Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu chế định pháp luật về giấy phép tài nguyên nước (GPTNN) tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển tiếp quan trọng khi Luật Tài nguyên nước số 28/2023/QH15 (được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2023, có hiệu lực từ ngày 01/7/2024) chuẩn bị thay thế toàn diện cho Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13. Theo phân tích của tác giả, Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã cụ thể hóa quan điểm tài nguyên nước là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, đồng thời thiết lập hành lang pháp lý đồng bộ nhằm tách bạch quản lý tổng hợp nguồn nước với việc quản lý vận hành công trình khai thác, sử dụng nước.

Trong thực tiễn, công cụ GPTNN đã khẳng định vai trò trọng yếu trong việc kiểm soát các hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn nước, góp phần bảo vệ môi trường và đóng góp hàng chục nghìn tỷ đồng vào ngân sách nhà nước thông qua thuế tài nguyên và tiền cấp quyền khai thác. Tuy nhiên, công tác cấp phép theo các văn bản dưới luật hiện hành—cụ thể là Nghị định số 02/2023/NĐ-CP (vốn được ban hành để hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước năm 2012 trong khi được soạn thảo song song với quá trình làm Luật mới)—đang bộc lộ nhiều điểm hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tế liên quan đến căn cứ cấp phép, phân loại đối tượng, quy chuẩn nội dung giấy phép và thành phần hồ sơ. Đồng thời, sự xuất hiện của các quy định hoàn toàn mới trong Luật Tài nguyên nước năm 2023, tiêu biểu như chế định "tạm dừng thời hiệu của giấy phép tài nguyên nước", đòi hỏi phải có những nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn chuyên sâu để đề xuất giải pháp thi hành hiệu quả.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về GPTNN và hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ quản lý, sử dụng GPTNN tại Việt Nam.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành (Luật Tài nguyên nước năm 2012, Nghị định số 02/2023/NĐ-CP) và các quy định mới của Luật Tài nguyên nước năm 2023; đồng thời khảo sát thực tiễn thi hành công tác cấp phép, kiểm tra, thanh tra và nghĩa vụ tài chính.
  3. Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về GPTNN và nâng cao hiệu lực thực thi trong thực tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật điều chỉnh về GPTNN và tình hình thực tế triển khai công tác quản lý, sử dụng GPTNN của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các tổ chức, cá nhân liên quan.
  • Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, nghiên cứu áp dụng trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam; về thời gian, tập trung xem xét hệ thống văn bản pháp luật hiện hành và các quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2023 có hiệu lực từ ngày 01/7/2024.

Bố cục của khóa luận gồm 03 chương chính:

  • Chương 1: Lý luận về giấy phép tài nguyên nước, pháp luật về giấy phép tài nguyên nước.
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về giấy phép tài nguyên nước.
  • Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về giấy phép tài nguyên nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về khung lý luận, khóa luận tiếp cận bản chất của GPTNN dưới cả hai góc độ:

  • Nghĩa rộng: Là văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo thủ tục, trình tự, hình thức và nội dung luật định nhằm cho phép các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước theo các điều kiện xác định để bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước.
  • Nghĩa hẹp (dưới góc độ pháp điển hóa): Gồm giấy phép thăm dò nước dưới đất, giấy phép khai thác nước mặt, giấy phép khai thác nước dưới đất và giấy phép khai thác nước biển.

Khóa luận phân tích vai trò của GPTNN trên 4 phương diện nền tảng:

  • Góc độ quản lý: Công cụ kiểm soát ngưỡng khai thác theo tiềm năng và chức năng nguồn nước, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu, phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra và phân bổ tài nguyên theo lưu vực sông.
  • Góc độ kinh tế: Cơ sở xác định nghĩa vụ tài chính (thuế tài nguyên, tiền cấp quyền khai thác), thúc đẩy tổ chức, cá nhân áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm, tuần hoàn nước.
  • Góc độ xã hội: Hiện thực hóa quyền tiếp cận nguồn nước sạch của cộng đồng theo Điều 53 Hiến pháp năm 2013, bảo đảm cơ chế tham vấn ý kiến cộng đồng dân cư chịu tác động.
  • Góc độ an ninh quốc phòng: Đóng vai trò bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia theo định nghĩa năm 2013 của Ủy ban về Nước của Liên Hợp Quốc (UN-Water), giảm thiểu rủi ro xung đột nguồn nước.

