Đặt vấn đề Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đã và đang được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam cùng với quá trình thâm canh tăng vụ, việc sử dụng phân bón và thuốc BVTV ngày càng gia tăng về liều lượng và chủng loại. Theo đó, CTR phát sinh từ sinh hoạt ở nông thôn, từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt và từ các làng nghề ngày càng gia tăng cả về khối lượng và tính chất độc hại (đặc biệt đối với bao bì thuốc bảo vệ thực vật, bao bì phân bón và CTR các làng nghề). Tuy nhiên, tỷ lệ thu gom CTR ở khu vực này còn thấp (khoảng 40-55%), vấn đề xử lý CTR nông nghiệp, nông thôn vẫn chưa được quan tâm đúng mức, chưa được xử lý triệt để.
Hầu hết các biện pháp thu gom và xử lý CTR nông nghiệp và nông thôn vẫn còn rất thô sơ, lạc hậu không đáp ứng yêu cầu và không đảm bảo vệ sinh môi trường. Tình trạng sử dụng bất hợp lý phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật cũng như ô nhiễm đất do các chất độc hóa học tồn lưu đang trở thành vấn đề đáng báo động ở một số tỉnh thành. Vấn đề phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn nông thôn, chất thải rắn làng nghề và chất thải trồng trọt, chăn nuôi cũng đang đặt ra nhiều thách thức. Nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động sản xuất ở các vùng nông thôn còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên nhiên liệu thấp, mặt bằng sản xuất hạn chế cùng với nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường chưa thực sự được phát huy.
Tình trạng sử dụng phân bón hóa học, thuốc BVTV không có kiểm soát dẫn đến phát sinh chất thải vô cơ có tính nguy hại như chai lọ đựng hóa chất bảo vệ thực vật, vỏ bình phun hóa chất. Năm 2008, tổng lượng phân bón vô cơ các loại được sử dụng 2,4 triệu tấn/năm dẫn tới lượng bao bì thải ra môi trường khoảng 240.000 tấn/năm bao bì các loại. Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc tỉnh Thái Nguyên có diện tích đất sản xuất nông nghiệp khoảng 15.555 ha chiếm 26,87% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện ( 57. Diện tích lúa gieo cấy hàng năm lớn nhất tỉnh từ 12.
Đời sống người dân vẫn gắn với trồng lúa. Hoạt động sản xuất canh tác đi đôi với hoạt động sử dụng Hóa chất bảo vệ thực vật ( HCBVTV). Vỏ bao bì hóa chất phát sinh chất thải rắn nguy hại là nhiều. Xuất phát từ thực tế đó , được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo: ThS.
Đặng Thị Hồng Phương, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn nguy hại trong canh tác lúa trên địa bàn huyện Đại Từ , tỉnh Thái Nguyên”.Mục đích của đề tài - Đánh giá thực trạng sử dụng và phát sinh chất thải rắn do sử dụng thuốc BVTV trong canh tác lúa tại Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn nguy hại trong hoạt động sản xuất nông nghiệp tại khu vực huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.Yêu cầu của đề tài - Số liệu, tài liệu thu thập phải chính xác. - Điều tra đánh giá chính xác hiện trạng chất thải rắn nguy hại phát sinh từ hoạt động canh tác lúa trên đại bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. -Các giải pháp đưa ra phải có ý nghĩa thực tiễn và phù hợp với địa phương.
Ý nghĩa khoa học của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Là điều kiện để củng cố kiến thức đã học trên lý thuyết, học hỏi thu thập được kinh nghiệm và bài học quý báu từ thực tiễn xản xuất. - Khái quát được hiện trạng sử dụng thuốc BVTV ở huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên để đề xuất được các giải pháp quản lý phù hợp góp phần vào việc quản lý môi trường ở huyện Đại Từ nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung. - Sự thành công của đề tài là cơ sở để nâng cao được phương pháp làm việc có khoa học có cơ sở.
Giúp sinh viên biết tổng hợp bố trí thời gian hợp lý trong công việc. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh gía được hiện trạng của việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiêp tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Đưa ra được tác động của việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiêp đối với môi trường và sức khỏe con người. - Tạo cơ sở đề xuất được các biện pháp quản lý và xử lý việc sử dụng thuốc BVTV nặng một cách phù hợp.
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho người dân địa phương. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Chất thải rắn định nghĩa, khái niệm, thuật ngữ - Định nghĩa chất thải rắn: Được sử dụng trong báo cáo được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn dùng nữa. - Quản lý chất thải rắn: Là hoạt động của các tổ chức và cá nhân nhằm giảm bớt ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người, môi trường hay mỹ quan.
