Tổng quan luận án

Tên luận án: Đánh giá về phong cách giáo dục của cha mẹ và tự đánh giá của học sinh trung học cơ sở

Tác giả: Nguyễn Thị Anh Thư | Chuyên ngành: Tâm lý học (Mã số: 62 31 04 01) | Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội | Năm bảo vệ: 2017 | Người hướng dẫn: GS. Trần Thị Minh Đức và PGS. Trần Thu Hương


Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giai đoạn học sinh trung học cơ sở (THCS) được xác định là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang tuổi trưởng thành, trong đó những biến đổi sinh lý của tuổi dậy thì kéo theo những thay đổi tâm lý tác động trực tiếp đến khả năng tự đánh giá bản thân. Các câu hỏi thường trực — "Tôi là ai?", "Tôi là người như thế nào?", "Tôi có vai trò gì?", "Tương lai của tôi sẽ ra sao?" — thôi thúc học sinh tìm kiếm bản sắc cá nhân thông qua quá trình tự đánh giá.

Tác giả dẫn chiếu kết quả của Văn Thị Kim Cúc (2003), Đỗ Ngọc Khanh (2005) và Trần Thành Nam (2015) để làm rõ hệ quả: học sinh tự đánh giá bản thân thấp dẫn đến mặc cảm tự ti, kém sáng tạo; ngược lại, tự đánh giá quá cao dẫn đến kiêu căng và bất mãn với người xung quanh. Trong các yếu tố tác động đến tự đánh giá, phong cách giáo dục (PCGD) của cha mẹ được xác định là có ảnh hưởng đặc biệt lớn.

Tác giả nhận định rằng, mặc dù đã có khá nhiều nghiên cứu về PCGD của cha mẹ và về tự đánh giá được triển khai ở trong và ngoài nước, công trình nghiên cứu ảnh hưởng PCGD của cha mẹ đến tự đánh giá của học sinh THCS tại Việt Nam còn chưa nhiều, đặc biệt chưa có nghiên cứu đưa ra dự báo ảnh hưởng của đánh giá về PCGD đến từng lĩnh vực cụ thể của tự đánh giá.

Mục tiêu và giả thuyết nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn đánh giá của học sinh về PCGD của cha mẹ, về tự đánh giá của học sinh và ảnh hưởng đánh giá PCGD của cha mẹ đến tự đánh giá của các em; trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp hỗ trợ tâm lý - giáo dục nâng cao tự nhận thức cho học sinh.

Các giả thuyết khoa học được đặt ra gồm bốn nội dung:

  1. Đa số học sinh đánh giá cha mẹ sử dụng phong cách dân chủ hoặc dân chủ kết hợp với độc đoán hoặc tự do để giáo dục con.
  2. Có mối tương quan giữa đánh giá của học sinh về các PCGD của cha mẹ với tự đánh giá bản thân của các em.
  3. Đánh giá của học sinh về các PCGD của cha mẹ kết hợp với sự quan tâm đến đời sống tình cảm dự báo sự thay đổi cho tự đánh giá bản thân của các em theo chiều hướng tích cực.
  4. Học sinh nếu được hỗ trợ tâm lý - giáo dục về tự đánh giá bản thân và PCGD của cha mẹ thì sẽ có khả năng phù hợp theo hướng tích cực với các PCGD của cha mẹ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu đánh giá của học sinh (không phải quan điểm của cha mẹ) về các kiểu PCGD của cha mẹ, về tự đánh giá bản thân, và ảnh hưởng PCGD của cha mẹ đến tự đánh giá. Nghiên cứu giới hạn ở ba kiểu PCGD: dân chủ, độc đoán và tự do.