Bên cạnh đó, tác giả luận giải 04 nguyên tắc cốt lõi trong quản lý và sử dụng GPTNN:

  1. Nguyên tắc bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên nước.
  2. Nguyên tắc bảo đảm sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
  3. Nguyên tắc bảo đảm lợi ích kinh tế (cân bằng nguồn thu ngân sách nhà nước và quyền lợi sản xuất, kinh doanh của chủ thể được cấp phép).
  4. Nguyên tắc bảo đảm điều kiện năng lực của các chủ thể được cấp giấy phép.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được khai thác và trích dẫn trực tiếp gồm: Hiến pháp năm 2013; Luật Tài nguyên nước năm 2012 (số 17/2012/QH13); Luật Tài nguyên nước năm 2023 (số 28/2023/QH15); Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 252); Nghị định số 02/2023/NĐ-CP; Nghị định số 167/2018/NĐ-CP quy định về việc hạn chế khai thác nước dưới đất; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2023/BTNMT.

Phương pháp nghiên cứu được vận dụng bao gồm:

  • Phương pháp phân tích: Sử dụng xuyên suốt các chương nhằm mổ xẻ nội dung các quy định pháp luật, phân tích bản chất pháp lý của từng nhóm quan hệ quản lý và sử dụng giấy phép.
  • Phương pháp thống kê: Ứng dụng chủ yếu tại Chương 2 để tổng hợp số liệu về cấp phép, thanh tra, kiểm tra và nguồn thu tài chính từ thuế, tiền cấp quyền khai thác ở cấp trung ương và địa phương.
  • Phương pháp tổng hợp: Liên kết các khía cạnh lý luận và thực tiễn để khái quát hóa các nhận định khoa học và luận điểm kết luận.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2023 với Luật Tài nguyên nước năm 2012 và Nghị định số 02/2023/NĐ-CP nhằm làm rõ các điểm bổ sung, sửa đổi mới.
  • Phương pháp trao đổi trực tiếp: Thu thập ý kiến thực tế từ các cán bộ quản lý nhà nước và đại diện các chủ thể sử dụng giấy phép.

Nguồn dữ liệu kế thừa từ các công trình trước đây:

  • Báo cáo tham luận "Giấy phép tài nguyên nước" của Th.S Đặng Hoàng Sơn (Trường Đại học Luật Hà Nội & Viện Friedrich Ebert Stiftung - FES, CHLB Đức).
  • Dự án "Điều tra, đánh giá tình hình cấp phép, thực hiện GP trong lĩnh vực TNN các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ" (Cục Quản lý Tài nguyên nước, 2018).
  • Dự án "Đánh giá tình hình thực thi, công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định về khai thác, sử dụng nước, bảo vệ TNN..." (Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2022-2023).
  • Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tài nguyên nước năm 2012; Số liệu từ Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Số liệu của Tổng cục Thuế (Văn bản số 3537/TCT-KK ngày 16/9/2021).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về giấy phép tài nguyên nước, pháp luật về giấy phép tài nguyên nước

Chương 1 xây dựng các luận điểm nền tảng về khái niệm, đặc trưng, phân loại và cơ sở pháp lý của GPTNN. Tác giả chỉ rõ tài nguyên nước tại Việt Nam chịu nhiều sức ép lớn về lượng và phân bố:

