Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Trà Khúc giữ vị trí huyết mạch đối với an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi. Với tổng diện tích lưu vực đạt 3.240 km², chiếm khoảng 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, hệ thống sông này cung cấp nguồn nước mặt thiết yếu cho hơn 1,21 triệu dân cư, hàng chục nghìn hecta đất canh tác nông nghiệp cùng các trung tâm công nghiệp trọng điểm như Khu kinh tế Dung Quất. Mặc dù tổng lượng dòng chảy trung bình nhiều năm tại trạm thủy văn Sơn Giang đạt mức dồi dào hơn 6 tỷ m³/năm (tương đương lưu lượng bình quân 194 m³/s), tài nguyên nước trong khu vực lại chịu sự phân phối không đồng đều sâu sắc theo không gian và thời gian.

Lượng mưa bình quân năm dao động từ 2.300 mm đến 4.000 mm nhưng có tới 70% đến 80% tổng lượng mưa tập trung dồn dập vào 4 tháng mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 12), trong đó riêng hai tháng 10 và 11 chiếm 40% đến 50%. Tình trạng này dẫn đến nghịch lý nghiêm trọng: lũ lụt xói mòn khốc liệt trong mùa mưa lũ và khô hạn, thiếu nước cục bộ gay gắt trong 8 tháng mùa kiệt (từ tháng 1 đến tháng 8). Thêm vào đó, hiệu suất khai thác thực tế của 125 công trình thủy lợi trên địa bàn chỉ đạt khoảng 32.490 ha so với năng lực thiết kế 63.545 ha, tức chỉ phát huy được 51,1% công suất.

Nghiên cứu được triển khai nhằm mục tiêu đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên nước, xác định nhu cầu dùng nước tổng hợp của các ngành kinh tế, đồng thời ứng dụng công nghệ mô hình hóa tiên tiến để tính toán cân bằng nước cho giai đoạn hiện trạng và dự báo đến năm 2020. Phạm vi không gian nghiên cứu bao phủ toàn bộ lưu vực sông Trà Khúc từ vùng thượng nguồn huyện Kon Plong (tỉnh Kon Tum) qua các huyện Sơn Tây, Sơn Hà, Ba Tơ, Trà Bồng xuống vùng hạ lưu thuộc thành phố Quảng Ngãi, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Bình Sơn và Mộ Đức. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học định lượng vững chắc giúp các nhà hoạch định chính sách tối ưu hóa việc phân bổ tài nguyên nước và giảm thiểu rủi ro sinh thái.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) theo Tuyên bố Dublin và Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janeiro năm 1992, lấy lưu vực sông làm đơn vị quản lý không gian thống nhất nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển kinh tế và tính bền vững sinh thái. Về mặt toán học, nghiên cứu vận dụng định luật bảo toàn vật chất thông qua phương trình cân bằng nước hệ thống tổng quát: hiệu số giữa tổng lượng nước đến (bao gồm lượng mưa, ngưng tụ, dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm đi vào) và tổng lượng nước đi (gồm bốc thoát hơi nước, dòng chảy ra và lượng nước cấp cho các hộ tiêu thụ) tương ứng với độ biến thiên trữ lượng nước trên lưu vực trong một khoảng thời gian tính toán.

Bên cạnh đó, các khái niệm cốt lõi về hệ thống nguồn nước, phân phối dòng chảy kiệt, lưu lượng đỉnh lũ và các nút cân bằng hệ thống được chuẩn hóa chặt chẽ. Cấu trúc mô hình phân tích mạng lưới sông bao gồm 7 loại nút chuyên biệt: nút đơn, nút hứng nước từ lưu vực, nút chuyển nước, nút tưới nông nghiệp, nút cấp nước sinh hoạt - công nghiệp, nút hồ chứa và nút thủy điện nhằm mô phỏng chính xác sự tương tác phức tạp giữa các thành phần kinh tế - sinh thái.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào của luận văn được thu thập từ chuỗi quan trắc khí tượng - thủy văn đồng bộ 30 năm (từ năm 1979 đến năm 2008) tại 3 trạm thủy văn chính (Sơn Giang, Trà Khúc, Thạch Nham) và 7 trạm đo mưa phân bố trên lưu vực (Giá Vực, Sơn Giang, Trà Khúc, Ba Tơ, Mộ Đức, Đức Phổ và thành phố Quảng Ngãi). Cỡ mẫu dữ liệu kinh tế - xã hội bao gồm số liệu thống kê chi tiết của 13 huyện thị, hiện trạng 125 công trình thủy lợi (29 hồ chứa, 94 đập dâng, 2 trạm bơm) và chỉ tiêu sử dụng nước của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản và sinh hoạt tính đến năm 2012, với tầm nhìn dự báo năm 2020.