Các hoạt động đó liên quan đến việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải… Quản lý chất thải rắn cũng có thể góp phần phục hồi các nguồn tài nguyên lẫn trong chất thải. - Quản lý chất thải nguy hại: Là các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại. - Vận chuyển chất thải rắn và chất thải nguy hại: Là quá trình chuyên chở chất thải rắn và chất thải nguy hại từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo việc thu gom, đóng gói, bảo quản, lưu giữ tạm thời, trung chuyển, sơ chế chất thải nguy hại. - Xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại: Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật nhằm biến đổi, loại bỏ, cách ly, tiêu huỷ hoặc phá huỷ tính chất, thành phần nguy hại của chất thải nguy hại (kể cả việc tái chế, tận thu, thiêu đốt, đồng xử lý, cô lập, chôn lấp) với mục đích cuối cùng là không gây tác động xấu đến môi trường và sức khoẻ con người.
- Tái sử dụng, tái chế chất thải: Là việc trực tiếp sử dụng lại hoặc thu hồi, tái chế lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để biến thành các 5 sản phẩm mới, hoặc các dạng năng lượng để phục vụ các hoạt động sinh hoạt và sản xuất. Chất thải nguy hại 2. Khái niệm Thuật ngữ Chất thải nguy hại lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70. Sau một thời gian nghiên cứu và phát triển, tùy thuộc vào sự phát triển khoa học lỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi nước mà hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về chất thải nguy hại.
Chẳng hạn như: - Philiphin: chất thải nguy hại là những chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, hoạt tính, có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho người và động vật. - Canada: chất thải nguy hại là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người và/hoặc môi trường. Và những chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt để loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó. - Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (12/1985): ngoài chất thải phóng xạ và chất thải y tế, chất thải nguy hại là chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn-semisolid và các bình chứa khí) mà do hoạt tính hóa học, độc tính, nổ, ăn mòn hoặc có đặc tính khác, gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúng hay khi được cho tiếp xúc với chất thải khác.
- Mỹ: có thể được coi là chất thải nguy hại khi: + Nằm trong mục chất thải nguy hại do EPA đưa ra (gồm 4 danh sách) + Có 1 trong 4 đặc tính (khi phân tích) do EPA đưa ra gồm cháy-nổ, ăn mòn, phản ứng và độc tính + Được nhà sản xuất công bố là chất thải nguy hại - Tại Việt Nam: Căn cứ theo Quy chế quản lý chất thải nguy hại của nhà nước tháng 7 năm 1999, chất thải nguy hại có thể định nghĩa như sau: “Chất 6 thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính nguy hại khác), hoặc tương tác với chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người”. Các phương pháp xử lý CTNH Chất thải nguy hại có thể được xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau: - Phương pháp hóa - lý +Hấp thu khí: Kỹ thuật này được dùng để xử lý nước ngầm bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ bay hơi với nồng độ thấp < 200mg/l, không thích hợp với chất ô nhiễm kém bay hơi. +Chưng cất (Hấp thụ hơi): Kỹ thuật được dùng để loại chất hữu cơ bay hơi và bán bay hơi trong nước thải và nước ngầm. +Xử lý đất bằng trích ly bay hơi: Kỹ thuật dùng để xử lý đất bị ô nhiễm chất hữu cơ bay hơi (VOC).
Kỹ thuật được áp dụng đối với tầng đất chưa bão hòa (nằm trên mực nước ngầm) hoặc đối với đất ô nhiễm đã được đào lên. +Hấp phụ: Là quá trình tách chất ô nhiễm trong không khí, nước bằng chất hấp phụ. Trong kỹ thuật xử lý chất thải nguy hại, chất hấp phụ thường được dùng là than hoạt tính để loại bỏ các thành phân chất hữu cơ độc hại trong nước ngầm và nước thải công nghiệp. +Oxy hóa hóc học: Đây là phương pháp sử dụng tác nhân oxy hóa để oxy hóa chất hữu cơ trong chất thải với mục đích chuyển đổi dạng hoặc thành phần chất thải là mất đi hoặc giảm độc tính của nó.
Là quá trình được xử dụng rộng rãi trong xử lý nước sinh hoạt, nước thải nguy hại và nước thải công nghiệp không độc hại hay nước thải sinh hoạt. Được dùng để Oxy hóa-khử các thành phần hữu cơ có độc tính trong nước thải, chẳng hạn như Phenol, chất BVTV, dung môi hữu cơ chứa Clo, hợp chất 7 đa vòng, benzen, toluen,.