Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÀI NGUYÊN NƢỚC 1. Tài nguyên nƣớc 1. Khái niệm Tài nguyên nƣớc là các nguồn nƣớc mà con ngƣời sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau. Nƣớc đƣợc dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trƣờng hầu hết các hoạt động trên đều cần nƣớc ngọt.
Phân loại tài nguyên nước Tài nguyên nƣớc bao gồm nguồn nƣớc mặt, nƣớc mƣa, nƣớc dƣới đất, nƣớc biển. Nguồn nƣớc mặt, thƣờng đƣợc gọi là tài nguyên nƣớc mặt, tồn tại thƣờng xuyên hay không thƣờng xuyên trong các thuỷ vực ở trên mặt đất nhƣ: sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng và băng tuyết. Tài nguyên nƣớc sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, đƣợc sử dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất. 01] Do đó, tài nguyên nƣớc nói chung và tài nguyên nƣớc mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia.
- Nƣớc mặt: Nƣớc mặt là nƣớc trong sông, hồ hoặc nƣớc ngọt trong vùng đất ngập nƣớc. Nƣớc mặt đƣợc bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dƣơng, bốc hơi và thấm xuống đất. Lƣợng giáng thủy này đƣợc thu hồi bởi các lƣu vực, tổng lƣợng nƣớc trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác. Các yếu tố này nhƣ khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nƣớc và các hồ chứa 7 (LUAN.nong download by : skknchat@gmail.nong nhân tạo, độ thấm của đất bên dƣới các thể chứa nƣớc này, các đặc điểm của dòng chảy mặt trong lƣu vực, thời lƣợng giáng thủy và tốc độ bốc hơi địa phƣơng.
Tất cả các yếu tố này đều ảnh hƣởng đến tỷ lệ mất nƣớc. Tổng lƣợng nƣớc tại một thời điểm là vấn đề cần quan tâm. Một số đối tƣợng sử dụng nƣớc có nhu cầu nƣớc theo vụ. Ví dụ, trong mùa hè cần rất nhiều nƣớc để phục vụ cho nông nghiệp hoặc phát điện nhƣng trong mùa mƣa thì không cần nƣớc, vì vậy để cung cấp nƣớc tốt cho mùa hè thì cần một hệ thống trữ nƣớc trong suốt năm và xả nƣớc trong một khoảng thời gian ngắn.
Các đối tƣợng sử dụng nƣớc khác có nhu cầu dùng nƣớc thƣờng xuyên nhƣ nhà máy điện cần nguồn nƣớc để làm lạnh. Để cung cấp nƣớc cho các nhà máy điện, hệ thống nƣớc mặt chỉ cần đủ trong các bể chứa khi dòng chảy trung bình nhỏ hơn nhu cầu nƣớc của nhà máy. Nƣớc mặt tự nhiên có thể đƣợc tăng cƣờng thông qua việc cung cấp từ các nguồn nƣớc mặt khác bởi các kênh hoặc đƣờng ống dẫn nƣớc. Cũng có thể bổ cấp nhân tạo từ các nguồn khác, tuy nhiên số lƣợng không đáng kể.
Con ngƣời có thể làm cho nguồn nƣớc cạn kiệt và ô nhiễm.(không sử dụng đƣợc trong sinh hoạt ăn uống, tắm giặt.) - Dòng chảy ngầm: Trên suốt dòng sông, lƣợng nƣớc chảy về hạ nguồn thƣờng bao gồm hai dạng là dòng chảy trên mặt và chảy thành dòng ngầm trong các đá bị nứt nẻ (không phải nƣớc ngầm) dƣới các con sông. Đối với một số thung lũng lớn, yếu tố không quan sát đƣợc này có thể có lƣu lƣợng lớn hơn rất nhiều so với dòng chảy mặt. Dòng chảy ngầm thƣờng hình thành một bề mặt động lực học giữa nƣớc mặt và nƣớc ngầm thật sự. Nó nhận nƣớc từ nguồn nƣớc ngầm khi tầng ngậm nƣớc đã đƣợc bổ cấp đầy đủ và bổ sung nƣớc vào tầng nƣớc ngầm khi nƣớc ngầm cạn kiệt.
