Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tài nguyên nước mặt là thành phần cốt lõi của môi trường sống, giữ vai trò quyết định đối với an ninh nguồn nước, sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam, hệ thống sông ngòi phần lớn bắt nguồn từ các quốc gia láng giềng trước khi chảy vào nội địa. Đặc điểm địa lý này khiến việc kiểm soát, giám sát chất lượng nước tại các khu vực cửa nguồn biên giới trở thành thách thức lớn do khó xác định các nguồn thải và yếu tố tác động từ phía ngoài lãnh thổ.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Văn Duy (chuyên ngành Khoa học Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, 2014) tập trung giải quyết bài toán quan trắc môi trường nước tại một trong những điểm tiếp nhận dòng chảy xuyên biên giới: đoạn suối chảy từ Trung Quốc vào địa phận xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng – đây chính là một trong những nguồn tạo thành sông Bằng (Bằng Giang).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm:

  1. Đánh giá chất lượng nước của đoạn suối dài khoảng 4 km tính từ điểm bắt đầu chảy từ Trung Quốc vào địa phận xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
  2. Khảo sát nhu cầu sử dụng nước tại khu vực, mức độ đáp ứng cho các mục đích (nước uống, sinh hoạt, tưới tiêu) và xác định mục đích sử dụng dòng chảy tại địa phương.
  3. Nhận diện các nguyên nhân gây ảnh hưởng đến chất lượng nước suối từ hoạt động nông nghiệp, sinh hoạt và công nghiệp; đề xuất giải pháp quản lý, ngăn ngừa ô nhiễm và cải thiện chất lượng nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Dòng chảy bề mặt bắt nguồn từ Trung Quốc chảy vào xã Sóc Hà (bao gồm đặc điểm hình thái, chất lượng nước, mục đích khai thác sử dụng và các nguồn gây ô nhiễm).
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hà Quảng và lưu vực dòng suối dài 4 km chảy qua các xóm: Cốc Nghịu, Cốc Vường, Địa Lan, Háng Cáu, Nà Cháo, Nà Nghiềng, Nà Phái, Pò Háng, Sóc Giang thuộc xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (tọa độ địa lý: 22°55′11″B, 105°59′23″Đ).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu và thu thập dữ liệu thực địa diễn ra từ ngày 15/01/2014 đến ngày 30/04/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và căn cứ pháp lý

Khóa luận vận dụng các kiến thức chuyên ngành về thủy văn học, sinh thái học môi trường nước và hóa học môi trường. Các cơ sở lý thuyết bao gồm vòng tuần hoàn nước, cơ chế tự làm sạch của thủy vực tự nhiên, hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước và tác động tiêu cực của các hợp chất chứa Nitơ (Amoni, Nitrit, Nitrat), Photpho (Phosphat), chất rắn lơ lửng cùng vi sinh vật gây bệnh đối với sức khỏe con người và hệ sinh thái.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật được tác giả sử dụng làm căn cứ đánh giá gồm:

  • Luật Tài nguyên nước năm 1998 (có hiệu lực từ ngày 01/01/1999).
  • Nghị định số 179/1999/NĐ-CP quy định việc thi hành Luật Tài nguyên nước.
  • Nghị định số 149/2004/NĐ-CP quy định cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước.
  • Nghị định số 34/2005/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.
  • Nghị định số 120/2008/NĐ-CP về quản lý lưu vực sông.
  • Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020.
  • Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT và Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08:2008/BTNMT về chất lượng nước mặt.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng qua ba kênh thu thập dữ liệu:

  1. Khảo sát thực địa: Đo đạc kích thước hình thái dòng chảy (độ sâu trung bình, bề rộng trung bình); quan sát trực quan về màu sắc, mùi, rác thải trôi nổi và xác định loài thực vật thủy sinh chiếm ưu thế làm chỉ thị sinh học dọc theo tuyến suối 4 km.
  2. Điều tra xã hội học bằng phiếu phỏng vấn: Thiết kế và phát 50 phiếu điều tra tới 50 hộ dân sinh sống ven suối tại 5 xóm (Sóc Giang, Nà Nghiềng, Háng Cáu, Pò Háng, Nà Sác), tiến hành từ ngày 22/03/2014 đến 26/03/2014 nhằm ghi nhận nhận định của cộng đồng về biến động chất lượng nước và hiện trạng xả thải.
  3. Lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm: Mẫu nước mặt được lấy vào hồi 17h30 ngày 09/04/2014 tại vị trí giữa dòng suối khu vực cửa khẩu Sóc Giang bằng bình nhựa 1.500 ml, bảo quản lạnh ở 4°C và đưa về phân tích ngày 10/04/2014 tại Viện Khoa học & Sự sống (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên).

Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích cụ thể gồm:

  • pH: TCVN 6492:2011
  • TSS: Phương pháp SMEWW 2540B
  • DO: TCVN 5499:1995
  • COD: TCVN 4565:1988
  • BOD5: TCVN 6001:2008
  • Amoni (N-NH4+): TCVN 5988:1995
  • Nitrit (N-NO2-): TCVN 6178:1996
  • Nitrat (N-NO3-): TCVN 6180:1996
  • Phosphat (P-PO4 3-): TCVN 6202:2008
  • Sulfat (SO4 2-): TCVN 6200:1996
  • Fe tổng số: TCVN 6177:1996
  • Coliform và E. coli: TCVN 6187:2009

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc bảo vệ tài nguyên nước mặt xuyên biên giới, nêu rõ vị trí chiến lược của dòng suối tại xã Sóc Hà – nguồn gốc của sông Bằng Giang. Phần mở đầu thiết lập mục đích, yêu cầu kỹ thuật của đề tài, các mục tiêu phân tích chất lượng nước và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của nghiên cứu đối với công tác quản lý tài nguyên môi trường tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp các tài liệu khoa học về trữ lượng nước toàn cầu và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các nguồn tài nguyên nước (nước mặt, dòng chảy ngầm trong địa hình karst, nước ngầm, nước khoáng/nước nóng); làm rõ vai trò của nước trong nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, giao thông, trao đổi nhiệt; phân loại các nguồn gây ô nhiễm tự nhiên và nhân tạo (nước thải sinh hoạt, công nghiệp, y tế, nông nghiệp). Hệ thống hóa đầy đủ cơ sở pháp lý và các quy định hiện hành về quản lý, bảo vệ tài nguyên nước mặt tại Việt Nam.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nêu chi tiết đối tượng nghiên cứu, phạm vi địa lý (xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng) và thời gian thực hiện (15/01/2014 – 30/04/2014). Mô tả chi tiết quy trình khảo sát thực địa dọc 4 km chiều dài suối, kỹ thuật điều tra 50 hộ dân bằng bảng hỏi, quy trình lấy mẫu tại cửa khẩu Sóc Giang, kỹ thuật bảo quản mẫu nước và danh mục phương pháp thử nghiệm tiêu chuẩn cho 13 chỉ tiêu hóa lý, vi sinh vật đối chiếu với QCVN 08:2008/BTNMT.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các mặt nghiên cứu:

  1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Sóc Hà:

    • Tự nhiên: Diện tích tự nhiên 3.229,49 ha; độ cao trung bình ~800 m so với mực nước biển; địa hình núi đá vôi và rừng nhiệt đới chiếm trên 80% diện tích, đất dốc lớn. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 22,8°C (biến thiên từ 6°C đến 34°C), độ ẩm trung bình 85%, lượng mưa năm ~1.500 mm với 130–140 ngày mưa/năm.
    • Đất đai: Đất nông nghiệp chiếm 2.388,44 ha (73,95%), trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 322,05 ha (lúa nước chiếm hơn 80% diện tích canh tác); đất lâm nghiệp 834,98 ha; đất phi nông nghiệp 541,05 ha; đất chưa sử dụng 300,00 ha.
    • Dân sinh - kinh tế: Dân số năm 2012 là 2.552 người (560 hộ), mật độ 73,4 người/km2. Thành phần dân tộc gồm Tày (~70%), Nùng, Dao. Cơ cấu kinh tế thuần nông: hộ nông nghiệp chiếm 94,10% (527 hộ), lao động nông nghiệp chiếm 98,90% (2.433 người). Thu nhập bình quân đạt 5,4 triệu đồng/người/năm; xã thuộc huyện nghèo (1 trong 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a). Hoạt động công nghiệp chỉ có khai thác đá vôi và xưởng cơ khí nhỏ.
  2. Nguồn phát sinh ô nhiễm:

    • Nông nghiệp: Thói quen bón phân hóa học, phân chuồng và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên các chân ruộng lúa nước; sau tưới tiêu, lượng phân bón dư thừa chứa N và P theo nước tràn hồi lưu trực tiếp về lòng suối. Rơm rạ mục nát ngập nước sau thu hoạch cũng làm tăng tải lượng hữu cơ.
    • Sinh hoạt: Tải lượng chất thải rắn ước tính 2 kg/người/ngày và nước thải sinh hoạt 0,3 m3/người/ngày. Một phần đáng kể rác thải, nước thải của các hộ ven bờ đổ thẳng ra suối.
    • Công nghiệp: Hoạt động công nghiệp không gây ảnh hưởng do quy mô nhỏ và cách xa dòng chảy.
  3. Hiện trạng dòng chảy và kết quả quan trắc:

    • Khảo sát thực địa: Dòng suối rộng trung bình 13,5 m; độ sâu đo đạc trung bình 1,1 m (mùa khô < 0,5 m; mùa mưa lũ dâng cao 2–3 m). Nước có độ đục nhẹ, ở độ sâu trên 1 m không nhìn thấy đáy. Dọc bờ suối xuất hiện nhiều rác thải túi nilon, bao bì nhựa. Loài thực vật thủy sinh chỉ thị chiếm ưu thế tuyệt đối là cây cải xoong mọc dại.
    • Kết quả phỏng vấn 50 hộ dân: 100% hộ dân dùng nước suối để tưới lúa nước, không hộ nào dùng cho sinh hoạt. 80% số hộ thừa nhận thỉnh thoảng xả rác và nước thải xuống suối; 10% hộ thường xuyên đổ rác trực tiếp xuống lòng suối.

Phần: Kết luận, kiến nghị

Tác giả tổng kết chất lượng dòng chảy, khẳng định nước suối đã xuất hiện dấu hiệu phú dưỡng và ô nhiễm dinh dưỡng (Phosphat, Nitrit, Nitrat) ở mức B2 theo QCVN 08:2008/BTNMT. Tác giả kiến nghị chính quyền địa phương tăng cường quản lý, kiểm soát xả thải sinh hoạt và nông nghiệp, không sử dụng nguồn nước này cho mục đích cấp nước sinh hoạt khi chưa xử lý.


Kết quả và đóng góp

Dữ liệu phân tích chất lượng nước

Kết quả thử nghiệm mẫu nước lấy tại cửa khẩu Sóc Giang ngày 09/04/2014 và đối chiếu phân hạng theo QCVN 08:2008/BTNMT được tổng hợp trong bảng dưới đây:

STT Thông số phân tích Đơn vị Phương pháp thử Kết quả Phân hạng theo QCVN 08:2008/BTNMT Ghi chú ngưỡng quy chuẩn
1 pH - TCVN 6492:2011 7,24 Loại A Đạt ngưỡng 6,0 – 8,5
2 TSS (Chất rắn lơ lửng) mg/l SMEWW 2540B 32,19 Loại B1 Vượt mức A2 (30 mg/l)
3 DO (Oxy hòa tan) mg/l TCVN 5499:1995 4,58 Loại B1 Đạt ngưỡng ≥ 4 mg/l
4 COD mg/l TCVN 4565:1988 4,64 Loại A1 Nằm trong ngưỡng ≤ 10 mg/l
5 BOD5 (20°C) mg/l TCVN 6001:2008 3,02 Loại A1 Nằm trong ngưỡng ≤ 4 mg/l
6 Amoni (N-NH4+) mg/l TCVN 5988:1995 0,11 Loại A2 Nằm trong ngưỡng ≤ 0,2 mg/l
7 Nitrit (N-NO2-) mg/l TCVN 6178:1996 0,05 Loại B2 Đạt ngưỡng giới hạn 0,05 mg/l
8 Nitrat (N-NO3-) mg/l TCVN 6180:1996 8,96 Loại B1 Nằm trong ngưỡng ≤ 10 mg/l
9 Phosphat (P-PO4 3-) mg/l TCVN 6202:2008 0,85 Loại B2 Vượt mức B1, chạm mức 0,5–0,85 mg/l
10 Sulfat (SO4 2-) mg/l TCVN 6200:1996 0,06 - Hàm lượng thấp
11 Fe tổng số mg/l TCVN 6177:1996 0,685 Loại A2 Nằm trong ngưỡng ≤ 1,0 mg/l
12 E. coli MPN/100ml TCVN 6187:2009 0 Loại A1 Đạt chuẩn nghiêm ngặt (≤ 20)
13 Tổng Coliform MPN/100ml TCVN 6187:2009 < 3 Loại A1 Đạt chuẩn nghiêm ngặt (≤ 2.500)

Đánh giá tổng hợp chất lượng nước:

  • Các chỉ tiêu COD, BOD5, pH, Sắt, E. coli và Coliform đều nằm trong giới hạn cho phép ở mức tốt (Loại A1 và A2).
  • Dòng nước bị suy giảm chất lượng chủ yếu ở 3 chỉ tiêu nhóm dinh dưỡng: Phosphat (0,85 mg/l), Nitrit (0,05 mg/l) và Nitrat (8,96 mg/l) cùng chất rắn lơ lửng TSS (32,19 mg/l) và DO (4,58 mg/l), xếp vào phân hạng B1 và B2.
  • Nguồn nước không đủ tiêu chuẩn phục vụ ăn uống hay sinh hoạt, chỉ phù hợp cho tưới tiêu nông nghiệp, giao thông thủy hoặc các mục đích sử dụng nước yêu cầu chất lượng thấp.