Phạm vi không gian: Hai trường THCS tại Hà Nội — một trường nội thành (quận Đống Đa) và một trường ngoại thành (huyện Mỹ Đức), được giữ khuyết danh trong nghiên cứu. Phạm vi thời gian: Số liệu thu thập trong giai đoạn nghiên cứu, báo cáo năm 2017.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại

Về phong cách giáo dục của cha mẹ trên thế giới:

Tác giả truy nguyên từ nghiên cứu phong cách lãnh đạo của K. Lewin (1939) — người đầu tiên hệ thống hóa ba kiểu phong cách độc đoán, dân chủ và tự do — rồi truy dấu sự chuyển hóa sang lĩnh vực giáo dục gia đình. Scharfer (1959) đề xuất hai sơ đồ ứng xử của cha mẹ theo trục tự chủ - kiểm soát và thù hận - yêu thương. Baumrind (1967) đặt mốc quan trọng khi chỉ ra ba PCGD: độc đoán (Authoritarian), dân chủ (Authoritative) và tự do/dễ dãi (Permissive), đồng thời chỉ ra hai yếu tố cấu thành là "sự đáp ứng" và "sự kỳ vọng" của cha mẹ. Maccoby và Martin (1983) kế thừa Baumrind và bổ sung PCGD thứ tư — thờ ơ/bỏ mặc (Neglecting). Buri (1991) thiết kế Bộ câu hỏi về phong cách làm cha mẹ (Parental Authority Questionnaire — PAQ) gồm 30 câu hỏi đo ba kiểu PCGD, được áp dụng phổ biến ở nhiều quốc gia. Darling và Steinberg (1994) định nghĩa PCGD là "một tập hợp những thái độ đối với trẻ và tạo ra một môi trường cảm xúc mà tại đó các hành vi của bố mẹ được biểu hiện". Kellerhals và Montandon (1991) phân ra ba kiểu giáo dục gia đình: hợp đồng, thể chế và gia trưởng. Daniel Goleman và cộng sự (2000) nghiên cứu ba năm trên hơn 3.000 nhà quản lý và đề xuất sáu loại phong cách lãnh đạo có liên quan.

Ở châu Á, Chao (1994) và Chen và cộng sự (1997) chỉ ra sự khác biệt văn hóa đáng kể, lập luận rằng mô hình của Baumrind có thể không phù hợp với bối cảnh nuôi dạy con theo kiểu Trung Quốc. Mimi Chang (2007) tiếp tục chỉ ra xung đột văn hóa trong gia đình người Mỹ gốc Trung Quốc.

Về phong cách giáo dục của cha mẹ tại Việt Nam:

Lê Thi (2003, 2011) nhìn từ góc độ giới và gia đình nhấn mạnh vai trò trung tâm của cha mẹ trong giáo dục con và nhu cầu xây dựng mối quan hệ hai chiều thay cho quan hệ quyền lực một chiều. Nguyễn Phương Thảo (2013) ghi nhận ứng xử của cha mẹ có xu hướng tiêu cực nhiều hơn tích cực khi con mắc lỗi. Trần Thị Vân Anh và Hà Thị Minh Khương (2009) khảo sát cảm nhận của trẻ vị thành niên về mối quan hệ cha mẹ - con. Nguyễn Hữu Minh (2012) nhận định mối quan hệ cha mẹ - con dần bớt tính áp đặt nhưng về cơ bản vẫn tuân thủ tôn ti trật tự truyền thống. Lê Thị Bừng (1997) phân chia ứng xử cha mẹ thành ba kiểu: độc đoán, tự do, dân chủ. Mạc Văn Trang (2003) nhìn nhận chức năng giáo dục gia đình là "xã hội hóa cá nhân". Vũ Thị Khánh Linh (2007) khảo sát thực trạng PCGD tại trường THCS và chỉ ra PCGD dân chủ chiếm ưu thế. Lưu Song Hà (2008) và Trần Thành Nam (2015) nghiên cứu liên hệ giữa PCGD và hành vi lệch chuẩn ở trẻ.

Về tự đánh giá trên thế giới:

Hướng tiếp cận đơn tuyến do Coopersmith (1967) và Rosenberg (1965, 1979) đại diện, coi tự đánh giá là một yếu tố tổng thể. Rosenberg xây dựng thang Rosenberg Self-Esteem Scale (RSE). Hướng tiếp cận đa tuyến do S. Harter (1982, 1986, 1994), Shavelson và cộng sự (1976), L'Écuyer (1978, 1990, 1997) và Sordes-Ader, Oubrayrie, de Léonardis và Safont (1994) đại diện. Nhóm Sordes-Ader (1994) xây dựng thang ETES (l'Échelle Toulousaine d'Estime de Soi) gồm 60 mệnh đề đo năm lĩnh vực: thể chất, cảm xúc, học đường, xã hội và tương lai.