  • Tổng trữ lượng nước toàn quốc trung bình nhiều năm đạt khoảng 935,9 tỷ $\text{m}^3/\text{năm}$. Trong đó, nguồn nước mặt chiếm khoảng 844,4 tỷ $\text{m}^3/\text{năm}$ (nguồn nội sinh chiếm khoảng 340 tỷ $\text{m}^3/\text{năm}$, tương đương 40%; nguồn ngoại sinh chảy từ nước ngoài vào chiếm 504,4 tỷ $\text{m}^3/\text{năm}$, tương đương 60%). Dung tích trữ của các hồ chứa thủy lợi, thủy điện quy mô từ 0,05 triệu $\text{m}^3$ trở lên đạt 68,7 tỷ $\text{m}^3$.
  • Nguồn nước dưới đất có trữ lượng khoảng 91,5 tỷ $\text{m}^3/\text{năm}$ (gồm nước nhạt khoảng 69,1 tỷ $\text{m}^3/\text{năm}$ và nước mặn khoảng 22,4 tỷ $\text{m}^3/\text{năm}$).
  • Tổng lượng nước khai thác hàng năm của các ngành kinh tế đạt khoảng 117,8 tỷ $\text{m}^3$, chiếm 12,6% tổng lượng tài nguyên nước trung bình nhiều năm.

Tác giả nhấn mạnh áp lực khai thác mùa khô tại các lưu vực sông (LVS): có 09 LVS có mức độ khai thác đã vượt ngưỡng 40% (gồm LVS Bằng Giang - Kỳ Cùng, Quảng Ninh, Hồng - Thái Bình, sông Mã, sông Trà Khúc, sông Ba, sông Thu Bồn, sông Đồng Nai và LVS Srêpôk). Theo Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, có 07 LVS rơi vào tình trạng thiếu nước nghiêm trọng khi lượng khai thác vượt quá 60% lượng nước mùa khô.

Về mặt kinh tế, khóa luận trích dẫn số liệu chứng minh giá trị quản lý qua GPTNN:

  • Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tài nguyên nước năm 2012, tính đến ngày 18/11/2022, tổng số tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được phê duyệt trên toàn quốc đạt khoảng 12.790 tỷ đồng (cấp Trung ương phê duyệt 12.194 tỷ đồng, cấp địa phương phê duyệt gần 600 tỷ đồng).
  • Theo Văn bản số 3537/TCT-KK của Tổng cục Thuế, tính đến tháng 6/2021, tổng số tiền thu từ thuế tài nguyên nước đạt 49.004,16 tỷ đồng.

Về cấu trúc hệ thống pháp luật, tác giả phân định thành 3 nhóm quy phạm chính:

  1. Nhóm quy định về quản lý nhà nước đối với GPTNN: Đối tượng chịu cấp phép; nội dung, hình thức, thời hạn giấy phép; thẩm quyền cấp, gia hạn, điều chỉnh, thu hồi, đình chỉ, tạm dừng, trả lại giấy phép; trình tự, thủ tục và hồ sơ pháp lý.
  2. Nhóm quy định về sử dụng GPTNN: Quyền và nghĩa vụ pháp lý của tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép.
  3. Nhóm quy định liên quan khác: Cơ chế lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư và tổ chức, cá nhân chịu ảnh hưởng từ công trình khai thác nước.

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về giấy phép tài nguyên nước

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy định pháp luật thực định và đánh giá các điểm vướng mắc khi áp dụng vào thực tế.

1. Quy định về đối tượng phải cấp giấy phép

So sánh với Luật Tài nguyên nước năm 2012 và Nghị định số 02/2023/NĐ-CP, Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các mục đích khai thác tiêu hao và không tiêu hao, bao quát thêm các loại hình công trình mới:

  • Hoạt động sử dụng mặt nước sông, suối, kênh, mương, rạch, hồ chứa để nuôi trồng thủy sản, kinh doanh dịch vụ quy mô lớn.
  • Đào hồ, ao, kênh, mương, rạch quy mô lớn nhằm tạo không gian thu, trữ nước, dẫn nước, tạo cảnh quan.
  • Công trình ngăn sông, suối, kênh, mương, rạch quy mô lớn phục vụ tạo nguồn, ngăn mặn, chống ngập.
  • Sử dụng mặt nước hồ chứa để sản xuất điện mặt trời.
Loại hình khai thác, sử dụng Ngưỡng quy mô bắt buộc phải xin cấp GPTNN (theo Nghị định 02/2023/NĐ-CP)
Khai thác nước dưới đất Phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ từ $10\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$ trở lên.
Khai thác nước mặt Kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp từ $100\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$ trở lên.
Hồ chứa, đập dâng thủy lợi Dung tích toàn bộ từ $0,2\text{ triệu m}^3$ trở lên; hoặc cấp cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản lưu lượng từ $0,5\text{ m}^3/\text{giây}$ trở lên.
Thủy điện Khai thác nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ $50\text{ kW}$ trở lên.
Khai thác nước biển Sản xuất trên đất liền (gồm nuôi trồng thủy sản, kinh doanh, dịch vụ) từ $100.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$ trở lên.

