mở đầu thử nghiệm tại LVS Dương Tử. LVS Dương Tử chiếm 20% diện tích lãnh thổ Trung Quốc, với dân số xấp xỉ 425 triệu người, đóng góp một phần tư GDP của Trung Quốc, tức là khoảng 410 tỷ USD. Hiện nay, sông Dương Tử cũng đang phải đối mặt với hàng loạt các thách thức môi trường: bão lũ, xói lở đất, ô nhiễm nước và suy giảm đa dạng sinh học. Khung quản lý tổng hợp được xây dựng cho LVS Dương Tử dựa trên 4 chủ đề, bao gồm: Hoàn thiện khung thể chế và luật pháp; Thành lập khung quản lý có sự phối hợp tham gia của các ngành liên quan, nâng cao nhận thức cộng đồng và năng lực quản lý tổng hợp LVS; Tăng cường năng lực tài chính và áp dụng các cơ chế khuyến khích, đảm bảo các thủ tục đánh giá chi phí liên quan môi trường, kinh tế, xã hội của các hoạt động phát triển kinh tế; Các sáng kiến về phương pháp luận và kỹ thuật liên quan đến quản lý tổng hợp LVS.
16 Các LVS ở châu Mỹ Ở Mỹ, để quản lý chất lượng nước sông lưu vực Minnesota, các nhà quản lý cho rằng, vấn đề ô nhiễm nước của LVS Minnesota không thể giải quyết triệt để nếu chỉ quan tâm đến việc kiểm soát nguồn thải tập trung mà bỏ qua nguồn thải phân tán. Bởi vậy, cần phải hiểu rõ mức độ, phạm vi ô nhiễm, thời gian xuất hiện ô nhiễm của các nguồn nước. Qua phân tích, đánh giá, nguồn nước sông Minnesota đang bị ô nhiễm bởi vi khuẩn, phốt pho, nitơ cũng như có sự biến đổi chu kỳ dòng chảy trong hệ thống sông, hồ. Sự suy giảm chất lượng nước của LVS Minnesota là nguyên nhân gây ra những vấn đề về chất lượng nước ở hạ lưu như hiện tượng phú dưỡng hồ chứa Pepin, đặc biệt vào mùa khô khi mà dòng chảy trong sông nhỏ.
Theo đánh giá của cơ quan quản lý LVS Minnesota, sự đóng góp lượng thải phốt pho đối với sông có sự khác nhau tại những thời điểm khác nhau. Vào mùa khô, 72% tổng lượng phốt pho thải ra sông do nguồn thải tập trung và chỉ 28% được mang tới từ nguồn phân tán. Nhưng vào mùa mưa, tỷ lệ này thay đổi ngược lại, nguồn thải phân tán đóng góp tới 90% tổng lượng phốt pho gia nhập sông và chỉ có 10% từ nguồn thải tập trung trong lưu vực. Để phục hồi chất lượng nước sông Minnesota, cơ quan quản lý LVS Minnesota tập trung vào quản lý các nguồn thải có hàm lượng và tải lượng nitơ, phốt pho và vi khuẩn lớn.
Tại Brazil, việc quản lý LVS đã được quan tâm từ những năm 80 của thế kỷ XX, cụm các đô thị Sao Paulo nằm ở thượng lưu sông Tiete gồm 39 thành phố lớn, nhỏ khác nhau bao gồm cả thành phố Sao Paulo. Do dân số đô thị lớn, lượng nước cấp cho các đô thị lên tới 60 m3/s và 80% lượng nước này được thải trở lại sông mà không qua xử lý nên ô nhiễm nước đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong LVS. Để phục hồi chất lượng nước sông, tháng 9/1991 chính phủ Brazil đã triển khai Dự án sông Tiete. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Dự án là kiểm soát phát thải từ hoạt động công nghiệp.