Về tự đánh giá tại Việt Nam:

Văn Thị Kim Cúc (2003, 2004) nghiên cứu tổn thương tâm lý ở trẻ có cha mẹ ly hôn và mối tương quan giữa biểu tượng gia đình với tự đánh giá. Đỗ Ngọc Khanh (2005) khảo sát tự đánh giá của học sinh THCS tại Hà Nội, chỉ ra mức tự đánh giá tổng thể ở mức trung bình. Đào Lan Hương (2000) nghiên cứu tự đánh giá thái độ học toán của sinh viên. Trần Hữu Luyến, Trần Thị Minh Đức và Bùi Thị Hồng Thái (2015) khảo sát sinh viên sử dụng mạng xã hội. Trịnh Thị Linh (2016) và Trương Quang Lâm (2013) nghiên cứu từng lĩnh vực cụ thể của tự đánh giá.

Về ảnh hưởng PCGD đến tự đánh giá trên thế giới:

DeHart, Pelham và Tennen (2006) chỉ ra PCGD dân chủ và tự do có ảnh hưởng tích cực đến tự đánh giá, PCGD độc đoán có tác động tiêu cực. Hamidreza Zakeria và Maryam Karimpourb (2011) nghiên cứu trên 546 sinh viên Đại học Shiraz. Antonopoulou, Alexopoulos và Maridaki-Kassotaki (2012) nghiên cứu trên 190 học sinh tiểu học. Zora Raboteg-Saric và Marija Sakic (2014) nghiên cứu trên 401 học sinh trung học. Martínez và García (2007) nghiên cứu 1.239 vị thành niên Brazil từ 11 đến 15 tuổi; Martínez và García (2008) tiếp tục trên 1.198 trẻ từ 15 đến 18 tuổi.

Về ảnh hưởng PCGD đến tự đánh giá tại Việt Nam:

Trương Thị Khánh Hà (2011, 2012) nghiên cứu trên sinh viên và trẻ vị thành niên về liên hệ giữa PCGD của cha mẹ và tự đánh giá. Trương Quang Lâm (2012) chỉ ra cách ứng xử quan tâm tích cực của cha mẹ có ảnh hưởng mạnh nhất đến các mặt tự đánh giá của con.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các nghiên cứu tại Việt Nam chưa đưa ra được dự báo cụ thể về mức độ ảnh hưởng của từng PCGD đến từng lĩnh vực của tự đánh giá học sinh THCS; cũng chưa xem xét tác động kết hợp của PCGD và sự quan tâm đến đời sống tình cảm của con đến tự đánh giá.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng khung lý thuyết trên hai trụ cột chính:

Về PCGD của cha mẹ: Áp dụng cách phân loại ba PCGD của D. Baumrind (dân chủ, độc đoán, tự do) và sử dụng thang đo PAQ của Buri (1991) làm công cụ đo lường. Hai yếu tố cấu thành PCGD được xác định là "sự đáp ứng/quan tâm" và "sự kỳ vọng/kiểm soát" của cha mẹ, theo định nghĩa của Darling và Steinberg (1993).

Về tự đánh giá: Lựa chọn hướng tiếp cận đa tuyến của nhóm tác giả Sordes-Ader và cộng sự (1994), đo tự đánh giá trên năm lĩnh vực: thể chất, cảm xúc, học đường, xã hội và tương lai. Mô hình tự đánh giá của L'Écuyer (1978, 1990, 1997) được trình bày chi tiết với năm cấu trúc chính (cái tôi vật chất/thể chất, cái tôi cá nhân, cái tôi thích ứng, cái tôi xã hội, cái tôi không phải là tôi). Mô hình của Shavelson và cộng sự (1976) và mô hình của S. Harter (1986) cũng được trình bày để đối chiếu.

