Đặt vấn đề Nước ta đã và đang bước vào thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Công cuộc phát triển kinh tế đó đã tạo tiền đề cho sự gia tăng không ngừng trên mọi lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên sự tăng trưởng đó luôn tỷ lệ thuận với sức ép về các vấn đề môi trường. Chính vì thế đặt ra yêu cầu với xã hội nói chung và những người làm công tác bảo vệ môi trường nói riêng cũng rất lớn, trong đó công tác đào tạo đội ngũ công nhân, ký sư, cán bộ quản lý môi trường cho xã hội là đặc biệt quan trọng.
Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và trách nhiệm của chính quyền các cấp ,các cơ quan, tổ chức , đoàn thể trong việc bảo vệ môi trường nhà nước ta đã ban hành các Luật Bảo vệ môi trường, các Thông tư, Nghị định có liên quan. Để làm tốt công tác bảo vệ môi trường thì công tác quản lý môi trường là nhiệm vụ quan trọng nhất. Tuy nhiên việc thực hiện công tác quản lý nhà nước về môi trường còn gặp nhiều khó khăn do hệ thống pháp luật của nước ta chưa được chặt chẽ và còn nhiều thiếu sót. Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, tháng 10 năm 2010 thị xã Cao Bằng được công nhận là đô thị loại III đến ngày 26 tháng 9 năm 2012 đô thị này đã được nâng cấp lên thành phố.
Thành phố Cao Bằng gồm 11 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó có 8 phường: Hợp Giang, Tân Giang, Bằng Giang, Ngọc Xuân , Sông Hiến, Đề Thám Duyệt Trung, Hòa Chung và 3 xã: Chu Trinh, Hưng Đạo, Hòa An. Thành phố Cao bằng là nơi tập trung nhiều dân cư và có tố độ tăng trưởng kinh tế khá cao nên cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường. Hiện nay, công tác quản lý môi trường ở nước ta nói chung và trên địa bàn thành phố Cao Bằng nói riêng đang được đẩy mạnh một cách nhanh n 2 chóng và hoàn thiện hơn. Mục tiêu là giúp các cơ quan chức năng có những giải pháp, chính sách quản lý hợp lý nhằm ngăn chặn, phòng ngừa và giảm thiểu đến mức thấp nhất các vấn đề ô nhiễm môi trường, suy giảm môi trường, sự cố môi trường.
nhằm đảm bảo sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho nhân dân, hướng tới sự PTBV trên địa bàn thành phố Cao Bằng – tỉnh Cao Bằng. Xuất phát từ những yêu cầu trên, đồng thời được sự phân công của Khoa Môi trường và được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn Chí Hiểu, em đã tiến hành thực hiện đề tài: "Đánh giá công tác quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố Cao Bằng giai đoạn 2012 – 2014” để đưa ra một cái nhìn tổng quát về thực trạng QLMT tại TP. Cao Bằng từ đó đề ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác BVMT. Mục tiêu của đề tài 1.
mục tiêu tổng quát Đánh giá công tác quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố Cao Bằng giai đoạn 2012 – 2014. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu hiện trạng môi trường TP. - Phát hiện những khó khăn trong công tác QLNN về môi trường và từ đó đề ra những giải pháp hạn chế và khắc phục những khó khăn đó. - Nâng cao sự hiểu biết và ý thức của mọi người trong việc BVMT.
Yêu cầu của đề tài - Nắm vững những quy định trong các văn bản pháp luật của Nhà nước. - Khảo sát, đánh giá chính xác, trung thực, khách quan công tác quản lý nhà nước về môi trường tại TP. - Thu thập đầy đủ tài liệu, số liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu một cách khoa học và khách quan. n 3 - Từ tài liệu và số liệu thu thập được, rút ra những thuận lợi và những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về môi trường và đưa ra các giải pháp thiết thực phù hợp để thực hiện tốt hơn công tác quản lý môi trường của TP.Cao Bằng tỉnh Cao Bằng.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập Nâng cao kiến thức và kĩ năng , rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ công tác bảo vệ môi trường, vận dụng, phát huy và nâng cao kiến thức đã học. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học - Hoàn thiện thêm về các văn bản, quy định của Nhà nước về BVMT. - Tăng cường khả năng quản lý môi trường một cách có khoa học hơn.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Khái niệm môi trường đặc điểm và chức năng của môi trường Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.Đặc điểm của môi trường - Là hệ thống hở gồm nhiều cấp có 3 phân hệ: - Phân hệ sinh thái tự nhiên. - Phân hệ nhân văn.
