Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự gia tăng dân số kết hợp với tốc độ phát triển kinh tế – xã hội làm gia tăng nhanh chóng nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Tuy nhiên, đi kèm với sự mở rộng mạng lưới y tế là áp lực ngày càng lớn đối với công tác bảo vệ môi trường do lượng chất thải y tế phát sinh liên tục. Theo niên giám thống kê năm 2014, cả nước có hơn 1.052 bệnh viện từ tuyến huyện trở lên; song phần lớn các cơ sở này chưa thiết lập được quy trình quản lý chất thải chặt chẽ, hoặc việc xử lý chất thải chỉ mang tính đối phó, không đúng quy chuẩn kỹ thuật. Chất thải y tế, đặc biệt là chất thải nguy hại và chất thải lây nhiễm, nếu không được phân loại, thu gom và xử lý an toàn sẽ trở thành nguồn lây lan dịch bệnh nguy hiểm (như virus viêm gan B, C, HIV), gây nhiễm độc hóa học và làm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất, nước, không khí tại khu vực dân cư lân cận.

Xuất phát từ thực tế quản lý môi trường tại các cơ sở y tế tuyến huyện miền núi còn nhiều khó khăn về hạ tầng và kinh phí, đề tài "Đánh giá thực trạng thu gom và quản lý chất thải rắn tại Bệnh viện Đa khoa, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2015 – 2017" được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu cụ thể:

  1. Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, quy mô hoạt động và cơ cấu tổ chức của Bệnh viện Đa khoa Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
  2. Đánh giá hiện trạng công tác phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Bể trong giai đoạn 2015 – 2017.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp quản lý và kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y tế tại đơn vị.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phát sinh, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế (bao gồm chất thải rắn sinh hoạt, chất thải y tế thông thường và chất thải y tế nguy hại).
  • Phạm vi không gian: Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Bể, địa chỉ tại Tiểu khu 2, thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (quy mô 60 giường bệnh).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thứ cấp giai đoạn 2015 – 2017; thời gian tiến hành điều tra, khảo sát thực tế và hoàn thiện báo cáo từ ngày 01/01/2018 đến ngày 30/04/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bảo vệ môi trường và quản lý chất thải y tế:

  • Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải y tế (phân định rõ: chất thải lây nhiễm sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, chất thải giải phẫu, chất thải nguy hại không lây nhiễm và chất thải y tế thông thường).
  • Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
  • Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại.
  • Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế.
  • Nghị định số 92/2010/NĐ-CP ngày 30/08/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm.

Về mặt công nghệ xử lý, tác giả tổng thuật các phương pháp xử lý chất thải rắn y tế phổ biến: phương pháp chôn lấp (chôn lấp hoàn toàn và chôn lấp có xử lý); phương pháp thiêu đốt nhiệt độ cao (nhiệt độ buồng đốt trên 1.000°C – 1.100°C, thời gian lưu cháy tối thiểu 4 giây); công nghệ lò hấp nhiệt tiệt trùng; phương pháp sinh học (nuôi giun đất, phân hủy vi sinh bằng ủ hiếu khí); và phương pháp tiệt trùng bằng hóa chất (chlorine, khí ozone, formaldehyde, ethylene...).

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu môi trường định tính và định lượng:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu báo cáo thống kê của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Bể, các báo cáo hoạt động chuyên môn và hồ sơ môi trường của Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Bể giai đoạn 2015 – 2017; các tư liệu chuyên ngành từ Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa bằng bảng hỏi: Thiết kế và phát phiếu điều tra khảo sát với tổng quy mô mẫu $n = 60$ phiếu, gồm:
    • 30 phiếu phỏng vấn cán bộ y tế (bác sĩ, y sĩ, y tá, hộ lý) và nhân viên thu gom vệ sinh của bệnh viện về nhận thức quy chế, quy trình phân loại và mã màu túi rác.
    • 30 phiếu phỏng vấn bệnh nhân và người nhà bệnh nhân điều trị tại các khoa phòng và khuôn viên bệnh viện.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm văn phòng Microsoft Word và Microsoft Excel để xử lý, lập bảng thống kê, tính toán tỷ lệ phần trăm và so sánh tải lượng chất thải.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng ô nhiễm chất thải bệnh viện trên phạm vi cả nước và tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, làm rõ ý nghĩa khoa học (củng cố kiến thức chuyên ngành khoa học môi trường, rèn luyện kỹ năng nghiên cứu thực địa) và ý nghĩa thực tiễn (cung cấp cơ sở dữ liệu cho công tác quản lý môi trường y tế tại địa phương).