Về mặt phương pháp luận, luận án tuân theo nguyên tắc hệ thống (xem xét PCGD và tự đánh giá trong hệ thống gia đình và trường học) và nguyên tắc phát triển (xem xét sự vận động qua các giai đoạn lứa tuổi).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp theo hướng hỗn hợp (định lượng kết hợp định tính):

Phương pháp Mô tả
Nghiên cứu tài liệu Tổng quan lý luận, hệ thống hóa các công trình trong và ngoài nước
Điều tra bằng bảng hỏi Khảo sát định lượng trên mẫu chính thức
Thang đo Thang đo PCGD (thích nghi hóa từ PAQ của Buri, 1991); thang đo tự đánh giá (thích nghi hóa từ ETES)
Phỏng vấn sâu Thu thập dữ liệu định tính trên 20 khách thể (10 cha mẹ và 10 học sinh)
Phân tích chân dung tâm lý Xây dựng hai trường hợp học sinh điển hình
Thống kê toán học Phân tích số liệu định lượng (điểm trung bình, độ lệch chuẩn, tương quan, hồi quy)

Nguồn dữ liệu và mẫu nghiên cứu

Tổng mẫu điều tra chính thức là 613 khách thể, trong đó:

  • 593 học sinh THCS được điều tra bằng bảng hỏi tại hai trường THCS TK (quận Đống Đa, Hà Nội) và THCS XP (huyện Mỹ Đức, Hà Nội).
  • 20 khách thể (10 cha mẹ và 10 học sinh) được phỏng vấn sâu.

Quá trình xây dựng công cụ trải qua hai lần điều tra thử nhằm kiểm tra độ tin cậy của thang đo PCGD (kết quả ghi nhận ở Bảng 3.2 và Bảng 3.3 trong luận án).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về phong cách giáo dục của cha mẹ và tự đánh giá

Chương này hệ thống hóa tình hình nghiên cứu về PCGD của cha mẹ, về tự đánh giá và về mối quan hệ giữa hai hiện tượng này theo hai trục: nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu tại Việt Nam.

Về PCGD của cha mẹ, tác giả tổng hợp từ hướng nghiên cứu phong cách lãnh đạo (K. Lewin, 1939) đến các công trình chuyên biệt về nuôi dạy con (Baumrind, 1967; Maccoby và Martin, 1983; Buri, 1991; Darling và Steinberg, 1994). Kết quả được tổng hợp trong Bảng 1.1 cho thấy sự nhất quán trong việc xác định ba đến bốn kiểu PCGD xuyên suốt các tác giả trong 50 năm nghiên cứu. Các nghiên cứu ở Việt Nam được tiếp cận từ hai góc độ: xã hội học gia đình và giới (Lê Thi, Nguyễn Hữu Minh, Lê Thị Quý...) và tâm lý học (Lê Thị Bừng, Vũ Thị Khánh Linh, Trần Thành Nam...).

Về tự đánh giá, Bảng 1.2 trình bày chi tiết mô hình tự đánh giá của L'Écuyer (1978, 1990, 1997) với năm cấu trúc chính, mỗi cấu trúc gồm hai tiểu cấu trúc và các thể loại chi tiết. Bảng 1.3 tổng hợp tám tác giả/nhóm tác giả và các lĩnh vực tự đánh giá tương ứng mà mỗi tác giả xác định, từ hướng đơn tuyến (Coopersmith, Rosenberg) đến đa tuyến (Shavelson, Harter, L'Écuyer, Sordes-Ader, Brunot, Coslin).

Chương kết luận rằng cần có nghiên cứu bổ sung làm rõ mức độ dự báo của từng PCGD đến từng lĩnh vực cụ thể của tự đánh giá học sinh THCS.

Chương 2: Lý luận về phong cách giáo dục của cha mẹ và tự đánh giá của học sinh THCS

Chương 2 xây dựng khung khái niệm công cụ cho toàn bộ luận án.

