Chương 1: Tổng quan tài liệu Chuơng 2: Đối tượng và phuơng pháp nghiên cứu Chuơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. Tổng quan ngành dệt may Ngành dệt may là một trong những ngành chủ đạo của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, liên quan đến việc sản xuất sợi, dệt nhuộm, vải, thiết kế sản phẩm, hoàn tất hàng may mặc và cuối cùng là phân phối hàng may mặc đến tay người tiêu dùng. Ngành dệt may góp phần đảm bảo nhu cầu tiêu dùng, cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt; là một ngành đem lại thặng dư xuất khẩu cho nền kinh tế; góp phần giải quyết việc làm; tăng phúc lợi xã hội. Ngành dệt may trên thế giới Trên thế giới, sự phát triển ngành công nghiệp dệt may bắt đầu từ Anh, bởi máy dệt, đan và quay sợi ban đầu được phát minh ra ở đó.
Dần dần, cotton, len, lụa, và các nguyên liệu khác bắt đầu được sản xuất với số lượng cao trên toàn thế giới. Mặc dù thực tế là ngành công nghiệp đang có nguồn gốc ở Anh, nhưng từ thế kỷ 19 sản xuất các mặt hàng dệt may thông qua vào các khu vực như Bắc Mỹ và châu Âu khi quá trình bán hàng tại những nơi này đi vào hoạt động đầy đủ. Sau đó các nước như Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực này bằng cách tự động công nghiệp hóa nền kinh tế của họ. Trung Quốc, Hồng Kông và Ấn Độ sau đó đã trở thành nhà sản xuất dệt may hàng đầu do các yếu tố quan trọng như sự dồi dào lao động giá rẻ [25].
Theo thống kê, thị trường dệt may toàn cầu hiện nay đang sở hữu trị giá hơn 400 tỷ đô la. Ngành công nghiệp này đã đối mặt với cả những cơ hội cũng như cạnh tranh gay gắt trong một môi trường cạnh tranh như vậy. Nó cũng đã được dự báo rằng sản xuất dệt may trên toàn thế giới sẽ tăng 28% từ năm 2002 đến năm 2018 và khu vực châu Á sẽ có những đóng góp đáng kể nhất. Đã có một số biện pháp của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) để nâng đỡ và tăng cường cho lĩnh vực này.
WTO cải tạo chiến lược MFA của mình và thực hiện Hiệp định về Hàng dệt và Quần áo (ATC), xác định rằng các quốc gia thành viên WTO sẽ được thoát khỏi hạn ngạch hàng dệt may [2]. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2010, Việt Nam chính thức tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tuy nhiên, khả năng gia nhập TPP cũng sẽ là một cú hích quan trọng cho ngành dệt may nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung trong giai đoạn sắp tới. Khi tham gia vào TPP, hàng hóa Việt Nam được tiếp cận các thị trường trong khối với mức thuế quan thấp hoặc bằng 0.
Hiện tại trong số các mặt hàng xuất khẩu vào Mỹ, dệt may đang có thể được hưởng lợi nhiều nhất. Thuế nhập khẩu vào Mỹ và các nước trong TPP sẽ giảm xuống bằng 0% thay vì 17% như hiện nay [5]. Ngành dệt may Việt Nam Tại Việt Nam ngành dệt may được hình thành và phát triển theo quy mô công nghiệp từ năm 1897 với nhà máy đầu tiên là nhà máy dệt Nam Định. Sau đó, ngành công nghiệp này đã nhanh chóng lớn mạnh sau Thế Chiến thứ 2 với quy mô và hình thức khác nhau.
Ở miền Nam, các doanh nghiệp được thành lập và sử dụng máy móc hiện đại của Châu Âu. Ở miền Bắc, các doanh nghiệp nhà nước do Trung Quốc, Liên Bang Xô Viết cũ và Đông Âu cùng thiết bị máy móc cũng như trong giai đoạn này. Năm 1954, sau khi miền Bắc giành độc lập, Nhà máy Dệt Nam Định và Nhà máy Dệt lụa Nam Định được khôi phục, có thêm một số nhà máy khác được xây dựng mới như Nhà máy Dệt 8/3, Nhà máy Dệt Vĩnh Phú,.Các làng nghề truyền thống, các hợp tác xã dệt may đã được khuyến khích phát triển. Sau khi Việt Nam thống nhất (tháng 4 năm 1975), Chính phủ đã tiếp quản một loạt các nhà máy ở miền Nam như Công ty Dệt Thắng Lợi, Công ty Dệt Thành Công,.
Sau đó, một số doanh nghiệp quốc doanh trung ương được xây dựng như Công ty May Hà Nội, Công ty Dệt may Nha Trang, công ty Dệt may Huế. Một số cơ quan cấp địa phương cũng thành lập các doanh nghiệp may [1]. Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây và trở thành một hoạt động sản xuất công nghiệp quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Năm 2013, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu dệt may vượt mức 20 tỷ USD và là ngành có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2 trong cả nước.
Ngành dệt may cũng là ngành sử dụng nhiều lao động chiếm tới 10,3% lực lượng lao động toàn ngành công nghiệp, là ngành giải quyết nhiều công ăn việc làm đảm 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bảo chính sách an sinh xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu công nghiệp nhằm thực hiện quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước [21]. Các vấn đề môi trường ngành dệt may Hoạt động sản xuất của ngành dệt may bao gồm nhiều công đoạn, từ kéo sợi, dệt vải, nhuộm hoàn tất, may và tiêu thụ sản phẩm. Tùy thuộc vào đặc thù của từng công đoạn sản xuất mà phát sinh ra nhiều dạng ô nhiễm như: bụi, tiếng ồn, nhiệt dư, chất thải rắn, khí thải và nước thải…. Nước thải Trong hầu hết các công đoạn của quá trình nhuộm và hoàn tất đều phát sinh nước thải, thành phần nước thải thường không ổn định, thay đổi theo loại nguyên liệu, loại thuốc nhuộm, loại hóa chất, chất trợ, quy trình công nghệ… Về cơ bản, nước thải nhuộm thường có nhiệt độ, độ màu và COD cao.