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành; phân tích các nhóm chất thải rắn y tế theo đặc tính lý - hóa - sinh và mức độ nguy hại. Đánh giá chi tiết các tác động tiêu cực của chất thải y tế tới môi trường (đất, nước mặt, nước ngầm, không khí) và sức khỏe con người (nguy cơ tổn thương kép từ vật sắc nhọn, nguy cơ phơi nhiễm phóng xạ, phơi nhiễm thuốc độc tế bào chống ung thư). Phân tích ưu nhược điểm của các công nghệ xử lý chất thải hiện hành.

Tổng quan thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới (kinh nghiệm và mô hình quản lý tại Anh, CHLB Đức, Hồng Kông, Sri Lanka, Iran, Ấn Độ) và tại Việt Nam. Trích dẫn số liệu thống kê toàn quốc năm 2013 – 2014: lượng chất thải rắn y tế phát sinh khoảng 100 – 140 tấn/ngày (trong đó 16 – 30 tấn/ngày là chất thải nguy hại), định mức phát sinh bình quân đạt 0,86 kg/giường/ngày. Đối với địa bàn tỉnh Bắc Kạn, báo cáo chỉ rõ toàn tỉnh có 15 bệnh viện đa khoa, 199 trạm y tế xã/phường và 80 cơ sở khám chữa bệnh, nhưng chỉ có 6/15 bệnh viện đầu tư lò đốt rác (trong đó nhiều lò hỏng hóc hoặc thiếu kinh phí vận hành).

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định địa điểm nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Bể trong khung thời gian từ 01/01/2018 đến 30/04/2018. Chi tiết hóa 5 nội dung nghiên cứu trọng tâm và quy trình triển khai 3 nhóm phương pháp: thu thập dữ liệu thứ cấp, điều tra xã hội học bằng bảng hỏi ($n = 60$) và xử lý dữ liệu thống kê bằng Microsoft Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Trình bày toàn bộ kết quả khảo sát thực tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Bể trên các khía cạnh:

  1. Khái quát quy mô và nhân sự bệnh viện: Bệnh viện có quy mô thiết kế 60 giường bệnh, tọa lạc tại Tiểu khu 2, thị trấn Chợ Rã, bốn phía giáp khu dân cư. Tổng số cán bộ, viên chức là 80 người (71 biên chế, 9 hợp đồng lao động), bao gồm 8 bác sĩ Chuyên khoa I, 10 y sĩ, 6 dược sĩ đại học, 5 dược sĩ trung học, 22 điều dưỡng cao đẳng, 5 hộ sinh trung học, 7 kỹ thuật viên trung học, 7 hộ lý và 10 cán bộ khác.
  2. Nguồn gốc phát sinh chất thải: Phân chia thành hai nguồn chính: chất thải rắn sinh hoạt (từ hoạt động của cán bộ, nhân viên trực, bệnh nhân nội trú, người nhà người bệnh và vệ sinh ngoại cảnh) và chất thải chuyên môn y tế (từ phòng mổ, phòng khám, phòng điều trị, phòng xét nghiệm huyết học, hóa sinh, vi sinh).
  3. Tải lượng và thành phần chất thải:
    • Định mức phát sinh chất thải bình quân đạt 0,88 kg/giường bệnh/ngày. Với quy mô 60 giường, tổng lượng chất thải phát sinh là 52,8 kg/ngày.
    • Cơ cấu tỷ lệ: Chất thải rắn sinh hoạt chiếm 75% (39,6 kg/ngày; 0,66 kg/giường/ngày); chất thải y tế thông thường chiếm 11,36% (6,0 kg/ngày; 0,10 kg/giường/ngày); chất thải y tế nguy hại chiếm 13,69% (7,2 kg/ngày; 0,12 kg/giường/ngày).
    • Diễn biến giai đoạn 2015 – 2017: Khối lượng chất thải thông thường tăng nhanh từ 30 kg/ngày (2015) lên 52,8 kg/ngày (2016) và đạt 54,5 kg/ngày (2017). Khối lượng chất thải nguy hại tương đối ổn định: 6,8 kg/ngày (2015), 6,6 kg/ngày (2016) và 7,2 kg/ngày (2017).
    • Thành phần vật lý của chất thải rắn y tế: Rác hữu cơ chiếm tỷ lệ cao nhất (52,57%), đất đá và vật rắn khác (21,03%), chai túi nhựa (10,1%), bông băng và bột bó gãy xương (8,8%), thủy tinh/lọ thuốc/bơm tiêm (3,2%), giấy các loại (3,0%), kim loại và vỏ hộp (0,7%), thấp nhất là mẫu bệnh phẩm (0,6%).
STT Thành phần chất thải rắn y tế Tỷ lệ khối lượng (%)
1 Rác hữu cơ 52,57
2 Đất đá và các vật rắn khác 21,03
3 Chai, túi nhựa các loại 10,10
4 Bông băng, bột bó gãy xương 8,80
5 Thủy tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm nhựa 3,20
6 Các loại giấy 3,00
7 Kim loại, vỏ hộp kim loại 0,70
8 Bệnh phẩm 0,60
Tổng 100,00
  1. Đánh giá công tác quản lý và chu trình xử lý chất thải:
    • Phân loại và thu gom: Đội ngũ trực tiếp thu gom gồm 7 hộ lý (bình quân 1 người phụ trách 8,6 giường bệnh). Việc thu gom chất thải sinh hoạt diễn ra hàng ngày, chất thải y tế từ 1 – 2 ngày/lần. Tồn tại tình trạng phân loại chưa triệt để, rác nguy hại vẫn bị lẫn vào rác sinh hoạt và ngược lại.
    • Vận chuyển nội bộ và lưu giữ: Nhà lưu giữ rác xây dựng có mái che, nền chống thấm, có khóa và cách xa buồng bệnh. Tuy nhiên, bệnh viện chưa có đường vận chuyển riêng; nhân viên y công xách túi rác trực tiếp qua hành lang chung của người bệnh, làm rơi vãi rác và nước rỉ rác ra lối đi.
    • Vận chuyển ngoại viện và xử lý: Chất thải sinh hoạt và thông thường được ký hợp đồng với Công ty Cổ phần Môi trường (tổ vệ sinh thị trấn Chợ Rã) vận chuyển chôn lấp tại bãi rác tập trung của huyện. Chất thải y tế nguy hại được xử lý tại chỗ bằng lò đốt 2 buồng công suất 15 kg/h. Bất cập lớn là tải lượng rác nguy hại phát sinh chỉ đạt 7,2 kg/ngày, quá nhỏ so với công suất lò, buộc bệnh viện phải tích lũy rác nhiều ngày đến một tuần mới đốt một mẻ, gây lãng phí dầu vận hành và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm trong thời gian lưu trữ.
    • Hệ thống nước thải: Bệnh viện chưa có trạm xử lý nước thải y tế đạt chuẩn; nước thải từ các nhà vệ sinh chỉ qua bể tự hoại rồi thoát theo đường ống xả thẳng ra suối tự nhiên.
  2. Khảo sát nhận thức: Kết quả 30 phiếu cán bộ và 30 phiếu bệnh nhân/người nhà cho thấy 100% người được hỏi có nhận thức đúng về tác hại của chất thải bệnh viện và nhận biết được quy định phân loại theo màu sắc túi/thùng.
  3. Đề xuất giải pháp: Đưa ra hệ thống giải pháp quản lý hành chính (tăng cường tuyên truyền, kiểm tra định kỳ, trang bị bảo hộ lao động, khen thưởng – kỷ luật) và giải pháp kỹ thuật (chuẩn hóa thùng đựng rác theo 4 màu: Vàng - lây nhiễm, Đen - phóng xạ, Xanh - sinh hoạt, Trắng - tái chế; quy định thời gian lưu giữ rác tối đa không quá 48 giờ hoặc 72 giờ đối với bảo quản lạnh; thay thế dụng cụ bằng chất dẻo PVC sang cao su thiên nhiên latex; thu hồi tái sinh thủy ngân, chì; chưng cất phân đoạn dung môi benzen, toluene, xylen).