Phần lý luận về học sinh THCS xác định độ tuổi từ 12 đến 15, tương ứng với lứa tuổi thiếu niên (11–17 tuổi theo tâm lý học phát triển). Chương trình bày ba nhóm đặc điểm tâm lý có liên quan trực tiếp đến tự đánh giá: (1) sự phát triển nhận thức và trí tuệ theo lý thuyết phát triển trí tuệ của Piaget (giai đoạn thao tác logic hình thức); (2) sự phát triển cảm xúc với đặc điểm hưng phấn chiếm ưu thế, khó kiềm chế; (3) sự phát triển tự ý thức theo quan điểm của Vưgotski và T.V. Dragunova.

Phần lý luận về PCGD của cha mẹ làm rõ khái niệm "phong cách" dựa trên định nghĩa của A. Rakhmatulina, Philip Genov, Đặng Xuân Kỳ (2004), Hoàng Lê Minh (2005), Phạm Tất Dong, Nguyễn Hải Khoát và Nguyễn Quang Uẩn (2004), Ngô Công Hoàn (2011). Hai đặc điểm của phong cách được xác định: tính tương đối ổn định và tính linh hoạt, cơ động. Luận án sử dụng định nghĩa PCGD của cha mẹ của tác giả Vũ Thị Khánh Linh (2012): "hệ thống thái độ, hành động tương đối ổn định được cha mẹ sử dụng trong quá trình giáo dục con, trở thành sắc thái riêng của mỗi cha mẹ và được các con cảm nhận và tiếp nhận".

Chương trình bày đặc điểm của ba PCGD (dân chủ, độc đoán, tự do) theo Baumrind và các lý luận về yếu tố ảnh hưởng đến PCGD của cha mẹ cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá của học sinh THCS.

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả quá trình nghiên cứu theo ba giai đoạn: (1) xây dựng cơ sở lý luận; (2) xây dựng công cụ và tiến hành điều tra thực tiễn; (3) nghiên cứu hai trường hợp học sinh và đề xuất biện pháp.

Đặc điểm mẫu nghiên cứu định lượng được trình bày chi tiết trong Bảng 3.1. Quá trình thích nghi hóa thang đo PCGD được thực hiện qua hai lần điều tra thử, kết quả độ tin cậy ghi nhận tương ứng ở Bảng 3.2 (lần 1) và Bảng 3.3 (lần 2). Phần phương pháp phỏng vấn sâu và phân tích chân dung tâm lý được mô tả là công cụ bổ trợ định tính, áp dụng trên 10 cha mẹ và 10 học sinh. Phương pháp thống kê toán học được ghi nhận sử dụng để xử lý số liệu định lượng với các đại lượng điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC) và phân tích tương quan, hồi quy.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu đánh giá về phong cách giáo dục của cha mẹ và tự đánh giá của học sinh THCS

Chương kết quả triển khai theo bốn mảng chính:

Thực trạng đánh giá của học sinh về PCGD của cha mẹ: Biểu đồ 4.1 cho thấy học sinh có xu hướng đánh giá cha mẹ sử dụng PCGD dân chủ là chính. Bảng 4.4 trình bày phân bố tỉ lệ đánh giá của học sinh về ba PCGD. Kết quả nghiên cứu xác định cha mẹ không sử dụng một kiểu PCGD thuần túy mà có sự kết hợp, dẫn đến tám kiểu PCGD kết hợp. Biểu đồ 4.3 thể hiện đánh giá của học sinh về sự thống nhất trong PCGD của cha mẹ.

Thực trạng tự đánh giá của học sinh THCS: Biểu đồ 4.4 trình bày các khía cạnh tự đánh giá của học sinh. Bảng 4.5 ghi nhận tự đánh giá cảm xúc của học sinh THCS. Biểu đồ 4.5 và 4.6 thể hiện tự đánh giá cái tôi tương lai tích cực và tiêu cực; biểu đồ 4.7 và 4.8 thể hiện tự đánh giá cái tôi gia đình tích cực và tiêu cực.