2. Thời hạn của giấy phép

Luật Tài nguyên nước năm 2023 và các văn bản hướng dẫn quy định khung thời hạn linh hoạt:

  • Giấy phép khai thác nước dưới đất có thời hạn ngắn nhất: Tối đa 05 năm, tối thiểu 03 năm, gia hạn nhiều lần (mỗi lần 03 năm). Quy định thời hạn ngắn xuất phát từ nguy cơ sụt lún nền đất, cạn kiệt tầng chứa nước ngầm và biến động bổ cập theo mùa.
  • Giấy phép khai thác nước biển: Thời hạn tối đa 15 năm, gia hạn nhiều lần (mỗi lần 10 năm).
  • Giấy phép khai thác nước mặt: Thời hạn tối đa 10 năm, tối thiểu 05 năm, gia hạn nhiều lần (mỗi lần 05 năm).

3. Phân cấp thẩm quyền cấp phép

Cơ quan có thẩm quyền Thẩm quyền cấp, điều chỉnh, gia hạn, thu hồi GPTNN (theo Điều 28 Nghị định 02/2023/NĐ-CP)
Bộ Tài nguyên và Môi trường - Công trình quan trọng quốc gia do Thủ tướng phê duyệt.
- Thăm dò, khai thác nước dưới đất từ $3.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$ trở lên.
- Hồ chứa/đập dâng cấp cho nông nghiệp, thủy sản lưu lượng $\ge 2\text{ m}^3/\text{giây}$ và dung tích $\ge 3\text{ triệu m}^3$; hoặc công trình khác lưu lượng $\ge 5\text{ m}^3/\text{giây}$.
- Hồ chứa thủy lợi dung tích toàn bộ $\ge 20\text{ triệu m}^3$.
- Thủy điện công suất lắp máy $\ge 2.000\text{ kW}$.
- Khai thác nước mặt cho mục đích khác $\ge 50.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$.
- Khai thác nước biển trên đất liền $\ge 1.000.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh - Khai thác nước dưới đất lưu lượng $< 3.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$.
- Hồ chứa/đập dâng thủy lợi cấp nông nghiệp, thủy sản lưu lượng $< 2\text{ m}^3/\text{giây}$ và dung tích $< 3\text{ triệu m}^3$; hoặc công trình khác $< 5\text{ m}^3/\text{giây}$.
- Hồ chứa thủy lợi dung tích $< 20\text{ triệu m}^3$.
- Thủy điện công suất lắp máy $< 2.000\text{ kW}$.
- Nước mặt cho mục đích khác $< 50.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$.
Sở Tài nguyên và Môi trường Cấp giấy phép thăm dò nước dưới đất quy mô $< 3.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$ và khai thác nước biển $< 1.000.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$ theo ủy quyền của UBND tỉnh.

4. Điều kiện cấp phép và các bất cập pháp lý

Theo Điều 57 Luật Tài nguyên nước năm 2023, để được cấp GPTNN, chủ thể phải thỏa mãn 04 điều kiện:

  1. Hoàn thành lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư và tổ chức, cá nhân liên quan về tác động của công trình.
  2. Phù hợp với căn cứ cấp phép, vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất theo Nghị định số 167/2018/NĐ-CP.
  3. Bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra.
  4. Thông tin, số liệu sử dụng để lập đề án, báo cáo phải đầy đủ, chính xác.

