD dao động từ 23 đến 27 mg/l (vượt 1,53 đến 1,8 lần ngưỡng giới hạn 15 mg/l), nồng độ nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) dao động từ 11 đến 14 mg/l (vượt 1,83 đến 2,33 lần giới hạn 6 mg/l), và hàm lượng Coliform tại các điểm lấy nước dao động từ 3.000 đến 3.700 MPN/100ml.

Thứ ba, nghiên cứu đã định lượng tải lượng phát thải từ các nguồn tập trung và phân tán. Khu công nghiệp Hòa Xá xả thải khoảng 3.200 m3/ngày đêm với 2/3 lượng nước thải dẫn về trạm bơm Cốc Thành và 1/3 dẫn về trạm bơm Kênh Gia. Cụm công nghiệp An Xá phát sinh 350 m3 nước thải/ngày đêm. Về nguồn thải sinh hoạt, 100% hộ dân phát sinh nước thải sinh hoạt nhưng mới chỉ có 52% số hộ kết nối với mạng lưới cống thoát nước chung của thành phố, 48% số hộ còn lại (chủ yếu bên tả ngạn sông Đào) xả trực tiếp ra mương rãnh hở trước khi đổ ra sông.

Thứ tư, kết quả điều tra xã hội học ghi nhận 76,7% số hộ dân đánh giá sông Đào giữ vai trò rất quan trọng đối với đời sống kinh tế và sinh hoạt. Đa số người dân nhận định đúng nguồn ô nhiễm chính đến từ nước thải khu dân cư (98%), nhà máy công nghiệp (92%) và chất thải rắn (93%). Đặc biệt, 100% hộ gia đình được phỏng vấn khẳng định sẵn sàng tham gia các lớp tập huấn, đóng góp ý kiến và tham gia trực tiếp vào mô hình quản lý nguồn nước dựa vào cộng đồng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm chất lượng nước sông Đào là hệ quả tổng hợp của sự quá tải hạ tầng đô thị và hiệu quả xử lý nước thải công nghiệp chưa đạt yêu cầu. Mật độ dân số nội đô cao 5.381 người/km2 kết hợp với việc 48% hộ dân khu vực ngoại đê chưa có hệ thống thu gom nước thải đạt chuẩn khiến lượng chất hữu cơ xả thẳng vào dòng chảy luôn ở mức cao. Thêm vào đó, mật độ giao thông thủy dày đặc với hơn 200 lượt tàu chở hàng công suất lớn và hơn 100 thuyền đánh cá lưu thông mỗi ngày là nguyên nhân trực tiếp làm hàm lượng Tổng dầu mỡ vượt chuẩn tới 9,5 lần.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua các biểu đồ đường và biểu đồ cột đa trục. Xu hướng biến thiên theo thời gian phản ánh rõ nét tác động của việc điều chỉnh hạ tầng thủy lợi: nồng độ các chất ô nhiễm trên sông Đào giai đoạn sau tháng 6/2013 có xu hướng giảm rõ rệt so với giai đoạn 2010 - 2013 do trạm bơm Quán Chuột chuyển hướng bơm nước thải sinh hoạt sang sông Hồng qua kênh T3-11 thay vì xả trực tiếp vào sông Đào. Sự tương tác giữa các bên liên quan được mô hình hóa qua sơ đồ Venn cho thấy Chi cục Bảo vệ Môi trường và các doanh nghiệp có mức độ tác động lớn nhưng tính gắn kết với cộng đồng dân cư trực tiếp thụ hưởng nguồn nước còn lỏng lẻo.

So sánh với các nghiên cứu tại các lưu vực sông khu vực châu thổ sông Hồng, mô hình quản lý hành chính từ trên xuống (top-down) thuần túy thường kém hiệu quả trong việc kiểm soát các nguồn thải phân tán. Kết quả luận văn tái khẳng định rằng việc tích hợp công cụ kinh tế, kỹ thuật với cơ chế tự quản cộng đồng là chìa khóa then chốt để duy trì tải lượng chất thải trong giới hạn tự làm sạch của sông Đào.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phục hồi chất lượng nước và thiết lập cơ chế kiểm soát bền vững, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm với các chỉ số mục tiêu cụ thể:

  • Thành lập Mạng lưới Giám sát Nước mặt Dựa vào Cộng đồng (Community Water Monitoring Groups) tại 8 xã, phường ven sông Đào. Mục tiêu hoàn thành tập huấn nghiệp vụ quan trắc nhanh và kỹ năng giám sát cho 100% tổ trưởng dân phố, đại diện Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên trong giai đoạn 2016 - 2017; duy trì lịch tuần tra 2 tuần/lần nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi xả thải trái phép. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định phối hợp cùng Chi cục Bảo vệ Môi trường.