Dạng dòng chảy này phổ biến ở các khu vực karst do ở đây có rất nhiều hố sụt và dòng sông ngầm.nong download by : skknchat@gmail.nong - Nƣớc ngầm: Nƣớc ngầm hay còn gọi là nƣớc dƣới đất, là nƣớc ngọt đƣợc chứa trong các lỗ rỗng của đất hoặc đá. Nó cũng có thể là nƣớc chứa trong các tầng ngậm nƣớc bên dƣới mực nƣớc ngầm. Đôi khi ngƣời ta còn phân biệt nƣớc ngầm nông, nƣớc ngầm sâu và nƣớc chôn vùi. Nƣớc ngầm cũng có những đặc điểm giống nhƣ nƣớc mặt nhƣ: nguồn vào (bổ cấp), nguồn ra và chứa.
Sự khác biệt chủ yếu với nƣớc mặt là do tốc độ luân chuyển chậm (dòng thấm rất chậm so với nƣớc mặt), khả năng giữ nƣớc ngầm nhìn chung lớn hơn nƣớc mặt khi so sánh về lƣợng nƣớc đầu vào. Sự khác biệt này làm cho con ngƣời sử dụng nó một cách vô tội vạ trong một thời gian dài mà không cần dự trữ. Đó là quan niệm sai lầm, khi mà nguồn nƣớc khai thác vƣợt quá lƣợng bổ cấp sẽ là cạn kiệt tầng chứa nƣớc và không thể phục hồi. Nguồn cung cấp nƣớc cho nƣớc ngầm là nƣớc mặt thấm vào tầng chứa.
Các nguồn thoát tự nhiên nhƣ suối và thấm vào các đại dƣơng. Nguồn nƣớc ngầm có khả năng bị nhiễm mặn cách tự nhiên hoặc do tác động của con ngƣời khi khai thác quá mức các tầng chứa nƣớc gần biên mặn/ngọt. Ở các vùng ven biển, con ngƣời sử dụng nguồn nƣớc ngầm có thể làm co nƣớc thấm vào đại dƣơng từ nƣớc dự trữ gây ra hiện tƣợng muối hóa đất. Con ngƣời cũng có thể làm cạn kiệt nguồn nƣớc bởi các hoạt động làm ô nhiễm nó.
Con ngƣời có thể bổ cấp cho nguồn nƣớc này bằng cách xây dựng các bể chứa hoặc bổ cấp nhân tạo. Vai trò, ý nghĩa của tài nguyên nước Tài nguyên nƣớc là một dạng tài nguyên quan trọng để phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Tài nguyên nƣớc liên quan hàng ngày đến các hoạt động sống và hoạt động kinh tế của con ngƣời trong nhiều lĩnh vực, đáng kể nhất là nông nghiệp, ngƣ nghiệp, lâm nghiệp và du lịch, công nghiệp và đô thị hoá. Nƣớc là một tài nguyên thiên nhiên vô cùng thiết yếu đối với cuộc sống 9 (LUAN.nong download by : skknchat@gmail.nong nhân loại, là một tài nguyên thiên nhiên hữu hạn và rất có giá trị về kinh tế nhƣ các tài nguyên khoáng sản khác.
Nƣớc là yếu tố cấu thành sự sống, chiếm tỉ lệ lớn trong thành phần các tế bào. Là thành phần không thể thiếu trong chuổi thành phần thức ăn của động vật, thực vật. Nƣớc đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các nền văn minh trên trái đất. Nƣớc là yếu tố quan trọng trong lịch sử phát triển xã hội loài ngƣời.
Cho đến nay gắn liền với sự gia tăng dân số, sự gia tăng nhu cầu về nƣớc ngày càng đa dạng, phức tạp. Thời kỳ trƣớc kỷ nguyên cơ khí, nhu cầu nƣớc của con ngƣời còn rất nhỏ so với khả năng dồi dào của nguồn nƣớc, bởi vì thời kì đó nƣớc chỉ dùng vào mục đích chính là ăn, uống, sinh hoạt, chăn nuôi gia súc và trồng cây,. trên những vùng địa lý dƣ thừa nƣớc. Sự quan tâm của con ngƣời chủ yếu là hạn chế các tác hại của nó nhƣ lũ lụt, lầy thụt.