Tác giả chỉ ra các điểm bất cập trong thực tiễn áp dụng:

  • Căn cứ cấp phép nước dưới đất dựa vào "Kế hoạch bảo vệ nước dưới đất" (Điều 30 và khoản 4 Điều 31 Luật Tài nguyên nước năm 2023) gặp khó khăn do hầu hết địa phương chưa kịp xây dựng và phê duyệt kế hoạch này.
  • Quy định về điều kiện đình chỉ, thu hồi GPTNN còn thiếu định lượng: Chưa có tiêu chí cụ thể để xác định thế nào là "ô nhiễm, cạn kiệt nghiêm trọng nguồn nước" (khi đối chiếu với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08:2023/BTNMT mức D - mức chất lượng nước rất xấu), cũng như chưa có định lượng rõ ràng cho cụm từ "vi phạm nhiều lần".
  • Quy định trả lại giấy phép cũ khi thay đổi quy mô công trình chưa ấn định thời hạn nộp lại giấy phép, dễ tạo kẽ hở lợi dụng giấy phép cũ vào mục đích vụ lợi.
  • Chế định "tạm dừng thời hiệu của GPTNN" lần đầu tiên được ghi nhận trong Luật Tài nguyên nước năm 2023 (nhằm ứng phó hạn hán, ô nhiễm, điều hòa cấp nước sinh hoạt, hoặc phục vụ duy tu công trình) nhưng Nghị định số 02/2023/NĐ-CP chưa có quy định về biểu mẫu, quy trình, thời hạn tối đa/tối thiểu và trách nhiệm bồi thường/giảm trừ tài chính liên quan.

5. Quyền và nghĩa vụ của chủ giấy phép

Phân tích Điều 42 Luật Tài nguyên nước năm 2023:

  • Quyền lợi: Khai thác đúng lưu lượng; được Nhà nước bảo hộ lợi ích; được dẫn nước chảy qua bất động sản liền kề theo Điều 252 Bộ luật Dân sự năm 2015; đề nghị tạm dừng thời hiệu giấy phép; được giảm trừ tiền cấp quyền khai thác tương ứng với số ngày và sản lượng bị cắt giảm khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu huy động điều tiết nguồn nước.
  • Nghĩa vụ: Khai thác đúng mục đích, tiết kiệm, an toàn; lắp đặt thiết bị quan trắc, truyền dữ liệu giám sát; nộp đầy đủ thuế tài nguyên và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về giấy phép tài nguyên nước

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và nâng cao hiệu lực thi hành:

  1. Hoàn thiện các quy định về căn cứ và đối tượng cấp phép:

    • Xây dựng tiêu chí định lượng cụ thể để xác định thế nào là quy mô "lớn, vừa, nhỏ" đối với các hoạt động mới được đưa vào diện quản lý của Luật Tài nguyên nước năm 2023 (đào hồ, ao, kênh mương tạo không gian trữ nước; ngăn sông ngăn mặn; sản xuất điện mặt trời trên mặt nước hồ chứa).
    • Ban hành hướng dẫn lộ trình chuyển tiếp trong thời gian các địa phương chưa hoàn thiện việc phê duyệt "Kế hoạch bảo vệ nước dưới đất".
  2. Hoàn thiện quy định về chế định tạm dừng thời hiệu GPTNN:

    • Xây dựng quy trình xử lý thủ tục tạm dừng trong nghị định hướng dẫn thi hành: Xác định rõ trường hợp tạm dừng do cơ quan nhà nước trưng dụng điều tiết nước và trường hợp do chủ thể tự đề xuất (sửa chữa, bảo trì công trình).
    • Quy định cụ thể thời hạn thông báo trước, thời gian tạm dừng tối đa, số lần tạm dừng tối đa trong một chu kỳ giấy phép, hồ sơ mẫu đơn và phương pháp khấu trừ tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
  3. Hoàn thiện quy định về chế tài và giải thích từ ngữ:

