phần mở đầu, kết luận kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chương: Tổng quan Chương2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Hoạt động khai thác khoáng sản thiếc tại Lào 1. Khái quát chung về khoáng sản kim loại thiếc [30] Thiếc là nguyên tố phổ biến thứ 49 trong vỏ Trái Đất, với nồng độ 2 ppm so với 75 ppm của kẽm, 50 ppm của đồng, và 14 ppm của chì. Thiếc là một trong những nguyên tố hóa học cơ bản thuộc nhóm IV A, chu kì 5 bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học; số thứ tự 50; nguyên tử khối 118,69; nhiệt độ nóng chày t0nc = 231,910C, nhiệt độ sôi t0nc = 22700C.
Thiếc là một kim loại màu trắng bạc, kết tinh cao, có tính chống ấn mòn và khả năng làm áo cho các kim loại khác. Thiếc có 3 dạng thù hình, biến đổi lẫn nhau ở các nhiệt độ nhất định. Thiếc có nhiều đặc tính tốt so với các kim loại khác nhƣ tính bền vững, không bị oxi hóa, không có từ tính, mềm, dễ dát mỏng, kéo sợi, nhiệt độ nóng chảy thấp, độ dẫn điện cao. Tình hình khai thác thiếc trên thế giới Bảng 1.
Trữ lượng thiếc của một số quốc gia trên thế giói [27] TT Quốc gia Khối lƣợng thiếc (1000 tấn) Tỷ lệ (%) 1 Bolivia 900 8 2 Brazil 2500 23 3 Trung Quốc 3500 32 4 Indonesia 900 8 5 Malaysia 600 5 6 Peru 1000 9 7 Các nƣớc còn lại 1600 15 Tổng trữ lƣợng quặng thiếc qua thăm dò trên thế giới ƣớc khoảng 11 triệu tấn, tập trung chủ yếu tại các nƣớc đang phát triển. Các nƣớc có trữ lƣợng thiếc lớn nhất là Trung Quốc, Brazil, Inđônêxia, Peru, Bolivia, Malaysia. Với tốc độ tiêu thụ và 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công nghệ hiện tại, trái đất sẽ hết thiếc trong vòng 40 năm tới. Trữ lƣợng quặng thiếc ở các nƣớc trên thế giới đƣợc thể hiện trong bảng 1.
Vào thập niên 1970, Malaysia là nƣớc sản xuất hiện lớn nhất 1/3 sản lƣợng toàn cầu sau đó giảm dần. Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia sản xuất thiếc lớn nhất, đến năm 2012 chiếm 45% sản lƣợng thế giới, theo sau là Indonexia và Peru, sản lƣợng thiếc khai thác trên thế giới thể hiện trong bảng 1. Sản lượng khai thác thiếc các quốc gia trên thế giới [27] Đơn vị: Tấn TT Quốc gia 2009 2010 2011 2012 2013 1 Australia 1400 7000 6500 5000 5900 2 Bolivia 19000 20200 20300 19700 18000 3 Brazil 13000 11000 11000 10800 11900 4 Trung Quốc 115000 120000 120000 110000 100000 5 Congo (Kinshasa) 9400 6700 2900 4000 4000 6 Indonesia 55000 56000 42000 41000 40000 7 Malaysia 2380 1770 3350 3000 3000 8 Peru 37500 33800 28900 26100 26100 9 Bồ Đào Nha 30 30 100 - - 10 Nga 1200 1100 160 280 280 11 Rwanda - - 1400 2300 1600 12 Nigeria 570 570 13 Myanma - - - 11000 11000 14 Lào - - - 800 800 15 Thái Lan 120 150 200 300 300 16 Các nƣớc khác 2000 2000 2000 73 70 Tổng cộng 260000 265000 244000 240000 230000 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình khai thác khoáng sản kim loại thiếc ở Lào [30] Quặng thiếc Lào có trữ lƣợng cấp C1, C2 khoảng 77.600 tấn, ở cấp P khoảng 168.000 tấn, tập trung chủ yếu ở 4 vùng: Luangprabang, Bokeo, Udomxay, Attapue, ngoài ra thiếc còn có rải rác ở Huaphan, Savanakhet, Champasak.