Các giải pháp do tác giả đề xuất

  1. Giải pháp quản lý hành chính:
    • Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng nhằm xóa bỏ thói quen vứt rác, xả nước thải sinh hoạt bừa bãi xuống suối.
    • UBND xã và các xóm ban hành hương ước, quy chế bảo vệ môi trường dòng suối, kiểm tra và xử phạt vi phạm xả rác.
    • Lập phương án thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt tập trung tại các xóm ven suối.
  2. Giải pháp kỹ thuật và sản xuất nông nghiệp:
    • Hướng dẫn nông dân kỹ thuật bón phân hợp lý, cân đối lượng đạm, lân, kali, tránh bón dư thừa gây thất thoát rửa trôi.
    • Hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học độc hại, thu gom bao bì thuốc BVTV sau sử dụng đúng nơi quy định thay vì vứt tại bờ ruộng/lòng suối.
    • Xây dựng các hố ủ phân compost hữu cơ hợp vệ sinh đối với chất thải chăn nuôi gia súc.
  3. Giải pháp thực tiễn:
    • Khơi thông dòng chảy, định kỳ tổ chức phong trào thanh niên và nhân dân trục vớt rác thải rắn trôi nổi ven bờ.
    • Bảo vệ và duy trì thảm thực vật tự nhiên dọc hành lang bờ suối nhằm tăng khả năng lọc sinh học tự nhiên và chống xói mòn sạt lở đất canh tác.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp bộ số liệu đo đạc thực nghiệm ban đầu (baseline data) về 13 chỉ tiêu lý, hóa, sinh của dòng chảy bề mặt từ Trung Quốc vào khu vực cửa khẩu Sóc Giang năm 2014.
  • Làm sáng tỏ mối tương quan giữa tập quán canh tác nông nghiệp, sinh hoạt dân cư vùng biên giới với diễn biến ô nhiễm dinh dưỡng (N, P) trong dòng chảy bề mặt.
  • Làm tài liệu cơ sở phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước cho Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hà Quảng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Dữ liệu quan trắc hạn chế: Nghiên cứu mới chỉ thực hiện lấy 01 mẫu nước tại 01 điểm duy nhất (ngay cửa khẩu Sóc Giang) vào 01 thời điểm duy nhất (17h30 ngày 09/04/2014), chưa thu thập mẫu theo chuỗi thời gian hoặc theo các mùa (mùa mưa và mùa khô) để phản ánh đầy đủ sự biến động theo chu kỳ thủy văn.
  • Không gian lấy mẫu chưa bao quát: Chưa bố trí mạng lưới các điểm lấy mẫu dọc suốt 4 km chiều dài dòng suối cũng như tại điểm hợp lưu với dòng chảy nội địa để đánh giá tải lượng ô nhiễm gia tăng qua từng xóm.
  • Dữ liệu phỏng vấn xã hội học: Quy mô khảo sát 50 hộ dân tại 5 xóm mang tính đại diện bước đầu, chưa thực hiện phân tích thống kê chuyên sâu về mức độ sẵn sàng chi trả hay các mô hình lượng hóa phát thải.

Hướng nghiên cứu mở rộng

  • Thiết lập chương trình quan trắc môi trường định kỳ nhiều đợt trong năm (tối thiểu quan trắc vào đỉnh mùa khô và đỉnh mùa mưa lũ).
  • Mở rộng trạm quan trắc: đặt thêm các điểm lấy mẫu tại điểm vào lãnh thổ, đoạn giữa dòng chảy qua khu dân cư tập trung và điểm tiếp hợp với dòng sông Bằng.
  • Nghiên cứu cơ chế hợp tác trao đổi thông tin chất lượng nước xuyên biên giới phục vụ quản lý môi trường lưu vực sông liên quốc gia.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Môi trường: Sinh viên các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Thủy văn có thể tham khảo phương pháp kết hợp giữa điều tra xã hội học (bảng hỏi) với quan trắc thực nghiệm phòng thí nghiệm (TCVN, SMEWW) để đánh giá chất lượng nước mặt nông thôn miền núi.
  • Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương: Cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hà Quảng, UBND xã Sóc Hà và Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Cao Bằng có thể khai thác bộ số liệu về các chỉ số TSS, DO, Nitrat, Phosphat và hiện trạng xả thải để xây dựng phương án cấp nước sạch và kiểm soát nguồn thải nông nghiệp.
  • Người nghiên cứu về lưu vực sông Bằng: Cung cấp thông tin nền tảng về đặc điểm địa hình, thủy văn karst, khí hậu và chất lượng nước đầu nguồn sông Bằng tại tỉnh Cao Bằng.

