CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Hệ thống đê điều Việt Nam Hệ thống đê ở Việt Nam được hình thành từ những năm đầu Công nguyên. Thời kỳ mới hình thành chỉ là những bờ nhỏ, thấp có tác dụng bảo vệ từng khu vực canh tác ven sông, càng về sau càng được củng cố vững chắc hơn để chống với mức nước lũ cao hơn, mãi đến năm 1204 công cuộc đắp đê mới được triển khai trên qui mô lớn, nối các tuyến đê nhỏ thành từng hệ thống khép kín từ thượng lưu nguồn ra tới cửa biển. Đê ở Việt Nam phổ biến nhất là ở miền Bắc và chủ yếu là dọc hai bên bờ sông Hồng, sông Mã, sông Lam. Ngoài con đê chính thường lui sâu hơn vào trong đất liền, có khi còn đắp thêm những con đê phụ gọi là đê quai hoặc con trạch để phòng khi đê chính bị vỡ thì còn cứu được phần ruộng đất nơi xa sông khỏi bị ngập lụt.
Lịch sử xây dựng đê ở nước ta cho biết: dưới thời nhà Lý, tháng 3 năm Mậu Tý (1108), con đê đầu tiên được đắp ở phường Cơ Xá với mục đích bảo vệ thành Thăng Long khỏi bị nước sông Hồng tràn ngập. Đến đời nhà Trần, đê được đắp ở nhiều nơi cất giữ không cho nước sông tràn vào để kịp làm vụ chiêm, sau khi mùa màng thu hoạch xong thì lại cho nước tự do tràn vào đồng ruộng. Đời Lê, những con đê lớn hơn được đắp mới và tôn tạo dọc hai bờ sông Nhị Hà, việc đắp đê ở thời kỳ này cho là quá giới hạn làm cho sông Hồng trở nên hung dữ, nên đến đời nhà Nguyễn, có lúc đã đặt ra vấn đề là phải bỏ đê. Trước năm 1938 Nguyễn Công Trứ đề xuất giải pháp nắn chỉnh, khơi đào đoạn khởi đầu sông Đuống (tức Thiên Đức thời bấy giờ) chuyển cửa nhận nước từ sông Hồng về phía thượng lưu.
Đề xuất này phải đến đời Tự Đức mới được làm một phần và hoàn thành vào thời kỳ Pháp thuộc. Hầu hết các tuyến đê sông được hình thành từ rất xa xưa, mang tính tự phát, ở thời kỳ khoa học kỹ thuật thuỷ lợi chưa phát triển nên nhiều đoạn đê hiện nay thấy không hợp lý như: đê đi qua các vùng có địa hình phức tạp, khoảng cách giữa hai tuyến đê quá rộng hoặc là hẹp quá. Trải qua các trận lũ lớn, đê đã nhiều lần được tôn cao, mở rộng. Do đê được bồi trúc qua nhiều giai đoạn, bằng nhiều loại đất khác nhau, trình độ và chất lượng thi công khác nhau nên chất lượng giữa các đoạn đê trong một tuyến không đồng đều.
4 Hầu như toàn bộ địa chất nền các tuyến đê chưa được khảo sát, thăm dò nên chưa có đủ các dữ liệu để phân tích, đánh giá đầy đủ về độ bền thấm và sức chịu tải. Căn cứ vào quá trình diễn biến qua nhiều năm thấy có trên 200km đê sông thuộc loại nền xấu. Mức chênh lệch đầu nước càng cao, thời gian duy trì lũ càng dài thì sự cố xẩy ra càng nhiều, càng nghiêm trọng. Việc đắp đê hầu như hoàn toàn sử dụng sức người, bằng công cụ thô sơ nên thường đào đất ở ngay gần hai chân đê tạo ra địa hình rất bất lợi cho sự ổn định của đê.
Ước tính có khoảng 1500 ha diện tích ao, đầm sát chân đê, nếu muốn lấp đi thì cần hàng chục triệu mét khối đất với kinh phí đầu tư rất lớn. Ngày nay, Việt Nam là một nước có hệ thống sông ngòi dày đặc thuộc loại lớn nhất, dài nhất thế giới. Hệ thống đê điều được xây dựng với mục đích để chứa nước và tưới tiêu cho vùng châu thổ giàu lúa gạo, đồng thời cũng để tháo nước khi bị lụt. Hệ thống đê này sau nhiều thế hệ đã góp phần duy trì mật độ dân số cao ở đồng bằng và làm tăng gấp đôi diện tích có thể canh tác lúa nước ở đây.