  • Xây dựng và ban hành Quy ước bảo vệ nguồn nước cấp thôn/xã gắn với cơ chế chia sẻ lợi ích và trách nhiệm dựa trên sơ đồ phân tích các bên liên quan. Target metric: Xóa bỏ hoàn toàn 100% các điểm đổ rác tự phát ven đê tả sông, giảm 30% lượng chất thải rắn phát sinh tại hộ gia đình đổ ra vườn hoặc bờ sông trong vòng 12 tháng kể từ khi áp dụng. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân các xã Nam Phong, Nam Vân và các phường ven sông phối hợp cùng các tổ chức đoàn thể.

  • Nâng cấp kỹ thuật và kiểm soát nghiêm ngặt lưu lượng 3.200 m3/ngày đêm nước thải tại Khu công nghiệp Hòa Xá và 350 m3/ngày đêm tại Cụm công nghiệp An Xá. Target metric: Đảm bảo 100% các cơ sở sản xuất có nước thải công nghiệp phải qua xử lý đạt chuẩn QCVN trước khi xả vào hệ thống kênh tiêu dẫn tới trạm bơm Kênh Gia và Cốc Thành, hoàn thành việc lắp đặt hệ thống quan trắc tự động liên tục trước năm 2018. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Nam Định và các doanh nghiệp hạ tầng.

  • Đầu tư hoàn thiện hệ thống cống thu gom và trạm xử lý nước thải sinh hoạt phân tán cho khu vực dân cư bên tả ngạn sông Đào. Target metric: Nâng tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý sơ bộ từ mức 52% lên trên 85% vào năm 2020. Chủ thể thực hiện: Sở Xây dựng phối hợp Công ty Môi trường Đô thị và Công ty Cấp thoát nước Nam Định.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu khoa học và thực tiễn giá trị cao cho các nhóm đối tượng chuyên ngành:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và chính quyền địa phương: Lãnh đạo và cán bộ chuyên môn tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định, Chi cục Bảo vệ Môi trường, Phòng Tài nguyên Môi trường thành phố Nam Định. Use case: Khai thác số liệu tải lượng ô nhiễm và cơ cấu phát thải để xây dựng quy hoạch phân vùng môi trường nước mặt, lập phương án điều tiết các trạm bơm tiêu thoát lũ và rà soát cấp phép xả thải công nghiệp.

  • Đơn vị quản lý vận hành cấp nước và công trình thủy lợi: Ban giám đốc, kỹ sư công nghệ tại Nhà máy nước Nam Định, Công ty TNHH Một thành viên Khai thác công trình thủy lợi. Use case: Ứng dụng số liệu quan trắc chất lượng nước đầu vào tại 7 trạm cấp nước để chủ động điều chỉnh hóa chất khử trùng, tối ưu hóa quy trình lắng lọc và nâng cao chất lượng nước sinh hoạt cung cấp cho hơn 249.000 cư dân.

  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Môi trường: Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Xã hội học Phát triển. Use case: Sử dụng luận văn như một công trình mẫu về phương pháp kết hợp liên ngành giữa quan trắc kỹ thuật hóa lý theo chuẩn TCVN/QCVN với phương pháp đánh giá có sự tham gia PRA, ma trận SWOT và phân tích sơ đồ Venn trong nghiên cứu lưu vực sông.

  • Các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức đoàn thể xã hội: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức hoạt động vì môi trường. Use case: Vận dụng mô hình 9 bước can thiệp cộng đồng của Isobel W. Heathcote để thiết kế các dự án can thiệp phát triển, huy động nguồn lực xã hội hóa và thành lập các tổ đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên tại các lưu vực sông nông thôn và đô thị hóa.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cần áp dụng phương pháp quản lý dựa vào cộng đồng đối với sông Đào? Do đặc thù sông Đào tiếp nhận lượng lớn nước thải phân tán từ 48% hộ dân chưa có hệ thống thoát nước chuẩn và rác thải nông nghiệp. Cơ quan chức năng không đủ nhân lực giám sát từng mét bờ sông, vì vậy việc trao quyền cho 100% người dân bản địa tự giám sát, phát hiện vi phạm và cùng bảo vệ nguồn nước là giải pháp tiết kiệm chi phí, phản ứng nhanh và bền vững nhất.