Trên cơ sở phân tích hiện trạng chất lượng nước và thống kê các nguồn thải công nghiệp trong LVS, Dự án đã lựa chọn các nguồn thải cần phải tiến hành biện pháp xử lý hoặc quản lý chặt chẽ như kiểm soát nước thải, bắt buộc thực hiện chương trình tự giám sát. Từ đó, các tiêu chí kiểm soát được xác lập và quy trình kiểm soát nước thải công nghiệp trong LVS Tiete được đề xuất. Như vậy, để quản lý chất lượng nước theo LVS có hiệu quả thì việc phát hiện những vấn đề về chất lượng nước và nguyên nhân phát sinh ô nhiễm nước là cần thiết. Tại Việt Nam Cùng chung xu thế phát triển của thế giới, Việt Nam đã chuyển hướng tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên nước, đặc biệt là sau khi Luật Tài nguyên nước năm 1998 được ban hành.
Tuy nhiên, qua hơn 17 năm thực hiện, Luật cũng đã bộc lộ nhiều nhược điểm, bất cập. Đáng chú ý là Luật chưa quy định đầy đủ, toàn diện một số nội dung rất quan trọng của quản lý tài nguyên nước, trong đó có bảo vệ tài nguyên nước. Năm 2012, Luật Tài nguyên nước sửa đổi đã được Quốc hội thông qua nhằm đáp ứng yêu cầu về quản lý tài nguyên nước trước các chính sách phát triển mới của đất nước và phù hợp với bối cảnh phát triển chung của toàn thế giới. Đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhu cầu sử dụng nước cho phát triển kinh tế, phục vụ dân sinh ngày càng lớn trong khi nguồn nước có hạn, đặt ra yêu cầu mới về chia sẻ nguồn nước.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu sử dụng nước phù hợp. Mặt khác, biến đổi khí hậu đang gây ra nhiều mối đe dọa đến tài nguyên nước. Trước tình hình đó, chúng ta cần củng cố mạnh mẽ công tác quản lý tổng hợp tài nguyên nước, hoàn thiện chính sách về quản lý và bảo vệ nguồn nước hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước. Mặc dù Việt Nam có 108 lưu vực sông, với 3.450 sông, suối tương đối lớn và tổng lượng nước trung bình hằng năm khoảng 830 tỷ m3, nhưng chủ yếu từ nước ngoài chảy vào và tập trung ở một số lưu vực sông lớn, lượng nước nội sinh chỉ chiếm khoảng 37% tổng lượng nước, bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 9000 m3/năm.
Nước dưới đất dù có tiềm năng ước tính khoảng 63 tỷ m3/năm nhưng chỉ tập trung ở một số khu vực như đồng bằng Bắc bộ, đồng bằng Nam bộ và khu vực Tây Nguyên. Trước yêu cầu khai thác, sử dụng bền vững, bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tài nguyên nước Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức chủ yếu sau đây: + Thứ nhất: nguồn nước có hạn, nguy cơ suy thoái, cạn kiệt nguồn nước có chiều hướng gia tăng: tăng trưởng kinh tế nhanh, đời sống người dân ngày càng cao khiến cho nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng trong khi nguồn nước thì có hạn và hiệu quả sử dụng nước còn thấp. Khai thác nước chưa được kiểm soát chặt chẽ, tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước đang ngày càng gia tăng cả về mức độ nghiêm trọng và phạm vi ảnh hưởng. 18 + Thứ hai: Lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, ngập úng, nước biển dâng, các tác động của biến đổi khí hậu tới tài nguyên nước; + Thứ ba: vấn đề hài hòa lợi ích giữa các đối tượng sử dụng nước ở thượng lưu và hạ lưu: tính cạnh tranh trong khai thác, sử dụng nguồn nước ngày càng tăng, đặc biệt là việc sử dụng nước ở thượng lưu và hạ lưu các sông lớn có hồ chứa thủy điện.
Bên cạnh đó, vấn đề sử dụng nước phía thượng lưu của các sông liên quốc gia hiện nay đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến nguồn nước Việt Nam. Gần 2/3 lượng nước của nước ta được hình thành từ ngoài lãnh thổ, nhưng chưa có cơ chế, biện pháp hiệu quả để hợp tác, chia sẻ nguồn nước giữa các quốc gia có chung nguồn nước, trong khi các quốc gia ở thượng nguồn đang tăng cường các hoạt động khai thác, sử dụng. Với những thách thức này, ngành nước cần định hướng những giải pháp thích hợp để quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước, đảm bào hài hòa về lợi ích giữa các đối tượng sử dụng, đồng thời đáp ứng được các mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. 19 CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG HIẾU 2.
