Đặt vấn đề Hiện nay, dân số tại Việt Nam đã gần chạm ngưỡng 100 triệu người và tiếp tục gia tăng với tốc độ khoảng 0,8% (World Bank, 2022). Xu hướng hội nhập quốc tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra không ngừng, kèm với đó là sự phát triển của các khu dân cư, khu đô thị nhằm nâng cao chất lượng sống của người dân. Nhu cầu của người dân ngày càng cao tạo nên sự cạnh tranh, phát triển và mở rộng đa dạng các ngành nghề sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Như một quy luật tất yếu, quá trình này đã và đang đóng góp tích cực cho kinh tế xã hội và thúc đẩy hội nhập quốc tế tại Việt Nam.
Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế xã hội (KT-XH) cũng đã đặt ra một áp lực rất lớn đối với môi trường. Sự phát triển KT-XH đặt ra nhu cầu lớn về năng lượng và tài nguyên, áp lực dân số, khủng hoảng nhà ở, tắc nghẽn giao thông đã khiến cho lượng khí thải, nước thải và chất thải rắn ngày càng gia tăng. Trong đó, chất thải rắn phát sinh trong khu vực đô thị đặc biệt được quan tâm do sự đa dạng về thành phần chất thải và nguồn phát sinh. Quá trình phát triển KT-XH cùng với sự bùng nổ dân số đã kéo theo lượng lớn CTR, trong đó chiếm tỷ trong lớn bao gồm CTRĐT, CTR nông thôn, CTR công nghiệp…Từ năm 2010 đến năm 2019, lượng CTRĐT phát sinh tăng khoảng 135%, từ 26.224 tấn/ngày lên 35.
Trong giai đoạn 2016 – 2020, ước tính lượng phát sinh CTR tại khu vực đô thị toàn quốc tăng trung bình khoảng 10 – 16% mỗi năm. Trong đó, các khu đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và Hải Phòng dẫn đầu về lượng CTRSH phát sinh. Theo dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến năm 2025, tỷ lệ phát sinh CTRSH sẽ tăng thêm khoảng 10 – 16% (Bộ Xây Dựng, 2022). Với quan điểm, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế, ‘’Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050’’ của Việt Nam đã chú trọng mục tiêu ngăn chặn xu hướng ô nhiễm và suy thoái môi trường, hướng đến nền kinh tế theo hướng sinh thái tuần hoàn và tăng trưởng xanh.
Trong đó, một trong những nhiệm vụ chiến lược là giải quyết vấn đề môi trường trọng điểm, cấp bách, khắc phục ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường; duy trì, cải thiện chất lượng và vệ sinh môi trường. Trong hơn ba thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã chú trọng nhiều hơn công tác bảo vệ môi trường được thể hiện qua các chính sách của Đảng và Nhà Nước đặc biệt là sự phát triển và không ngừng hoàn thiện các công cụ chính sách môi trường. Tuy nhiên, vấn đề môi trường liên hệ mật thiết đối với cộng đồng dân cư, vì vậy nếu chỉ dựa vào sự điều hành và quản lý của Nhà nước thì khó mà 1 mang lại hiệu quả lâu dài. Bảo vệ môi trường là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân được quy định tại điều 4 của Luật BVMT, vì vậy cần phải có sự phối hợp giữa các bên để có thể đạt được hiệu quả bảo vệ môi trường.
Đối với nhiệm vụ BVMT tại khu vực vực đô thị thì ưu tiên giải quyết vẫn là vấn đề phát sinh CTRSH đô thị và nâng cao hiệu quả về công tác thu gom, vận chuyển và xử lý. Đánh giá sát sao về công tác quản lý và cũng như những bất cập, thách thức từ đó đề xuất các giải pháp tổng thể, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường. Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre được công nhận là đô thị loại II vào năm 2019 và đang trên mục tiêu phấn đấu trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh vào năm 2030. Thành phố hiện có 14 đơn vị hành chính với dân số hơn 126.000 người, mỗi ngày lượng rác thải thu gom và được xử lý mỗi ngày trong khu vực khoảng 90 tấn (Sở TNMT Bến Tre, 2021).
Vấn đề thực hiện công tác quản lý CTRSH phát sinh đối với thành phố Bến Tre vẫn còn nhiều khó khăn: Tỷ lệ rác thải được phân loại tại nguồn còn chưa cao; rác thải chưa thành phần hữu cơ, túi nilon và tình trạng đổ rác thải bừa bãi vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi; ý thức của người dân về BVMT còn chưa tốt… Công tác thu gom, xử lý cũng còn nhiều khó khăn như lực lượng nhân công còn quá mỏng, tiến độ hoàn thành nhà máy xử lý rác thải Bến Tre còn chậm, các bãi chôn lấp (BCL) quá tải dẫn đến phát sinh mùi và nước rỉ rác ra môi trường xung quanh. Những khó khăn trong công tác quản lý CTR tại khu vực thành phố Bến Tre đang là một bài toán đang cần có lời giải để có thể tìm ra hướng tiếp cận mới để hạn chế ô nhiễm môi trường và giải quyết vấn đề phát sinh CTRSH trên địa bàn. Từ bối cảnh đó, đề tài đưa ra mục tiêu nghiên cứu là đánh giá được thực trạng CTRSH đô thị phát sinh, CTRĐT và công tác quản lý chất thải, từ đó, đưa ra giải pháp quản lý tổng hợp chất thải hướng đến phát triển bền vững TP.2 Lịch sử nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu trên thế giới CTR luôn đi cùng sự phát triển của con người theo tiến trình lịch sử. Tuy nhiên, mãi đến khi hai cuộc cách mạng công nghiệp lần 2 và 3 diễn ra trong giai đoạn thế kỷ 19, con người mới thực sự quan tâm đến vấn đề xử lý lượng CTR phát sinh.