- Phân hệ các điều kiện.2 Chức năng cơ bản của môi trường. - Là không gian sống của con người và các loài sinh vật. - Cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người. - Nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra.
- Giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới đời sống của con người và các sinh vật trên trái đất. - Nơi lưu trữ và cung cấp hệ thống thông tin cho con người. Khái niêm, đặc điểm và chức năng của quản lý môi trường. Khái niệm “Quản lý môi trương là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia”.TS Nguyễn Ngọc Nông (2006): Quản lý môi trường là một lĩnh vực trong quản lý xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con ngườ dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thong tin, đối n 5 với các vấn đề liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên.Vai trò của công tác quản lý nhà nước về môi trường.
Được thực hiện trong việc chỉ đạo công tác BVMT và phân phối nguồn lợi chung giữa chủ thể quản lý tài sản và xã hội. Tổ chức khai thác và sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên quốc gia và môi trường.Ngoài ra còn phối hợp với quốc tế về BVMT và PTBV.Đặc điểm của quản lý nhà nước về môi trường. a, Cơ sở của quản lý môi trường. Cơ sở triết học.
Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống rộng lớn "Tự nhiên - Con người - Xã hội", trong đó yếu tố con người giữ vai trò rất quan trọng. Sự thống nhất của hệ thống trên được thực hiện trong các chu trình sinh địa hoá của 5 thành phần cơ bản: Sinh vật sản xuất (tảo và cây xanh) có chức năng tổng hợp chất hữu cơ từ các chất vô cơ dưới tác động của quá trình quang hợp. Sinh vật tiêu thụ là toàn bộ động vật sử dụng chất hữu cơ có sẵn, tạo ra các chất thải. Sinh vật phân huỷ (vi khuẩn, nấm) có chức năng phân huỷ các chất thải, chuyển chúng thành các chất vô cơ đơn giản.
Con người và xã hội loài người. Các chất vô cơ và hữu cơ cần thiết cho sự sống của sinh vật và con người với số lượng ngày một tăng. Tính thống nhất của hệ thống "Tự nhiên - Con người - Xã hội" đòi hỏi việc giải quyết vấn đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi trường phải toàn diện và hệ thống. Con người nắm bắt cội nguồn sự thống nhất đó, phải đưa ra các phương sách thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh n 6 trong hệ thống đó.
Vì chính con người đã góp phần quan trọng vào việc phá vỡ tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa tự nhiên - con người - xã hội. Sự hình thành những chuyên ngành khoa học như quản lý môi trường, sinh thái nhân văn là sự tìm kiếm của con người nhằm nắm bắt và giải quyết các mâu thuẫn, tính thống nhất của hệ thống "Tự nhiên - Con người - Xã hội".[8] Cơ sở khoa học, kỹ thuật, công nghệ của quản lý môi trường. Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. Các nguyên tắc quản lý môi trường, các công cụ thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử lý môi trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hình thành và phát triển ngành khoa học môi trường.[8] Nhờ sự tập trung quan tâm cao độ của các nhà khoa học thế giới, trong thời gian từ năm 1960 đến nay nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trường đã được tổng kết và biên soạn thành các giáo trình, chuyên khảo.
Trong đó, có nhiều tài liệu cơ sở, phương pháp luận nghiên cứu môi trường, các nguyên lý và quy luật môi trường. Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt động sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh, ngăn ngừa. Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều nước phát triển trên thế giới.[8] Công cụ kinh tế Quản lý môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua công cụ kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hóa theo giá trị.
Loại hàng n 7 hóa có chất lượng tốt và giá thàng rẻ sữ được tiêu thụ nhanh. Trong khi đó, loại hang hóa kém chất lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng. Vì vậy, chúng ta có thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi cho công tác bảo vệ môi trường. Các công cụ kinh tế rất đa dạng gồm các loại thuế, phí và lệ phí, cota ô nhiễm, nhãn sinh thái, hệ thống các tiêu chuẩn ISO.[8] Công cụ pháp luật Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường là các văn bản về luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực môi trường.