Các yếu tố ảnh hưởng và mối quan hệ giữa PCGD với tự đánh giá: Bảng 4.7 trình bày tự đánh giá nhìn từ giới tính của học sinh. Bảng 4.8 trình bày tự đánh giá nhìn từ kiểu người hướng nội - hướng ngoại. Bảng 4.6 và biểu đồ 4.9 mô tả mối quan hệ giữa PCGD và hoạt động quan tâm của cha mẹ. Sơ đồ 4.3 trình bày tổng thể mối quan hệ giữa PCGD của cha mẹ và tự đánh giá của học sinh.

Các bảng 4.9 đến 4.17 lần lượt phân tích ảnh hưởng của từng PCGD (dân chủ, độc đoán, tự do) và PCGD kết hợp với sự quan tâm đến tự đánh giá trên từng lĩnh vực (cảm xúc, tương lai, gia đình). Bảng 4.18, 4.19, 4.20 trình bày mối quan hệ giữa PCGD kết hợp và tự đánh giá cảm xúc, tương lai và gia đình.

Nghiên cứu trường hợp: Hai trường hợp học sinh được phân tích theo phương pháp chân dung tâm lý — một học sinh đánh giá cha mẹ có PCGD độc đoán (sơ đồ 4.4 mô tả các mối quan hệ ảnh hưởng đến tự đánh giá của B) và một học sinh đánh giá cha mẹ có PCGD tự do (sơ đồ 4.5 mô tả các mối quan hệ ảnh hưởng đến tự đánh giá của H).


Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về lý luận

Tác giả xác định các đóng góp lý luận gồm:

  • Tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về PCGD của cha mẹ, tự đánh giá của học sinh và ảnh hưởng PCGD của cha mẹ đến tự đánh giá.
  • Bổ sung vào hệ thống nghiên cứu lý luận về PCGD của cha mẹ và tự đánh giá.
  • Làm rõ ảnh hưởng PCGD của cha mẹ đến tự đánh giá của học sinh THCS.
  • Chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá bản thân của học sinh.
  • Kết quả lý luận có thể được dùng làm tài liệu học tập trong các lĩnh vực Tâm lý học nhân cách, Tâm lý học xã hội và Tâm lý học Tham vấn.

Các đóng góp mới về thực tiễn

  • Chỉ ra thực trạng PCGD của cha mẹ dưới lăng kính của học sinh: học sinh đánh giá cha mẹ có xu hướng PCGD dân chủ là chính; cha mẹ không sử dụng một kiểu PCGD thuần túy mà có sự kết hợp (tám kiểu PCGD kết hợp).
  • Chỉ ra mối tương quan giữa đánh giá về PCGD và tự đánh giá: PCGD dân chủ và tự do có mối tương quan thuận với tự đánh giá cảm xúc, tương lai và gia đình; PCGD độc đoán có mối tương quan nghịch trên các lĩnh vực này.
  • Xác định PCGD dân chủ và PCGD độc đoán có tác động nhiều nhất đến tự đánh giá gia đình; PCGD tự do có tác động nhiều nhất đến tự đánh giá tương lai.
  • Chỉ ra rằng PCGD kết hợp với sự quan tâm đến đời sống tình cảm của con là yếu tố làm tăng tự đánh giá của các em.

Kiến nghị và biện pháp đề xuất

Luận án đề xuất biện pháp hỗ trợ tâm lý - giáo dục nâng cao tự nhận thức cho học sinh, hướng đến ba nhóm đối tượng:

  • Đối với học sinh: Các biện pháp hỗ trợ tự nhận thức về bản thân để thích ứng tích cực hơn với PCGD của cha mẹ.
  • Đối với cha mẹ: Gợi mở về cách điều chỉnh PCGD và tăng cường sự quan tâm đến đời sống tình cảm của con.
  • Đối với nhà trường: Vai trò phối hợp trong hỗ trợ tâm lý cho học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Tác giả tự xác định một số hướng cần tiếp tục mở rộng:

  • Nghiên cứu trên cha mẹ nhằm so sánh đánh giá của cha mẹ và con về cùng vấn đề PCGD — luận án hiện chỉ thu thập quan điểm từ phía học sinh, không nghiên cứu trực tiếp trên cha mẹ.
  • Thiết kế thang đo có khả năng đo được cụ thể PCGD kết hợp của cha mẹ, thay vì chỉ đo ba PCGD riêng lẻ rồi suy luận về sự kết hợp.