Phương pháp chọn mẫu quan trắc được thực hiện theo nguyên tắc phân tầng địa lý đại diện, bao quát từ vùng núi cao thượng nguồn (độ cao trên 1.000 m) đến vùng đồng bằng châu thổ ven biển có độ cao dưới 20 m. Lý do lựa chọn mô hình toán MIKE BASIN của Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI) kết hợp hệ thống thông tin địa lý ArcView GIS là nhờ khả năng số hóa trực quan mạng lưới sông dài 135 km, tích hợp dữ liệu số hóa độ cao DEM và xử lý linh hoạt chuỗi dữ liệu thủy văn đa chiều theo thời gian thực, cho phép mô phỏng chi tiết các kịch bản cân bằng nước với tần suất thiết kế P = 75% và P = 85%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu phát hiện sự biến động dòng chảy cực đoan giữa các mùa và giữa các năm trên sông Trà Khúc. Dòng chảy mùa lũ tập trung trong 3 tháng (từ tháng 10 đến tháng 12) chiếm từ 65% đến 75% tổng lượng dòng chảy cả năm, với lưu lượng đỉnh lũ lịch sử quan trắc tại trạm Sơn Giang đạt mức kỷ lục 18.400 m³/s vào ngày 3 tháng 12 năm 1986. Ngược lại, mùa kiệt kéo dài suốt 8 tháng nhưng chỉ đóng góp khoảng 30% đến 35% tổng lượng nước năm, trong đó dòng chảy kiệt nhất rơi vào tháng 4 với lưu lượng trung bình nhiều năm chỉ đạt 50,3 m³/s, thậm chí vào tháng 4 năm 1983 lưu lượng dòng chảy kiệt giảm sâu xuống mức 21,6 m³/s, ứng với mô đun dòng chảy chỉ 7,98 l/s.km². Sự chênh lệch lưu lượng giữa tháng nhiều nước nhất (tháng 11 đạt 691 m³/s) và tháng ít nước nhất lên tới gần 14 lần.

Thứ hai, kết quả kiểm kê hiện trạng sử dụng nước cho thấy sự mất cân đối lớn giữa năng lực thiết kế và khả năng phục vụ thực tế của hạ tầng thủy lợi. Toàn bộ 125 công trình trên lưu vực có năng lực thiết kế cấp nước tưới cho 63.545 ha, nhưng diện tích phục vụ thực tế chỉ đạt 32.490 ha, đạt tỷ lệ 51,1%. Điển hình là đại công trình đập dâng Thạch Nham dù được thiết kế tưới cho 50.000 ha (38.000 ha tự chảy và 12.000 ha tạo nguồn qua 87,6 km kênh chính Bắc và Nam), song hệ thống kênh cấp dưới và kênh nội đồng dài 636 km chưa đồng bộ dẫn đến tổn thất nước nghiêm trọng.

Thứ ba, mô phỏng cân bằng nước bằng mô hình MIKE BASIN ở tần suất P = 85% đã chỉ rõ tình trạng thiếu nước xảy ra gay gắt tại các tiểu lưu vực hạ lưu trong các tháng 3, 4, 5 và tháng 7. Tổng lượng nước thiếu hụt của các ngành sản xuất và sinh hoạt trong mùa cạn lên tới hàng chục triệu m³, đe dọa trực tiếp 49.000 ha lúa, hơn 5.000 ha mía và nhu cầu cấp nước đô thị, công nghiệp ngày càng gia tăng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng khan hiếm nước bắt nguồn từ lớp phủ thực vật thượng nguồn bị suy giảm (độ che phủ rừng chỉ đạt khoảng 29% và phần lớn là rừng nghèo), làm giảm khả năng điều tiết tự nhiên của lưu vực. Bên cạnh đó, tốc độ đô thị hóa nhanh và việc hình thành các khu kinh tế tập trung làm gia tăng áp lực nhu cầu nước vượt quá khả năng tự điều hòa của dòng chảy kiệt. Kết quả nghiên cứu có tính tương đồng cao với các công trình nghiên cứu trên hệ thống sông Thu Bồn và sông Ba, khẳng định tính quy luật khắc nghiệt của chế độ thủy văn miền Trung duyên hải.