Giới thiệu về lưu vực sông Hiếu 2. Giới thiệu về vị trị giới hạn, diện tích lưu vực sông Hiếu Sông Hiếu bắt nguồn từ dãy núi Pù Hoạt có đỉnh núi cao 2025 m thuộc địa phận huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Sông Hiếu nằm về phía Tây Bắc của tỉnh gồm địa phận các huyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quế Phong, thị xã Thái Hòa và 3 xã Thăng Sơn, Bình Sơn, Thọ Sơn của huyện Anh Sơn. Lưu vực sông Hiếu có diện tích 5340 km2, chiều dài dòng sông 220 km.
Sông Hiếu còn có tên gọi là sông Con khi chảy qua địa phận huyện Tân Kỳ. Sông có độ dốc trung bình 1,3o/oo, chiều rộng lòng sông trung bình 30 35 m, mật độ lưới sông 0,71 km/km2, nhập vào sông Cả tại cây Chanh (Anh Sơn). Đây là con sông lớn thứ 2 của tỉnh Nghệ An sau lưu vực sông Cả. Tùy từng khu vực địa hình sông đi qua nên có các đặc điểm khác nhau.
Lưu vực sông qua các xã Hạnh Dịch, Tiền Phong (Quế Phong), Châu Tiến, Châu Thắng, Châu Hạnh, thị trấn Châu Hội, Châu Nga, Châu Bình (Quỳ Châu), đoạn này sông dốc, lòng sông nhỏ, bđ = 5 10 m, Yên hợp, Đồng Hợp, Tam Hợp (Quỳ Hợp), Nghĩa Mai, Nghĩa Hưng, Nghĩa Thịnh, Nghĩa Thắng, Nghĩa Hồng (Nghĩa Đàn ), Phường Quang Phong, Phường Long Sơn, Phường Hưng Tiến, xã Nghĩa Hòa (Thị Xã Thái Hòa), xã Nghĩa An, Nghĩa Khánh (Nghĩa Đàn), xã Nghĩa Bình, Nghĩa Đồng, Nghĩa Thái, Nghĩa Hợp, Nghĩa Hoàn, Tân Long, Nghĩa Dũng, Kỳ Tân, Kỳ Sơn, Tân An, Hương Sơn, Nghĩa Hành, Phú Sơn (Tân kỳ), Bình Sơn, Thành Sơn ( Anh Sơn), đoạn này sông độ dốc nhỏ, độ dốc trung bình lòng sông là 1,3 o/oo , đáy sông lớn 20 45 m.1: Bản đồ các sông lớn trên địa bàn tỉnh Nghệ An (nguồn: violet.vn) Sông Hiếu có rất nhiều sông, suối nhánh đổ ra nước vào trong đó có các nhánh lớn là sông Nậm Quàng, sông Nậm Giải (Quế Phong), sông Hạt, Nậm Pòng (Quỳ Châu), sông Dinh (Quỳ Hợp), sông Sào, Khe Cải (Nghĩa Đàn) Khe Thiềm (Tân Kỳ). Điều kiện tự nhiên các địa phương lưu vực sông Hiếu Lưu vực sông Hiếu nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An qua các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, thị xã Thái Hòa nên điều kiện khí hậu mang tính chất đặc trưng chung của vùng này thể hiện như sau: Vùng Tây Bắc Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do đặc điểm địa hình, có 2 tiểu vùng khí hậu khác nhau: vùng cao mưa nhiều, độ ẩm lớn, nhiệt độ thấp; vùng thấp khí hậu ôn hoà hơn. Sự khác biệt lớn nhất giữa 2 vùng là mùa hè nhiệt độ ban ngày vùng thấp thường cao hơn 2 – 30C và độ ẩm không khí thấp hơn, nên thời tiết khô nóng.