Louis (2004) đã có một nghiên cứu về bối cảnh lịch sử và phát triển của hệ thống quản lý CTRĐT tại Mỹ. Theo đó, vấn đề tôn giáo, mỹ quan và sức khỏe cộng đồng đã đặt nền móng sơ khai cho hệ thống quản lý CTR sơ khai tại cái thành phố cổ hơn hàng nghìn 2 năm trước công nguyên. Sự đô thị hóa do cuộc cách mạng công nghiệp giữa thế kỷ 19 là động lực chính trong việc quản lý rác thải tại các thành phố lớn ở Mỹ. Giai đoạn này, việc quản lý rác thải chủ yếu diễn ra riêng rẽ theo từng địa phương, do tình hình chính trị bị phân hóa chính vì thế việc quản lý diễn ra kém hiệu quả.
Phương pháp xử lý CTR trong giai đoạn này là chôn lấp tại các địa điểm xa dân cư, xả ra các đường nước hoặc mạng đem đốt, ngoài ra lượng thức ăn thừa và chất thải từ hoạt động chăn nuôi cũng được tận dụng làm phân bón. Đầu thế kỷ 20, sự phát triển của nền y học cùng thuyết nhiễm trùng đã làm thay đổi nhận thức và tư duy trong việc giám sát và quản lý CTRĐT khi mà CTRĐT chính là một trong những nguyên nhân phát tán mầm bệnh tại các khu vực dân cư. Giữa những năm 1940, công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh được áp dụng tại Mỹ và nhanh chóng được phổ biến cho tới tận ngày nay. Năm 1976, Đạo luật bảo tồn và phục hồi tài nguyên (RCRA) ra đời là bản sửa đổi của Đạo luật xử lý chất thải rắn năm 1965.
Trong đó, phụ đề D cung cấp các tiêu chí cho các bãi chôn lấp và các cơ sở xử lý chất thải khác, và các BCL lộ thiên bị cấm. Cho đến nay, công nghệ và tiêu chuẩn cho các cơ sở xử lý CTR dựa trên RCRA ngày càng trở nên nghiêm ngặt để có thể cân bằng giữa kinh tế và hiệu quả quản lý phục vụ cộng đồng (Garrick E. Việc quản lý CTR hiệu quả hiện nay vẫn là vấn đề gây đau đầu đối với nhiều quốc gia. Ấn Độ, quốc gia có dân số cao thứ hai thế giới đang phải đương đầu với tình trạng các bãi rác quá tải tại các khu đô thị.
Tại quốc gia Nam Á này đang tồn tại hơn 3.000 núi rác thải lớn nhỏ, trong đó phải kể đến núi rác Ghazipur tại rìa phía đông New Delhi với chiều cao hơn gần 70 mét gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng và nguy cơ cao về ảnh hưởng sức khỏe đối với người dân, được đánh giá là thủ đô ô nhiễm nhất thế giới. Để có thể kiểm soát lượng CTR phát sinh, Ashwini Patil cùng cộng sự đã đề xuất giải pháp sử dụng mô hình quản lý CTRĐT thông minh. Trong đó sử dụng Internet vạn vật kết nối để làm phương tiện hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý CTR theo thời gian thực. Mô hình mà nhóm nghiên cứu đề ra là sự phối hợp giữa việc xây dựng cơ sở dữ liệu, kết hợp với cảm biến tích hợp từ các thùng rác để tiến hành quản lý được lượng rác mà từng cá nhân mang đem đổ.
Bên cạnh đó, Nhóm nghiên cứu đã đề ra ngưỡng chất thải quy định được đổ bỏ và tiền phạt sẽ được tính dựa trên mỗi kilogram chất thải vượt ngưỡng. Để thuận tiện cho việc theo dõi giới hạn CTR còn lại trong tuần của mỗi cá nhân, cơ quan quản lý sẽ cấp tài khoản đăng ký để người dùng có để kiểm tra lượng chất thải mà họ phát sinh hàng tuần (Ashwini Patil et al. Kinh tế tuần hoàn đang là một khái niệm phổ biến rộng rãi như một trong những giải pháp để cải thiện khả năng quản lý CTRĐT. Kinh tế tuần hoàn là một hệ thống mà trong đó 3 các tài nguyên được tận dụng lại hoặc tái sử dụng, các dòng phế liệu được biến thành đầu vào để tiếp tục sản xuất.
Chính vì vậy, kinh tế tuần hoàn được xem là điều kiện tiên quyết của mục tiêu phát triển bền vững. Trong nghiên cứu của tác giả Giorgio Bertanza cùng cộng sự về ‘’Áp dụng kinh tế tuần hoàn trong quản lý CTRĐT tại các đô thị cỡ trung của Ý: Lịch sử 30 năm’ đã quan sát sự phát triển của các phương thức quản lý CTRSH tại thành bố Brescia trong giai đoạn 1990 – 2018 thông qua phân tích chi tiết dòng khối lượng chất thải, phân tích, tính toán số liệu thu hồi năng lượng. Theo đó, trong giai đoạn này các thành phần rác thải được phân loại gia tăng kể cả về chất lượng dựa trên hai chỉ số D 1 về dân số trong thời gian thực, lượng chất thải bình quân đầu người hằng năm và chỉ số D0 về thành phần phần trăm rác thải vĩ mô và phân loại thành phần rác thải.