Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT KHU DÂN CƯ 1. Khái niệm về chất thải Có nhiều khái niệm khác nhau về chất thải, Theo tác giả Lê Văn Khoa: “chất thải là mọi thứ mà con người, thiên nhiên và quá trình con người tác động vào thiên nhiên thải ra môi trường”. Chất thải là các chất hoặc vật liệu mà người chủ hay đối tượng thải ra chúng hiện tại không sử dụng và chúng bị thải bỏ. [9, tr 20-21] Còn theo tác giả Nguyễn Thị Anh Hoa, Chất thải là sản phẩm được sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao thông, sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn.
Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông. Chất thải là kim loại, hóa chất và từ các loại vật liệu khác [8, tr 3-5]. Theo Điều 2, khoản 2 Luật Bảo vệ môi trường 1993 định nghĩa: “Chất thải là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc các hoạt động khác - chất thải có thể ở dạng khí, lỏng, rắn hoặc các dạng khác”. Theo Điều 3, khoản 10, Luật BVMT 2005 định nghĩa: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”.
Theo Điều 3, khoản 12, Luật BVMT 2014 định nghĩa: “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Định nghĩa về chất thải qua các thời kỳ về cơ bản không có sự thay đổi về nguồn gốc phát thải, đó là “vật chất thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch 4 vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Luật Bảo vệ môi trường 1993 nhấn mạnh về các dạng tồn tại của chất thải, hay theo tác giả Nguyễn Thị Anh Hoa nêu khái niệm có đề cập đến các nguồn phát sinh chất thải rất cụ thể. Riêng Luật BVMT 2014 không giới hạn dạng tồn tại của chất thải, không hạn chế ở các dạng rắn, lỏng, khí mà gồm tất cả những vật chất ở tất cả các dạng được thải ra từ các hoạt động của con người.
- Chất thải rắn: Là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. - Chất thải rắn sinh hoạt: Là chất thải ở trạng thái rắn phát sinh trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày của con người từ các khu dân cư, làng mạc, trường học… Chất thải sinh hoạt hay còn gọi là rác thải sinh hoạt cần được phân loại và có biện pháp tái sử dụng, tái chế, xử lý hợp lí để thu hồi năng lượng và bảo vệ môi trường. Khoản 2,3, Điều 3, Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải rắn đã nêu rất rõ: Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại.
Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp. Theo Điều 3, khoản 13, Luật BVMT 2014 chất thải rắn nguy hại được hiểu là: “Chất thải rắn nguy hại là chất thải rắn chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác” 5 Các khái niệm trên đã được thay thế bởi các khái niệm quy định tại Điều 3, Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24//4/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu. Cụ thể như sau: “1.
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải thông thường là chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại. Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người.” Như vậy, Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24//4/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu đã ghi nhận thêm một dạng tồn tại nữa của chất thải rắn là dạng sệt (hay còn gọi là bùn thải). Nguồn gốc, phân loại và thành phần chất thải rắn sinh hoạt 1.
Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt được thải ra từ mọi hoạt động sản xuất cũng như tiêu dùng trong đời sống xã hội, trong đó lượng rác thải chiếm khối lượng lớn chủ yếu ở khu dân cư và các nhà máy, xí nghiệp [5, tr22-24]. Các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu từ các hoạt động: - Hộ gia đình (nhà ở riêng, khu trung cư, khu tập thể): Chất thải phát sinh từ nguồn này bao gồm các loại như thực phẩm thừa, thùng carton, hộp nhựa, vỏ chai, lọ thủy tinh, … và các chất độc hại được sử dụng trong gia đình như: dược phẩm bị thải bỏ, ăc quy. - Cơ quan, trường học, khu hành chính, chất thải rắn thường là giấy, túi nilong, vỏ lon, hộp nhựa,. - Nông nghiệp sử lý rác thải, thu hoạch vụ mùa, khu chăn nuôi: các chất thải rắn thường là vỏ bao, lọ thuốc bảo vệ thực vật … 6 - Du lịch giải trí như các khu công viên, tượng đài, chất thải rắn là rác cành cây, túi nilong và đồ hộp, … - Bệnh viện cơ sở y tế chất thải rắn thường là túi nilong, kim tiêm, ống nhựa, thùng cartong, … - Giao thông xây dựng, di rời, sửa chữa nhà cửa, đương xá, công trình, … các chất thải rắn thường là gạch ngói vỡ vụn, bê tông, sắt thép, … Giao thông Nhà dân khu Khu công xây dựng dân cư nghiệp, nhà máy Dịch vụ Chất thải rắn Bệnh viện, thương mại sinh hoạt cơ sở y tế (CTRSH) Cơ quan Nông nghiệp, Du lịch giải trí trường học hoạt động xử lý rác thải Hình 1.1: Các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 1.