Trong khuôn khổ luận văn, dữ liệu phân bổ dòng chảy và mức độ thiếu hụt tài nguyên nước được minh họa trực quan thông qua các bảng ma trận cân bằng nước tiểu vùng và biểu đồ cột so sánh nhu cầu dùng nước theo từng tháng tại các nút mạng lưới GIS. Cách tiếp cận này giúp lượng hóa chính xác dung tích thiếu hụt tại từng vị trí công trình, tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc để xây dựng phương án điều tiết liên hồ chứa.

Đề xuất và khuyến nghị

Để giải quyết triệt để bài toán thiếu nước mùa khô và kiểm soát ngập lụt mùa mưa trên lưu vực sông Trà Khúc, luận văn đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ:

Thứ nhất, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả các công trình điều tiết nguồn nước đầu mối. Cần tập trung vận hành khai thác tối đa dung tích toàn bộ 220 triệu m³ (dung tích hữu ích 200 triệu m³) của hồ chứa Nước Trong trên lưu vực 446 km², kết hợp điều tiết nhịp nhàng với đập dâng Thạch Nham. Đồng thời, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần đẩy nhanh tiến độ kiên cố hóa 636 km kênh mương nội đồng, phấn đấu nâng hiệu suất khai thác thực tế của hệ thống thủy lợi từ 51,1% lên 85% trước năm 2020.

Thứ hai, thiết lập quy trình vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực. Cần xây dựng quy chế phối hợp xả nước mùa cạn giữa các hồ thủy điện vùng thượng nguồn Kon Plong và các hồ thủy lợi phía hạ du, cam kết duy trì lưu lượng xả đáy sinh thái sau đập tối thiểu không thấp hơn 25 m³/s tại trạm Sơn Giang nhằm đẩy mặn tại cửa Cổ Lũy và bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh. Thời gian hoàn thiện quy chuẩn này cần đạt mốc năm 2018.

Thứ ba, thành lập Ban Quản lý Lưu vực sông Trà Khúc theo mô hình tổ chức lưu vực quốc tế. Cơ quan này đóng vai trò điều phối đa ngành giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường, chính quyền địa phương và các đại diện sử dụng nước (nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, dân sinh), áp dụng các công cụ kinh tế như cấp phép khai thác và thu phí bảo vệ môi trường để tái đầu tư bảo vệ rừng đầu nguồn với diện tích 154.130 ha đất lâm nghiệp.

Thứ tư, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm. Các hợp tác xã nông nghiệp và hộ dùng nước cần áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ cho 49.000 ha lúa và tưới nhỏ giọt trên 5.000 ha mía vùng gò đồi, giúp giảm từ 15% đến 20% định mức cấp nước mặt ruộng giai đoạn 2015 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên môn có giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính sau:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan quy hoạch (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Kon Tum): Sử dụng kết quả tính toán cân bằng nước và chuỗi số liệu thủy văn 30 năm để lập quy hoạch phân bổ tài nguyên nước, cấp phép khai thác nước mặt và xây dựng kịch bản ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn cấp tỉnh.

  2. Đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi (Công ty TNHH Một thành viên Khai thác Công trình Thủy lợi Quảng Ngãi): Tham khảo số liệu dòng chảy kiệt trung bình tháng (từ 50,3 m³/s đến 65 m³/s) và sơ đồ 7 nút cân bằng để tối ưu hóa quy trình đóng mở cống lấy nước tại hệ thống Thạch Nham và hồ Nước Trong, giảm thiểu thất thoát trên hệ thống kênh chính dài 87,6 km.

  3. Các viện nghiên cứu, trường đại học và học viên cao học chuyên ngành Thủy văn, Kỹ thuật tài nguyên nước: Sử dụng tài liệu như một nghiên cứu điển hình về phương pháp luận ứng dụng mô hình MIKE BASIN kết hợp ArcView GIS trong việc giải quyết bài toán cân bằng nước lưu vực sông phức tạp vùng ven biển miền Trung.

  4. Ban quản lý các khu công nghiệp, doanh nghiệp khai thác nước (Khu kinh tế Dung Quất, các nhà máy chế biến): Nắm bắt các dự báo về trữ lượng và mức độ thiếu hụt nguồn nước đến năm 2020 để chủ động xây dựng phương án cấp nước dự phòng, đầu tư hệ thống tuần hoàn tái sử dụng nước trong sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao lưu vực sông Trà Khúc có tổng lượng nước rất lớn nhưng vẫn đối mặt với nguy cơ hạn hán nghiêm trọng trong mùa khô?
    Tổng lượng dòng chảy của sông Trà Khúc đạt trên 6 tỷ m³/năm nhưng có tới 70% đến 80% lượng nước tập trung trong 4 tháng mùa mưa. Vào 8 tháng mùa khô, lượng dòng chảy chỉ chiếm khoảng 30% tổng lượng năm, với lưu lượng kiệt tháng 4 giảm sâu xuống 21,6 m³/s đến 50,3 m³/s, không đáp ứng kịp nhu cầu tưới tiêu và sinh hoạt.