Thời kỳ sau kỷ nguyên cơ khí đến nay, với sự gia tăng bùng nổ dân số, mức độ đô thị hóa ngày càng cao, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế, nhất là sự phát triển của các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp hóa các ngành kinh tế, nhu cầu về nƣớc ngày càng lớn về số lƣợng và chất lƣợng. Nƣớc ngày nay càng trở nên khan hiếm và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành giá thành sản phẩm cuối cùng. Vì vậy nƣớc cần đƣợc sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm.Sử dụng nƣớc hợp lý tức là sử dụng nƣớc phù hợp với số lƣợng và chất lƣợng của tài nguyên nƣớc. Tổ chức FAO cho rằng chỉ sử dụng tối đa đến 30% lƣợng nƣớc hiện có, nếu dùng quá sẽ dẫn đến làm cạn kiệt nguồn nƣớc, không bảo đảm yêu cầu tối thiểu về vệ sinh, giao thông thủy.
Sử dụng quá mức tài nguyên nƣớc dƣới đất sẽ dẫn đến lún sụt mặt đất, giảm thấp mực nƣớc ngầm, tạo điều kiện cho nƣớc mặn xâm nhập. Sử dụng mặt ích lợi của nƣớc phải đi đôi với việc hạn chế mặt tiêu cực, giảm nhẹ tác hại của thủy tai. Không thể chỉ sử dụng mặt lợi của nƣớc mà không tính đến mặt hại của nó, vì điều này bắt nguồn từ bản chất của nƣớc, từ sự phân 10 (LUAN.nong download by : skknchat@gmail.nong bố không đều của nƣớc trong không gian, từ bản chất của việc cấp nƣớc đi đôi với việc sử dụng nƣớc và tiêu thoát nƣớc. Sử dụng nƣớc đi đôi với việc bảo vệ tài nguyên nƣớc khỏi bị cạn kiệt và ô nhiễm.
Bởi tài nguyên nƣớc không phải là vô hạn, lại rất dễ bị nhiễm bẩn, dẫn đến sẽ bị cạn kiệt một cách tuyệt đối về số lƣợng và tƣơng đối về chất lƣợng. Muốn quản lý và sử dụng tốt nguồn nƣớc cần hiểu rõ chu trình tuần hoàn khép kín của nƣớc (từ bốc hơi, mƣa, nƣớc mặt, thấm, nƣớc dƣới đất,.) để lựa chọn các tác động thích hợp vào từng khâu nhằm đạt mục tiêu tăng hiệu quả nguồn nƣớc. Vì vậy vừa phải lập kế hoạch sử dụng nƣớc ở khu kinh tế hành chính, vừa phải lập kế hoạch ở các lƣu vực của các hệ thống sông (ở các mặt lƣu vực + thƣợng nguồn + hạ lƣu). Sự tác động vào một điểm sẽ có ảnh hƣởng đến toàn hệ thống (Công trình thƣợng lƣu ảnh hƣởng đến hạ lƣu và ngƣợc lại).
Tính hệ thống cũng thể hiện ở sự không tách rời giữa các khâu cấp nƣớc, sử dụng nƣớc và tiêu thoát nƣớc. - Nƣớc dùng đời sống, sinh hoạt của nhân dân: Vai trò quan trọng của nƣớc đối với đời sống và sinh hoạt của nhân dân đƣợc thể hiện trên một số mặt sau: + Nƣớc là một yếu tố không thể thay thế trong ăn, uống, sinh hoạt của con ngƣời. Mặc dù mỗi ngƣời chỉ cần vài lít nƣớc mỗi ngày để duy trì sự sống, để có thể tránh khỏi các bệnh có liên quan đến nƣớc, nhƣng lƣợng nƣớc cần thiết để bảo đảm vệ sinh cá nhân, nâng cao mức sống con ngƣời thì ngày càng tăng lên và là một chỉ tiêu của mức sống, biểu hiện mức độ văn minh của cuộc sống. Theo các nghiên cứu trong mƣời năm của Singapore thì mỗi ngƣời cần 90 lít nƣớc trong mỗi ngày.
Hàng ngày chúng ta uống nƣớc để bù lại lƣợng nƣớc trong ngƣời thải ra, nên khí hậu càng nóng, vận động càng nhiều thì uống nhiều nƣớc. Thông thƣờng trời nóng từ 30 - 32oC thì mỗi ngƣời cần uống 3 - 5 lít nƣớc mỗi ngày, nếu trời 11 (LUAN.nong download by : skknchat@gmail.nong mát, ngƣời ít hoạt động thì mỗi ngày uống 2 lít nƣớc. Trẻ em hiếu động hay chạy nhảy, nghịch ngợm nhu cầu cầu nƣớc mỗi ngày càng lớn hơn.