Vùng Luangprabang có 5 mỏ lớn, nhỏ, trong đó mỏ lớn nhất là mỏ thiếc sa khoáng Tĩnh Túc. Mỏ đƣợc khai thác từ thời thực dân Pháp. Từ năm 1970 đến 1995 mỏ sản xuất quy mô lớn theo công nghệ của Liên Xô, trong thời gian này, đã khai thác và luyện đƣợc trên 11.000 tấn thiếc thỏi. Trữ lƣợng thiếc còn lại sau năm 2010 dự kiến khoảng trên 1000 tấn, ngoài ra các bãi thải cũ còn lại khoảng 2000 tấn.
Hiện tại mỏ đang ở thời kỳ nạo vét, khai thác tận thu thù công, công suất khoảng 300 tấn thiếc thỏi/năm. Vùng Bokeo có trữ lƣợng khá lớn, cả quặng thiếc gốc và sa khoáng khoảng 27.700 tấn, trong đó quặng sa khoáng khoảng 7.412 tấn, quặng sa khoáng đƣợc khai thác từ những năm 1970 ở mỏ Hac Nom, sau đó ở các mỏ Chu Hu, Sam Hua vào những năm 1990. Sản lƣợng bình quân từ 300 - 500 tấn thiếc thỏi quy đổi/năm, đến nay quặng sa khoáng về cơ bàn đã khai thác hết, số ít còn lại ở Bac Nom. nằm dƣới ruộng lúa, không đƣợc phép khai thác.
Quặng gốc phân bố trên diện rộng nhƣng mới đƣợc thăm dò, đánh giá sơ sài. Tuy nhiên, quặng thiếc gốc cũng bị khai thác bừa bãi từ những năm 1988 đến nay, trữ lƣợng giảm sút đáng kể. Vùng Udomxay có trữ lƣợng quặng thiếc khoảng 900.000 tấn ở dạng sa khoáng, chất lƣợng tốt. Tuy nhiên, việc nghiên cứu thăm dò tài nguyên thiếc cho đến nay còn khá sơ sài.
Theo thống kế từ năm 1995 đến 2015, Công ty Khoáng sản Viêng Thông đã thu mua và sản xuất đƣợc 2.833 tấn thiếc thỏi. Ngoài ra một lƣợng lớn quặng thiếc đƣợc khai thác và bán trôi nổi cho các tổ chức, cá nhân khác nhau, ƣớc tính tổng sản lƣợng thiếc thỏi của vùng Udomxay trong thời gian này khoảng trên 1000 tấn/năm. Từ năm 2016, việc khai thác quặng thiếc trên địa bàn tỉnh Udomxay đã bị cấm do liên quan đến vẫn đề môi trƣờng và du lịch. Vùng Attapue có trữ lƣợng khoảng trên 73.000 tấn, chiếm 30% trữ lƣợng thiếc của cả nƣớc, tập trung chủ yếu ở vùng Ate, Duxum, Xacna.
Hiện nay, cả vùng Atapue có 8 mỏ quặng thiếc sa khoáng đã đƣợc điều tra, đánh giá trữ lƣợng có thể 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khai thác công nghiệp khoảng 32.171 tấn SnO2, ngoại trừ mỏ Lùnka đã khai thác cạn kiệt, các mỏ còn lại đều có hàm lƣợng từ trung bình đến trung bình thấp khoảng 300 - 700 SnO2/m3. Thiếc gốc có 2 vùng chính với tổng trữ lƣợng khoảng 23.410 tấn, trong đó khu vực Maiva có khoảng 20.685 tấn, khu vực Panoi có khoảng 2. Các lĩnh vực sử dụng kim loại thiếc Thiếc đã đƣợc sử dụng từ thời cổ đại và nó đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử loài ngƣời. Thiếc đã đƣợc chiết tách và sử dạng vào đầu thời đại đồ đồng vào khoảng năm 3000 trƣớc công nguyên.
Từ năm 1820, con ngƣời đã chế tạo sắt tây nên thiếc (Sn) đã trở thành một trong những nguyên liệu quan trọng bậc nhất, khoảng 40% tổng lƣợng thiếc dùng vào mục đích này. Hiện nay, Trung Quốc và Indonesia là những nƣớc sản xuất thiếc hàng đầu trên thế giới. Ngày nay, kim loại thiếc ngày càng đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực sản xuất. Thiếc tác dụng với axit H2SO4 tạo thành sunfat thiếc hóa trị 2, đƣợc đùng trong mạ thiếc.