Lượng nước sử dụng trong quá trình nhuộm và hoàn tất vải có biên độ dao động lớn có thể từ 16 - 900m3/ tấn sản phẩm [13]. Nước thải từ hoạt động sinh hoạt của công nhân: chứa chủ yếu các chất cặn bã, chất lơ lửng, hợp chất hữu cơ, vi sinh vật, trứng giun, sán… Đây là các hợp chất dễ dàng bị vi sinh vật phân hủy bằng cơ chế sử dụng oxy hòa tan trong nước để oxy hóa các hợp chất hữu cơ là nguyên nhân làm giảm lượng oxy hòa tan trong nước. Nước thải từ hoạt động sản xuất: Các chất gây ô nhiễm chính có trong nước thải dệt nhuộm là tạp chất tách ra từ vải (như sáp, dầu mỡ, chất bẩn dính vào vải…) và có chứa chất độc hại trong quá trình công nghệ như NaOH, H2O2, CH3COOH, thuốc nhuộm, chất trợ màu, chất gắn màu… Nước thải dệt may được đặc trưng bởi các biến động cực đoan trong nhiều thông số như nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD), độ pH, màu sắc và độ mặn. Thành phần của nước thải sẽ phụ thuộc vào các hợp chất hữu cơ, hóa chất và thuốc nhuộm khác nhau được sử dụng trong các công đoạn.
Các hợp chất hữu cơ, màu, độc, surfactant và các hợp chất clo và muối là các chất ô nhiễm chính trong chất thải dệt may [17]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nước thải chứa tinh bột xả từ khâu hồ sợi làm giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước, ảnh hưởng đến quá trình hô hấp của các loài động thực vật thủy sinh. Ngoài ra, nước thải chứa tinh bột còn dễ xảy ra quá trình phân hủy yếm khí, gây mùi hôi thối, đó là mùi của hỗn hợp các chất khí CH4, CO2, NH3, H2S, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, mất vẻ đẹp mỹ quan, hủy diệt các động thực vật thủy sinh [3]. Quá trình xử lý sơ bộ sinh ra một số vấn đề liên quan đến môi trường do các loại hoá chất sử dụng như sau: Bảng 1.
Các vấn đề môi trƣờng ngành dệt nhuộm Công đoạn Các vấn đề môi trường - 90% các chất hồ đi vào nước thải - Tải lượng BOD, COD cao (lên tới 600.000 ppm) Giũ hồ - Các chất hồ tồng hợp không có khả năng phân hủy sinh học gây độc hại cho nguồn nước tiếp nhận nếu không qua xử lý - Gần như toàn bộ các chất chelat hóa, chất ổn định, chất điều Xử lý bằng kiềm chỉnh pH, chất mang đều sẽ có mặt trong nước thải: tăng tải (nấu chuội, kiềm lượng photpho (do polyphospgate), tăng hàm lượng kim loại bóng) nặng. - Tạo ra các chất hữu cơ có chứa Halogen nếu dùng hóa chất Tẩy trắng tẩy trắng là hypochrorite ( Nguồn: Tài liệu hướng dẫn sản xuất sạch hơn trong ngành dệt nhuộm) Trong công đoạn giũ hồ, 90% các chất hồ được thải ra theo nước thải, khiến cho dòng thải này trở thành một trong các dòng thải có độ ô nhiễm cao [1]. Các chất hồ tổng hợp không thể phân huỷ sinh học có thể thoát qua hệ thống xử lý và gây độc hại cho nguồn nước tiếp nhận. Chất thải của ngành dệt là nguyên nhân của sự xuống cấp đáng kể về môi trường và bệnh tật ở người.
Khoảng 40% chất màu được sử dụng trên toàn cầu chứa chlorine hữu cơ, một chất gây ung thư đã biết. Hóa chất bốc hơi vào trong không khí chúng ta thở hoặc được hấp thụ qua da của chúng ta; chúng xuất hiện như phản 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ứng dị ứng và có thể gây hại cho trẻ em ngay cả trước khi sinh. Do tình trạng ô nhiễm hóa học này, chức năng bình thường của tế bào bị xáo trộn và điều này có thể làm thay đổi cơ chế sinh lý và sinh hóa của động vật dẫn đến suy giảm các chức năng quan trọng như hô hấp, tích tụ, sinh sản và thậm chí tử vong. Các kim loại nặng, có trong nước thải ngành công nghiệp dệt, không bị phân huỷ sinh học; do đó, chúng tích tụ trong các cơ quan chính trong cơ thể và theo thời gian bắt đầu rụng, dẫn đến các triệu chứng bệnh khác nhau.
Do đó, chất thải không được xử lý hoặc xử lý không đầy đủ có thể gây hại cho cả sinh vật dưới nước và mặt đất do ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái tự nhiên và gây ra các ảnh hưởng lâu dài đối với sức khoẻ [18]. Khí thải Khí thải phát sinh chủ yếu từ các ống khói, lò than, lò hơi, bao gồm bụi lơ lửng, SO2, CO, tiếng ồn…. + Bụi vào phổi gây kích thích cơ học, xơ hóa phổi dẫn đến các bệnh về hô hấp như khó thở, ho và khạc đờm, ho ra máu, đau ngực.