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Tổng hợp các kết luận chính về tải lượng, thành phần rác thải, hiệu quả và bất cập trong công tác quản lý chất thải tại bệnh viện; đưa ra kiến nghị cấp bách đối với Sở Y tế Bắc Kạn và UBND huyện Ba Bể về việc cấp kinh phí đầu tư hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn và hỗ trợ kinh phí vận hành lò đốt rác nguy hại.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính của nghiên cứu

Khóa luận đã định lượng hóa toàn bộ các dòng phát thải rắn tại Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Bể giai đoạn 2015 – 2017:

Chỉ số đánh giá Giá trị định lượng Ghi chú
Quy mô giường bệnh 60 giường Thiết kế thực tế của bệnh viện
Tổng nhân sự 80 người 71 biên chế, 9 hợp đồng lao động
Định mức phát sinh CTR bình quân 0,88 kg/giường/ngày Tổng lượng phát sinh: 52,8 kg/ngày
Tỷ lệ CTR sinh hoạt 75,00% Tương đương 39,6 kg/ngày (0,66 kg/giường/ngày)
Tỷ lệ CTRYT nguy hại 13,69% Tương đương 7,2 kg/ngày (0,12 kg/giường/ngày)
Tỷ lệ CTRYT thông thường 11,36% Tương đương 6,0 kg/ngày (0,10 kg/giường/ngày)
Nhân lực vệ sinh / thu gom rác 7 người Định mức: 1 người phụ trách 8,6 giường
Công suất lò đốt rác nguy hại 15 kg/h Lò đốt 2 buồng hiện đại, sử dụng dầu đốt

Đóng góp thực tiễn của tác giả

  • Cung cấp bộ dữ liệu điều tra thực địa có độ tin cậy cao về hệ số phát sinh và cơ cấu thành phần rác thải y tế tại một bệnh viện đa khoa tuyến huyện miền núi phía Bắc.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn kỹ thuật điển hình: sự mất cân đối giữa công suất thiết kế của lò đốt (15 kg/h) và tải lượng phát sinh chất thải nguy hại thực tế (7,2 kg/ngày), dẫn đến tình trạng lưu trữ rác thải nguy hại kéo dài nhiều ngày trước khi đốt.
  • Xây dựng bảng quy chuẩn màu sắc, nhãn mác lưu trữ và đề xuất các giải pháp giảm thiểu chất thải rắn y tế tại nguồn mang tính khả thi cao đối với các bệnh viện tuyến huyện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Khảo sát thực địa chỉ thực hiện tại 01 cơ sở y tế (Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Bể) với quy mô mẫu phỏng vấn nhận thức còn khiêm tốn ($n = 60$).
    • Số liệu đánh giá chất lượng nước thải y tế và khí thải lò đốt chưa được tiến hành lấy mẫu phân tích thực nghiệm tại phòng thí nghiệm chuyên sâu, mà chủ yếu kế thừa từ các tài liệu quan trắc môi trường thứ cấp của địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang mô hình xử lý chất thải rắn y tế theo cụm liên huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn nhằm tối ưu hóa công suất lò đốt 2 buồng.
    • Tiến hành lấy mẫu, đo đạc thực nghiệm các thông số ô nhiễm trong khí thải lò đốt (Dioxin/Furan, CO, bụi) và nghiên cứu thiết kế hệ thống xử lý nước thải y tế hợp khối chi phí thấp phù hợp với địa hình miền núi.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Y tế Công cộng: Tham khảo phương pháp thiết kế phiếu điều tra, phương pháp tính toán định mức dòng thải y tế theo quy mô giường bệnh và quy trình đánh giá hiện trạng quản lý môi trường cơ sở y tế.
  • Cán bộ quản lý môi trường tại các bệnh viện tuyến huyện và Trung tâm Y tế: Vận dụng bảng hướng dẫn phân loại màu sắc thùng chứa theo quy chế quản lý chất thải, các giải pháp tổ chức tuyến đường thu gom nội bộ và phương án vận hành tối ưu thiết bị thiêu đốt.