Thiếc đƣợc dùng nhiều trong công nghệ thực phẩm (làm đồ hộp). Thiếc có khả năng tạo hợp kim với tất cả các kim loại, hợp kim này có nhiệt độ nóng chảy thấp, có độ bền cơ học và tính dẫn điện. Thiếc có tính chất đặc biệt là không tạo thành các hợp chất với các muối và axit hữu cơ, nên nó đƣợc dùng nhiều để sản xuất tôn trắng, đồ hộp chứa thực phẩm, chất hàn, đồng thanh, hợp kim babit chịu mài mòn. Ngoài ra, thiếc còn đƣợc dùng trong các ngành khác nhự ché tạo máy, công nghiệp quốc phòng, công nghệ vũ trụ, hóa chất, sơn dầu.
Các lĩnh vực sử dụng thiếc trên thế giới đƣợc thể hiện tại bảng 1. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lĩnh vực sử dụng thiếc trên thế giới, 2005 - 2011 [30] Đơn vị: tấn Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Hàn 168.500 Đồng thanh và 20.500 đồng thau Kính nổi 6. Các vấn đề về môi trƣờng liên quan đến hoạt động khai thác khoáng sản tại Lào 1.
Các tác động tích cực Tài nguyên khoáng sản có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo sự duy trì và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hua Phan. Các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh trong nhiều năm trở lại đây đã thực sự tạo đà cho tỉnh trở thành một trong những địa điểm phát triển công nghiệp khai khoáng lớn nhất trên cả nƣớc, có đóng góp lớn cho nguồn thu ngân sách, đƣa nền kinh tế của tỉnh từng bƣớc hội nhập vào thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế, đời sống nhân dân cũng không ngừng đƣợc nâng cao. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nƣớc, các hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới đất nƣớc. Ngành công nghiệp khai thác mỏ đã và đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Lào.
Trong những năm qua, hoạt động khai thác khoáng sản đã đóng góp tới 5,6% GDP của đất nƣớc CHDCND Lào. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt đƣợc, cũng đang phải đổi mặt với nhiều vấn đề môi trƣờng. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các tác động tiêu cực 1.
Thay đổi cảnh quan, suy giảm diện tích rừng Quá trình khai thác khoáng sản thƣờng qua ba bƣớc: mở cửa, khai thác và đóng cửa mỏ. Nhƣ vậy, tất cả các công đoạn đoạn khai thác đều tác động đến tài nguyên và môi trƣờng đất. Hơn nữa, công nghệ khai thác hiện nay chƣa hợp lý, đặt biệt các mỏ kim loại và các khu mỏ đang khai thác hầu hết nằm ở vùng núi và trung du. Vì vậy, việc khai thác khoáng sản trƣớc hết tác động đến rừng và đất rừng xung quanh vùng mỏ.
Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân làm giảm độ che phủ do rừng cây bị chạt hạ, lớp phủ thực vật bị suy giảm, đất bị thoái hoá. Hoạt động khai thác khoáng sản cũng làm cho thực vật, động vật bị giảm số lƣợng hoặc tuyệt chủng do các điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng cỏ và sông nƣớc xấu đi. Một số loài thực vật bị giảm số luọng, động vật phải di cƣ sang nơi khác. Vì dụ hoạt động khai thác Sn tại làng Huay Chƣn, huyện Quan, tỉnh Hua Phan đã gây ảnh hƣởng đến khoảng 750 ha rừng, làm cho đất nông nghiệp hiện nay so với so với năm 1995 đã giảm 79 ha, trong đó đất trồng lúa giảm khoảng 30 ha.
Do mất rừng nên nguồn nƣớc phục vụ nông nghiệp và sinh hoạt bị đe doạ, ảnh hƣởng đến đời sống cộng đồng dân cƣ, cùng với đó là diện tích đất nông, lâm nghiệp bị thu hẹp, ảnh hƣởng đến sản xuất do chiếm dụng đất nông lâm nghiệp để khai trƣờng.