    • Làm rõ căn cứ pháp lý của hành vi "vi phạm nhiều lần" dẫn đến thu hồi giấy phép; xây dựng tiêu chí kỹ thuật cụ thể về "ô nhiễm, cạn kiệt nghiêm trọng" gắn kết trực tiếp với các ngưỡng thông số của QCVN 08:2023/BTNMT.
    • Bổ sung thời hạn bắt buộc phải nộp trả giấy phép cũ cho cơ quan nhà nước khi được cấp giấy phép mới do thay đổi quy mô công trình.
  4. Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật:

    • Tăng cường công tác lập và triển khai quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, quy hoạch tỉnh làm căn cứ xem xét cấp phép.
    • Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và chuyển đổi số: Hiện đại hóa hệ thống quan trắc tự động, kết nối dữ liệu giám sát khai thác từ cơ sở về Cục Quản lý Tài nguyên nước và các Sở Tài nguyên và Môi trường; xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung về GPTNN thống nhất giữa trung ương và địa phương.
    • Nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận một cửa / Trung tâm Phục vụ hành chính công.

Kết quả và đóng góp

Về mặt dữ liệu và phân tích:

  • Khóa luận đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về tài nguyên nước Việt Nam (trữ lượng nước mặt 844,4 tỷ $\text{m}^3/\text{năm}$, nước dưới đất 91,5 tỷ $\text{m}^3/\text{năm}$, tỷ lệ phụ thuộc nguồn nước ngoại sinh 60%) và tình trạng căng thẳng nguồn nước tại 09 lưu vực sông có mức độ khai thác vượt ngưỡng 40%.
  • Cung cấp số liệu chính xác về hiệu quả tài chính của công cụ cấp phép: Tổng tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đạt 12.790 tỷ đồng tính đến tháng 11/2022 và tổng thu thuế tài nguyên nước đạt 49.004,16 tỷ đồng tính đến tháng 6/2021.
  • Xây dựng bảng so sánh, phân định chi tiết thẩm quyền cấp phép giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp tỉnh và Sở Tài nguyên và Môi trường dựa trên các ngưỡng công suất lắp máy (thủy điện $2.000\text{ kW}$), lưu lượng khai thác nước dưới đất ($3.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$), nước mặt ($50.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$) và nước biển ($1.000.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$).

Về giải pháp và đóng góp khoa học:

  • Tác giả đã chỉ ra các khoảng trống lập pháp trong quá trình chuyển tiếp từ Luật Tài nguyên nước năm 2012 sang Luật Tài nguyên nước năm 2023, đặc biệt là sự thiếu vắng hướng dẫn chi tiết cho các đối tượng cấp phép mới và chế định tạm dừng thời hiệu GPTNN.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Các công trình trước đây (như báo cáo tham luận của Th.S Đặng Hoàng Sơn năm 2020, dự án điều tra vùng đồng bằng Bắc Bộ năm 2018 và dự án giám sát năm 2022-2023 của Cục Quản lý Tài nguyên nước) chủ yếu đánh giá thực trạng theo Luật cũ hoặc giới hạn trong phạm vi giấy phép xả thải, nước mặt đơn lẻ. Khóa luận này là công trình nghiên cứu trực diện, bao quát toàn diện các khía cạnh quy chuẩn, thẩm quyền, hồ sơ, chế tài của chế định GPTNN gắn liền với các nội dung mới của Luật Tài nguyên nước năm 2023.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Công trình được hoàn thành tại thời điểm Luật Tài nguyên nước năm 2023 mới được thông qua và chuẩn bị có hiệu lực (ngày 01/7/2024). Các nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết Luật mới đang trong giai đoạn xây dựng dự thảo, do đó các phân tích về hồ sơ, quy trình và biểu mẫu thực tế chủ yếu căn cứ trên việc áp dụng Nghị định số 02/2023/NĐ-CP của giai đoạn trước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi và đánh giá tác động thực tiễn sau khi Luật Tài nguyên nước năm 2023 và các nghị định hướng dẫn mới đi vào đời sống; mở rộng nghiên cứu thực nghiệm về cơ chế tự động hóa giám sát và tích hợp dữ liệu cấp quyền khai thác nước trên nền tảng số hóa quản lý tài nguyên.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Môi trường, Quản lý tài nguyên và môi trường; chuyên viên pháp chế tại các doanh nghiệp thủy điện, công ty khai thác công trình thủy lợi, cấp thoát nước, khu công nghiệp; cán bộ làm công tác thẩm định hồ sơ cấp phép tại Cục Quản lý Tài nguyên nước, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố.
  • Phần nội dung đáng tham khảo: Bảng phân cấp thẩm quyền chi tiết; phân tích 04 điều kiện cấp phép theo Điều 57 Luật Tài nguyên nước năm 2023; cơ sở luận giải và đề xuất khung thủ tục áp dụng cho chế định tạm dừng thời hiệu giấy phép.