  2. Mô hình MIKE BASIN mang lại những ưu thế vượt trội nào trong việc đánh giá cân bằng nước lưu vực sông Trà Khúc?
    Mô hình MIKE BASIN tích hợp trực tiếp trên nền tảng ArcView GIS, cho phép số hóa mạng lưới sông 135 km thành hệ thống 7 loại nút chức năng. Mô hình xử lý dữ liệu không gian DEM chuẩn xác, mô phỏng linh hoạt sự tương tác giữa hồ chứa, các kênh chuyển nước và hộ tiêu thụ theo chuỗi thời gian thực.

  3. Công trình đập dâng Thạch Nham và hồ Nước Trong có vai trò quyết định như thế nào đối với việc giải quyết bài toán nước?
    Đập dâng Thạch Nham kiểm soát diện tích lưu vực 2.836 km², giữ nhiệm vụ phân phối nước tưới cho 50.000 ha canh tác qua kênh chính Bắc (30,3 km) và kênh chính Nam (57,3 km). Hồ Nước Trong với dung tích hữu ích 200 triệu m³ đóng vai trò tích trữ lũ để bổ cập dòng chảy kiệt cho đập Thạch Nham trong các tháng khô cạn.

  4. Tần suất đảm bảo cấp nước P = 85% được áp dụng trong nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn như thế nào?
    Tần suất P = 85% là tiêu chuẩn thiết kế cấp nước thủy lợi cho các vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng. Khi tính toán cân bằng nước ở tần suất này, mô hình sẽ phản ánh chính xác mức độ thiếu hụt nguồn nước trong những năm khô hạn khắc nghiệt, giúp các nhà quản lý xây dựng kịch bản cấp nước an toàn.

  5. Giải pháp phi công trình quan trọng nhất được đề xuất trong luận văn là gì?
    Đó là việc thành lập Ban Quản lý Lưu vực sông Trà Khúc thống nhất nhằm chuyển đổi từ phương thức quản lý theo địa giới hành chính sang quản lý tổng hợp theo lưu vực sông, kết hợp áp dụng quy chế vận hành liên hồ chứa và chuyển đổi kỹ thuật tưới tiết kiệm nước nhằm giảm 15% đến 20% lượng nước mặt ruộng.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện đặc trưng khí tượng, thủy văn trên lưu vực sông Trà Khúc diện tích 3.240 km² với nguồn tài nguyên nước dồi dào trên 6 tỷ m³/năm nhưng phân bố phân hóa sâu sắc.
  • Lượng hóa chính xác sự bất đối xứng dòng chảy với mùa lũ chiếm 65% đến 75% lượng nước năm (đỉnh lũ 18.400 m³/s) và mùa kiệt kéo dài 8 tháng chỉ chiếm khoảng 30% (lưu lượng kiệt tháng 4 chỉ từ 21,6 m³/s đến 50,3 m³/s).
  • Ứng dụng thành công mô hình MIKE BASIN trên nền tảng ArcView GIS để mô phỏng mạng lưới 7 loại nút, chỉ rõ các điểm thiếu hụt nước tại hạ lưu ở tần suất P = 85%.
  • Nhận diện điểm nghẽn hạ tầng khi 125 công trình thủy lợi hiện có mới chỉ phát huy được 51,1% công suất thiết kế (32.490 ha so với 63.545 ha).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình khép kín, bao gồm khai thác hồ Nước Trong dung tích 220 triệu m³, kiên cố hóa 636 km kênh mương và thành lập Ban Quản lý lưu vực sông.

Đóng góp chính của luận văn là đã thiết lập cơ sở khoa học định lượng chuẩn xác và bộ công cụ mô hình hóa hiện đại phục vụ quản lý bền vững tài nguyên nước cho tỉnh Quảng Ngãi. Lộ trình triển khai các giải pháp cần tập trung hoàn thiện quy chế vận hành liên hồ chứa trước năm 2018 và đồng bộ hóa mạng lưới thủy lợi nội đồng vào năm 2020. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm hãy tham khảo toàn văn luận văn để khai thác chi tiết các bộ thông số thủy văn và quy trình tính toán chuyên sâu.