Các khu dân cư, thành phố và vùng nông nghiệp thường phát triển dọc theo các vùng ven sông và thường chịu ảnh hưởng từ các yếu tố lũ và nguy cơ ngập lụt. Hệ thống đê được xây dựng dọc theo các nhánh sông là giải pháp phòng chống lũ đã được ông cha ta sử dụng từ lâu đời, để bảo vệ các vùng dân cư ven sông và toàn bộ vùng châu thổ trước nguy cơ ngập lụt. Qua nhiều thế kỷ, việc phòng lụt qua hệ thống đê đã trở thành một công việc gắn liền với văn hóa và kinh tế của dân tộc.1 Một số đê sông ở Việt Nam 5 Hệ thống đê hiện nay trên cả nước là một hệ thống công trình quy mô lớn với khoảng 13.200 km đê, trong đó có gần 2.600 km đê biển và khoảng 10.600 km đê sông (trên 2.500 km đê từ cấp III đến cấp đặc biệt còn lại là đê dưới cấp III và đê chưa được phân cấp).1 Hệ thống đê Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ + Đê cấp đặc biệt (đê nội thành Hà Nội) 37,09 km + Đê cấp I : 526,7 km + Đê cấp II : 707,8 km + Đê cấp III : 1.229,5 km + Đê dưới cấp III: : 3.115 km Ngoài ra có 600 kè các loại và 1.600 cống dưới đê, hệ thống công trình phụ trợ và vật tư dự trữ phòng chống lụt bão. Riêng Thanh Hóa có 24 sông lớn nhỏ, với tổng chiều dài đê: 1.008 km, trong đó: Đê từ cấp I đến cấp III: + Chiều dài: 315 km (Đê cấp I: 64,7 km; Cấp II:183,5 km; Cấp III: 66,7 m) + Kè bảo vệ đê: 127 công trình, gồm: 85.450,4m kè lát mái và 151 mỏ hàn.
+ Kè bảo vệ khu dân cư, bãi sông: 21 công trình, với 17.577,3 m kè lát mái và 11 mỏ hàn. + Cống dưới đê: 252 cống (trong đó có 2 âu). Đê dưới cấp III: + Chiều dài: 693 km. + Kè bảo vệ đê: 108 công trình, chiều dài kè lát mái: 86.
+ Cống dưới đê: 739 cống và 01 âu (âu Mỹ Quan Trang). Hiện nay, tiêu chuẩn thiết kế các tuyến đê của Thanh Hóa chỉ mới đảm bảo chống được với lũ lớn nhất đã xảy ra, mực nước thiết kế các tuyến đê như sau: 6 - Trên sông Chu: Tại trạm Thủy Văn Xuân Khánh (K26,5 đê hữu sông Chu) Htk= +13.86 m, tương đương mực nước lũ lớn nhất xảy ra năm 1962. - Trên sông Mã: + Tại trạm Thủy văn Lý Nhân (K9 đê hữu sông Mã) Htk=13.20 m (đỉnh lũ năm 1980- tương đương đỉnh lũ năm 2007 là 13.24); + Tại trạm Thủy văn Giàng (K37,2 hữu sông Mã) Htk = +7.2 Hệ thống đê sông, cửa sông khu vực Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ - Hệ thống đê sông, đê cửa sông: có chiều dài 904 km.3 Hệ thống đê biển Trải dài 29 tỉnh ven biển nước ta là bờ biển với chiều dài rất lớn khoảng 3200 km, 89 cửa sông, với vùng biển 1 triệu km2, khoảng 3000 hòn đảo lớn nhỏ và các thành phố lớn, hải cảng, các khu công nghiệp, dầu khí, các khu đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Việt Nam là một trong những nước có tiềm năng, lợi thế về biển to lớn trong phát triển kinh tế biển và vùng ven biển cửa sông.2 Đê biển Việt Nam Hiện nay tổng chiều dài hệ thống đê biển trên toàn quốc là 2.589 km, trong đó: - Hệ thống đê biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam: có chiều dài 1.