Chất lượng nước sông Đào tại các họng thu của các nhà máy nước hiện nay như thế nào? Kết quả phân tích mẫu nước tại 7 trạm cấp nước sinh hoạt cho thấy nguồn nước đã bị ô nhiễm hữu cơ và cặn lơ lửng. Thông số COD vượt quy chuẩn QCVN 08:2008 cột A2 từ 1,53 đến 1,8 lần, nồng độ BOD5 vượt từ 1,83 đến 2,33 lần và chất rắn lơ lửng vượt từ 1,17 đến 1,5 lần, đòi hỏi các đơn vị cấp nước phải tăng cường công đoạn tiền xử lý trước khi cấp cho sinh hoạt.

Trạm bơm Kênh Gia và trạm bơm Quán Chuột ảnh hưởng như thế nào đến nguồn nước? Trạm bơm Kênh Gia với công suất 43.000 m3/h bơm trực tiếp nước thải sinh hoạt đô thị và 1/3 nước thải từ KCN Hòa Xá ra hạ lưu sông Đào, khiến các chỉ số Coliform, COD và BOD5 khu vực này tăng vọt. Trong khi đó, việc điều chuyển hướng bơm của trạm Quán Chuột sang sông Hồng từ sau tháng 6/2013 đã giúp giảm tải đáng kể nồng độ chất ô nhiễm trên sông Đào.

Phương pháp PRA đóng vai trò gì trong việc xây dựng mô hình quản lý nước sông Đào? Phương pháp PRA với các công cụ phỏng vấn 60 hộ dân, sơ đồ Venn và ma trận SWOT giúp giải mã chính xác thực trạng xả thải và nhu cầu của cộng đồng. Kết quả PRA chỉ ra 27% hộ dân vẫn xả rác ra vườn và khẳng định 100% hộ dân đồng thuận tham gia bảo vệ nguồn nước, cung cấp nền tảng xã hội vững chắc để chuyển giao quyền lực quản trị.

Những thông số ô nhiễm nào trên sông Đào cần được kiểm soát khẩn cấp nhất? Các thông số cần ưu tiên kiểm soát khẩn cấp gồm có COD và BOD5 vượt quy chuẩn từ 1,8 đến 2,7 lần, Tổng dầu mỡ khoáng vượt ngưỡng cho phép tới 9,5 lần và vi sinh Coliform tại các cửa xả trạm bơm. Việc kiểm soát này cần thực hiện thông qua cải tiến trạm xử lý nước thải tập trung KCN Hòa Xá công suất 3.200 m3/ngày đêm và quản lý chặt chẽ hơn 200 tàu bè lưu thông mỗi ngày.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước mặt sông Đào, chỉ rõ nguy cơ ô nhiễm hữu cơ với hàm lượng COD vượt quy chuẩn QCVN 08:2008 cột A2 từ 1,8 đến 2,7 lần và BOD5 vượt tới 2,33 lần tại các điểm lấy nước cấp sinh hoạt.
  • Nghiên cứu định vị chính xác các nguồn gây ô nhiễm trọng điểm gồm 3.200 m3/ngày đêm nước thải KCN Hòa Xá, 350 m3/ngày đêm nước thải CCN An Xá cùng 48% lượng nước thải sinh hoạt dân cư tả ngạn chưa qua thu gom tiêu chuẩn.
  • Đề tài chứng minh tính cấp thiết và mức độ khả thi tuyệt đối của mô hình quản lý dựa vào cộng đồng thông qua kết quả 100% hộ dân khảo sát sẵn sàng tham gia giám sát và vận hành mô hình bảo tồn dòng sông.
  • Cung cấp hệ thống phương pháp luận liên ngành chuẩn mực, kết hợp thành công giữa phân tích hóa lý môi trường hiện đại và các công cụ xã hội học có sự tham gia như PRA, SWOT, sơ đồ Venn.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, thể chế và xã hội đồng bộ nhằm kiểm soát nguồn thải tập trung, hoàn thiện hạ tầng tiêu thoát nước và trao quyền tự quản cho cộng đồng dân cư địa phương.

Đóng góp chính của luận văn là đã chuyển hóa các cơ sở lý thuyết quản trị tài nguyên phức tạp thành mô hình đồng quản lý nước mặt cấp cơ sở có tính ứng dụng cao, giải quyết hài hòa bài toán xung đột lợi ích giữa phát triển công nghiệp và an ninh nguồn nước sinh hoạt cho hơn 249.000 người dân thành phố Nam Định.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan quản lý triển khai thí điểm mạng lưới giám sát cộng đồng trong giai đoạn 2016 - 2018 và hoàn thành đồng bộ hạ tầng thu gom nước thải sinh hoạt trước năm 2020. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện cộng đồng hãy chủ động ứng dụng và nhân rộng kết quả của công trình này nhằm xây dựng một cơ chế quản trị nước mặt bền vững và hiệu quả.