Phân loại chất thải rắn 1. Các loại chất thải rắn * Chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải sinh ra từ các hoạt động hàng ngày của con người…Theo phương diện khoa học có thể phân các loại chất thải rắn như sau: - Chất thải thực phẩm bao gồm các loại thức ăn dư thừa, rau, quả. được sinh ra trong khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn. Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ các gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các nhà hàng, khách sạn, bếp ăn tập thể 7 của trường học bệnh viện, ký túc xá, chợ.
Loại chất thải này mang bản chất dễ bị phân huỷ sinh học, trong quá trình phân huỷ tạo ra mùi gây khó chịu, ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng ẩm. - Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và phân của các loại động vật khác. - Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga, cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu vực sinh hoạt của dân cư. - Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: Các vật chất còn lại trong quá trình đốt củi, than, rơm rạ, lá cây.
ở các gia đình, công sở, nhà hàng, nhà máy, xí nghiệp [7, tr31-33]. - Các chất thải rắn từ đường phố như lá cây, củi, nilon, vỏ bao gói. * Chất thải rắn công nghiệp Chất thải rắn công nghiệp là chất thải rắn được phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp. Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp bao gồm: - Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trong các nhà máy nhiệt điện.
- Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất. Các phế thải trong quá trình công nghệ sản xuất. - Bao bì đóng gói sản phẩm. * Chất thải xây dựng Chất thải xây dựng là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình.
Chất thải xây dựng bao gồm: - Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng. - Đất đá do việc đảo móng trong xây dựng. - Các vật liệu như kim loại, chất dẻo [4, tr18-25]. 8 * Chất thải từ nhà máy xử lý Chất thải từ nhà máy xử lý là chất thải rắn từ hệ thống xử lý nước, nước thải, nhà máy xử lý chất thải công nghiệp.
* Chất thải nông nghiệp Chất thải nông nghiệp bao gồm các vật chất loại bỏ từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như gốc rơm rạ, cây trồng, chăn nuôi, bao bì đựng phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật. * Chất thải y tế nguy hại Chất thải y tế nguy hại là chất thải có chứa các chất có chứa một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người. Theo quy chế quản lý chất thải y tế, các loại chất thải y tế được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn trong các bệnh viện, trạm xá và các trạm y tế. Các nguồn phát sinh chất thải bệnh viện bao gồm: - Các loại bông băng, gạc, nẹp, dùng trong khám bệnh, điều trị, phẫu thuật.
- Các loại kim tiêm, ống tiêm. - Các chi thể cắt bỏ, tổ chức mô cắt bỏ. - Chất thải sinh hoạt từ các bệnh nhân. - Các chất thải có chứa các chất có nồng độ cao sau đây: chì, thuỷ ngân, cadimi, asen, cianua.
- Các chất thải phóng xạ trong bệnh viện [6, tr28-31]. Lợi ích của phân loại chất thải * Lợi ích kinh tế Phân loại chất thải rắn mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Trước hết, nó tạo nguồn nguyên liệu sạch cho sản xuất phân compost. Giảm khối lượng chất thải mang đi chôn lấp, diện tích đất phục vụ cho việc chôn lấp rác cũng sẽ 9 giảm đáng kể.
Bên cạnh đó, thành phố cũng sẽ giảm được gánh nặng chi phí trong việc xử lý nước rỉ rác cũng như xử lý mùi [10, tr45-53].