- Hệ thống đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang: có chiều dài 896 km.4 Hệ thống đê sông, bờ bao khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - Hệ thống đê sông, bờ bao khu vực Đồng bằng sông Cửu Long: có chiều dài 4.5 Kè chống xói lở biên giới Việt Trung - Tổng số kè đã và đang được triển khai xây dựng trên tuyến biên giới Việt Trung: 64 kè/tổng chiều dài 62,79 km 1.2 Hiện trạng đê điều Việt Nam 1.1 Đánh giá hiện trạng các tuyến đê sông Theo Tiêu chuẩn phòng, chống lũ đồng bằng sông Hồng 14 TCN 122 - 2002 và Quyết định số 59/2002/QĐ-BNN ngày 03/7/2002 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì các tuyến đê sông từ cấp I đến cấp III phải đảm bảo chống được lũ với mực nước thiết kế: 13,1 m tại trạm thuỷ văn Hà Nội và: 7,2 m tại trạm thuỷ văn Phả Lại; đê cấp đặc biệt phải đảm bảo chống được lũ với mực nước thiết kế: 13,4 m tại trạm thuỷ văn Hà. Theo báo cáo đánh giá chất lượng đê điều trước mùa lũ, bão hàng năm của Chi cục Phòng chống lụt bão và Quản lý đê điều các tỉnh đồng bằng sông Hồng và khu 4 cũ có thể nhận thấy: 1.1 Về khả năng chống lũ Phần lớn các tuyến đê sông lớn thuộc hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình đã có cao trình đỉnh đê đủ khả năng chống tràn với mực nước lũ thiết kế quy định nhưng độ cao gia thăng vẫn còn một số đoạn chưa đủ khoảng 80 km đê còn thấp từ 0,4 - 0,7 m, vùng cửa sông có đoạn thấp đến 1 mét; mặt đê nhiều đoạn chưa được rải cấp phối hoặc cứng hóa mặt đê, nhiều đoạn đê có chiều cao tới trên 5 mét nhưng chưa có cơ, mái đê dốc, nhiều đoạn đê còn phải đắp con trạch với chiều cao 1,0m - 1,5 m, mặt trạch rộng 1,0 m. Những đoạn này chủ yếu là đê hạ du, đê cửa sông một vài đoạn đê sông Hồng, một số đoạn ở cuối sông Hoá, sông Luộc, sông Thái Bình. Hệ thống đê sông Chu có cao độ đỉnh đê vượt mực nước thiết kế với độ cao gia thăng từ 0,4 m ~ 0,6 m (mực nước thiết kế Htk= +13.86 m tại K26+500 đê hữu sông 8 Chu, tương đương mực nước lũ lớn nhất xảy ra năm 1962 tại trạm thủy văn Xuân Khánh).
Chiều rộng mặt đê B = 5m - 6m, độ dốc mái đê: phía sông m=2/1, phía đồng m=3/1. Trong trận lũ lớn xảy ra tháng 10/2007, mực nước đỉnh lũ tại hạ lưu đập Bái Thượng là +20.64 m, thấp hơn mực nước lũ lớn nhất năm 1962 (+21.54 m) là 90 cm; tại Xuân Khánh, mực nước đỉnh lũ đạt là +12.61 m, cao hơn báo động III: 0,67 m. Các tuyến đê sông nhỏ thượng lưu sông Hồng như sông Thao, Đà, Lô của tỉnh Phú Thọ thì cao độ đê cũng chống được tràn theo mực nước lũ thiết kế với độ gia thăng 0,2 m - 1,0 m. Riêng đê tả Đà (La Phù, Tam Thanh) và đê tả Lô (Vĩnh Phúc) cao trình đê thấp hơn lũ thiết kế 1,0 m.
Các tuyến đê sông Cầu, Gang Thép của tỉnh Thái Nguyên, đê Quỳnh Lâm, Đà Giang Hoà Bình đê cao hơn mực nước lũ lớn nhất xảy ra 1,5 - 2,0 m.