Câu hỏi thường gặp

1. Dòng suối nghiên cứu trong khóa luận có vị trí và chiều dài như thế nào?

Dòng suối bắt nguồn từ Trung Quốc chảy vào lãnh thổ Việt Nam tại xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng với chiều dài đoạn suối khoảng 4 km trước khi hợp lưu với một dòng chảy nội địa để tạo thành sông Bằng (Bằng Giang). Suối có bề rộng trung bình khoảng 13,5 m và độ sâu trung bình đo đạc đạt 1,1 m (vào mùa khô mực nước xuống dưới 0,5 m; mùa mưa có thể dâng cao tới 2–3 m).

2. Mẫu nước được lấy ở đâu, vào thời gian nào và phân tích tại đơn vị nào?

Mẫu nước được lấy trực tiếp giữa dòng suối tại khu vực cửa khẩu Sóc Giang vào hồi 17h30 ngày 09/04/2014 bằng bình nhựa dung tích 1.500 ml. Mẫu được bảo quản lạnh và phân tích vào ngày 10/04/2014 tại phòng thí nghiệm của Viện Khoa học & Sự sống, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên.

3. Chất lượng nước mặt suối Sóc Hà phân hạng như thế nào theo QCVN 08:2008/BTNMT?

Mẫu nước đạt chất lượng tốt ở các chỉ tiêu hữu cơ và vi sinh (COD = 4,64 mg/l - Loại A1, BOD5 = 3,02 mg/l - Loại A1, pH = 7,24 - Loại A, E. coli = 0 MPN/100ml, Coliform < 3 MPN/100ml). Tuy nhiên, nước bị ô nhiễm dinh dưỡng và chất rắn lơ lửng: Phosphat đạt 0,85 mg/l (Loại B2), Nitrit đạt 0,05 mg/l (Loại B2), Nitrat đạt 8,96 mg/l (Loại B1), TSS đạt 32,19 mg/l (Loại B1), DO đạt 4,58 mg/l (Loại B1).

4. Nguồn nước này có dùng được cho mục đích sinh hoạt hay không?

Theo kết quả phân tích và phân hạng quy chuẩn, nguồn nước không thể cấp cho mục đích ăn uống, sinh hoạt của con người do hàm lượng Phosphat, Nitrit và Nitrat cao vượt ngưỡng cho phép đối với nước cấp sinh hoạt (thuộc mức B1, B2). Nguồn nước hiện tại chỉ phù hợp cho mục đích tưới tiêu nông nghiệp, giao thông thủy và các mục đích dùng nước yêu cầu chất lượng thấp.

5. Nguyên nhân chính gây ô nhiễm Nitơ và Photpho trong dòng nước là gì?

Nguyên nhân xuất phát từ hai nguồn chính: hoạt động sản xuất nông nghiệp (ruộng lúa nước chiếm hơn 80% diện tích đất canh tác, việc lạm dụng phân hóa học, phân chuồng và thuốc bảo vệ thực vật khiến dưỡng chất dư thừa N và P bị rửa trôi trở lại suối) và hoạt động xả thải sinh hoạt (khoảng 80% người dân thỉnh thoảng và 10% người dân thường xuyên xả rác, nước thải sinh hoạt trực tiếp xuống lòng suối).


Kết luận

Khóa luận của tác giả Hoàng Văn Duy đã phản ánh chi tiết hiện trạng chất lượng dòng chảy mặt xuyên biên giới tại xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng thông qua dữ liệu quan trắc thực nghiệm 13 chỉ tiêu hóa lý - vi sinh và khảo sát 50 hộ dân địa phương. Kết quả chỉ ra nguồn nước đầu nguồn sông Bằng đang chịu áp lực ô nhiễm dinh dưỡng (Phosphat, Nitrit, Nitrat) và chất rắn lơ lửng ở mức B2 theo QCVN 08:2008/BTNMT do nước thải sinh hoạt và phân bón nông nghiệp rửa trôi. Công trình cung cấp nguồn tư liệu thực địa có giá trị khoa học và thực tiễn, làm cơ sở để địa phương hoàn thiện công tác quy hoạch bảo vệ môi trường lưu vực nước mặt vùng biên giới.