Câu hỏi thường gặp

  1. Giấy phép tài nguyên nước gồm những loại nào theo quy định pháp luật hiện hành?
    Theo quy định, GPTNN bao gồm 04 loại chính: Giấy phép thăm dò nước dưới đất; Giấy phép khai thác nước mặt; Giấy phép khai thác nước dưới đất; Giấy phép khai thác nước biển.

  2. Ngưỡng thẩm quyền cấp phép giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND cấp tỉnh đối với nước dưới đất và thủy điện được phân định ra sao?
    Bộ Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền cấp phép đối với công trình thăm dò/khai thác nước dưới đất có lưu lượng từ $3.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$ trở lên và công trình thủy điện có công suất lắp máy từ $2.000\text{ kW}$ trở lên. UBND cấp tỉnh có thẩm quyền cấp phép đối với các công trình khai thác nước dưới đất dưới $3.000\text{ m}^3/\text{ngày đêm}$ và thủy điện dưới $2.000\text{ kW}$.

  3. Chủ thể xin cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước phải đáp ứng 04 điều kiện nào theo Luật Tài nguyên nước năm 2023?
    Theo Điều 57 Luật Tài nguyên nước năm 2023, chủ thể phải: (1) Hoàn thành lấy ý kiến cộng đồng dân cư và tổ chức, cá nhân liên quan; (2) Phù hợp với căn cứ cấp phép và quy định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất; (3) Bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ nguồn nước và phòng chống tác hại do nước gây ra; (4) Thông tin, số liệu lập đề án, báo cáo phải đầy đủ và chính xác.

  4. Chế định "tạm dừng thời hiệu của giấy phép tài nguyên nước" có ý nghĩa gì?
    Đây là quy định mới của Luật Tài nguyên nước năm 2023, cho phép tạm dừng khai thác có thời hạn trong các trường hợp: Cơ quan nhà nước trưng dụng để điều hòa, phân phối nguồn nước khi xảy ra hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng hoặc ô nhiễm; hoặc theo yêu cầu của chủ giấy phép để duy tu, bảo dưỡng công trình. Khi bị tạm dừng theo yêu cầu của cơ quan nhà nước, chủ giấy phép được giảm trừ tiền cấp quyền khai thác tương ứng.

  5. Tổng số tiền thu từ thuế tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được văn bản trích dẫn là bao nhiêu?
    Tính đến ngày 18/11/2022, tổng tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được phê duyệt trên toàn quốc đạt khoảng 12.790 tỷ đồng (trong đó cấp Trung ương là 12.194 tỷ đồng, địa phương gần 600 tỷ đồng). Tổng tiền thu từ thuế tài nguyên nước tính đến tháng 6/2021 là 49.004,16 tỷ đồng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lương Quang Phục đã cung cấp cái nhìn toàn diện và có hệ thống về cơ sở lý luận cũng như thực trạng pháp luật điều chỉnh giấy phép tài nguyên nước tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ những điểm mới quan trọng của Luật Tài nguyên nước năm 2023, nhận diện chính xác các bất cập về phân loại quy mô công trình, tiêu chí chế tài kỹ thuật và quy trình tạm dừng thời hiệu giấy phép. Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất mang tính đồng bộ, có giá trị đóng góp thiết thực cho việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên nước năm 2023 và nâng cao hiệu lực quản lý nguồn tài nguyên nước quốc gia.