Câu hỏi thường gặp

1. Định mức phát sinh chất thải rắn y tế bình quân tại Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Bể là bao nhiêu?
Theo kết quả tính toán của đề tài, định mức phát sinh bình quân đạt 0,88 kg/giường bệnh/ngày. Với quy mô 60 giường bệnh, tổng tải lượng phát sinh hàng ngày là 52,8 kg/ngày; trong đó chất thải sinh hoạt chiếm 39,6 kg/ngày (75%), chất thải y tế nguy hại chiếm 7,2 kg/ngày (13,69%) và chất thải y tế thông thường chiếm 6,0 kg/ngày (11,36%).

2. Khối lượng chất thải rắn nguy hại và chất thải sinh hoạt qua các năm (2015 – 2017) biến động ra sao?
Khối lượng chất thải rắn thông thường có xu hướng tăng nhanh từ 30 kg/ngày (năm 2015) lên 52,8 kg/ngày (năm 2016) và 54,5 kg/ngày (năm 2017). Khối lượng chất thải y tế nguy hại dao động ở mức 6,8 kg/ngày (năm 2015), 6,6 kg/ngày (năm 2016) và 7,2 kg/ngày (năm 2017).

3. Thành phần vật lý nào chiếm tỷ lệ lớn nhất trong chất thải rắn y tế của bệnh viện?
Rác hữu cơ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 52,57%, tiếp đến là đất đá và các vật rắn khác (21,03%), chai túi nhựa các loại (10,10%), bông băng và bột bó (8,80%), thủy tinh/lọ thuốc/kim tiêm (3,20%), giấy (3,00%), kim loại (0,70%) và mẫu bệnh phẩm chiếm tỷ lệ thấp nhất là 0,60%.

4. Thiết bị xử lý chất thải nguy hại của bệnh viện là gì và gặp phải bất cập kỹ thuật nào?
Bệnh viện được trang bị lò đốt 2 buồng hiện đại có công suất thiết kế 15 kg/h. Bất cập là tải lượng rác nguy hại phát sinh thực tế chỉ đạt 7,2 kg/ngày, thấp hơn nhiều so với công suất lò. Do đó, bệnh viện không thể vận hành lò đốt hàng ngày mà phải lưu trữ dồn rác trong vài ngày hoặc hàng tuần mới đốt một lần, gây tốn kém nhiên liệu khởi động lò và tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường trong quá trình lưu trữ.

5. Bệnh viện huyện Ba Bể gặp tồn tại gì lớn nhất đối với công tác xử lý nước thải?
Bệnh viện chưa có hệ thống trạm xử lý nước thải y tế đạt chuẩn kỹ thuật môi trường. Nước thải từ các buồng bệnh và nhà vệ sinh chỉ đi qua bể tự hoại (bể phốt) sơ sài rồi theo đường ống thoát xả thẳng ra suối tự nhiên, gây ô nhiễm nguồn nước mặt khu vực xung quanh.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Ma Thị Chuyên đã phản ánh trung thực, toàn diện bức tranh quản lý chất thải rắn tại Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Bể giai đoạn 2015 – 2017 thông qua các số liệu điều tra thực địa cụ thể. Công trình làm rõ định mức phát sinh chất thải đạt 0,88 kg/giường/ngày, đồng thời chỉ ra những bất cập điển hình về thu gom nội bộ chưa có đường đi riêng, sự thiếu đồng bộ trong vận hành lò đốt rác nguy hại và tình trạng thiếu hụt trạm xử lý nước thải y tế đạt chuẩn. Các nhóm giải pháp hành chính, kỹ thuật và giảm thiểu tại nguồn do tác giả đề xuất có tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác quy hoạch và bảo vệ môi trường y tế tuyến huyện tại tỉnh Bắc Kạn.