Từ phạm vi nghiên cứu, có thể nhận thấy thêm rằng mẫu giới hạn ở hai trường thuộc địa bàn Hà Nội (nội thành và ngoại thành) nên khả năng khái quát hóa kết quả ra các vùng địa lý và văn hóa khác (miền Trung, miền Nam, khu vực dân tộc thiểu số) cần được xem xét thận trọng.


Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo với các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh và giảng viên tâm lý học quan tâm đến tâm lý học nhân cách, tâm lý học phát triển lứa tuổi thiếu niên và tâm lý học tham vấn: phần tổng quan lý luận (Chương 1, Chương 2) cung cấp một hệ thống hóa tương đối đầy đủ về hai khái niệm PCGD và tự đánh giá theo truyền thống nghiên cứu quốc tế và trong nước.
  • Chuyên viên tham vấn học đường và nhà giáo dục: phần nghiên cứu trường hợp (Chương 4) và phần biện pháp đề xuất cung cấp gợi ý thực hành khi làm việc với học sinh THCS có vấn đề liên quan đến tự đánh giá.
  • Người làm chính sách giáo dục và gia đình: kết quả thực trạng về PCGD và tác động của nó đến tự đánh giá học sinh có thể hỗ trợ thiết kế các chương trình giáo dục cha mẹ.
  • Sinh viên ngành tâm lý học và giáo dục học: phần lý luận về học sinh THCS, về PCGD và về tự đánh giá (Chương 2) có thể được sử dụng như tài liệu học tập.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án nghiên cứu PCGD của cha mẹ dưới góc độ nào — của cha mẹ hay của học sinh?

Luận án tập trung vào cảm nhận/đánh giá của học sinh về PCGD của cha mẹ, không nghiên cứu trực tiếp trên cha mẹ. Đây là giới hạn được tác giả chủ động xác lập, với lý do ảnh hưởng đến tự đánh giá của học sinh được xem xét thông qua tri giác của chính các em.

2. Thang đo PCGD và thang đo tự đánh giá mà luận án sử dụng là gì?

Thang đo PCGD được thích nghi hóa từ Bộ câu hỏi về phong cách làm cha mẹ (PAQ) của Buri (1991), gồm 30 câu hỏi đo ba kiểu PCGD (dân chủ, độc đoán, tự do). Thang đo tự đánh giá được thích nghi hóa từ thang ETES của Sordes-Ader và cộng sự (1994), đo tự đánh giá trên năm lĩnh vực. Cả hai công cụ đều trải qua hai lần điều tra thử để kiểm tra độ tin cậy (kết quả ghi ở Bảng 3.2 và Bảng 3.3).

3. PCGD nào của cha mẹ có tác động mạnh nhất đến tự đánh giá của học sinh THCS?

Theo kết quả nghiên cứu, PCGD dân chủ và PCGD độc đoán có tác động nhiều nhất đến tự đánh giá gia đình của học sinh; PCGD tự do có tác động nhiều nhất đến tự đánh giá tương lai của các em. PCGD dân chủ và tự do có mối tương quan thuận với tự đánh giá trên lĩnh vực cảm xúc, tương lai và gia đình; PCGD độc đoán có mối tương quan nghịch trên các lĩnh vực này (Bảng 4.10, 4.13, 4.16).

4. Khi cha mẹ kết hợp nhiều PCGD, tác động đến tự đánh giá của học sinh thay đổi như thế nào?

Kết quả nghiên cứu cho thấy PCGD (dân chủ, độc đoán hoặc tự do) khi kết hợp thêm yếu tố quan tâm đến đời sống tình cảm của con thì làm tăng tự đánh giá của các em. Luận án xác định tám kiểu PCGD kết hợp trong thực tế, và mối quan hệ giữa các kiểu kết hợp này với tự đánh giá cảm xúc, tương lai, gia đình được trình bày ở Bảng 4.18, 4.19, 4.20.

5. Hai trường hợp nghiên cứu trong Chương 4 được phân tích theo phương pháp gì và cho thấy điều gì?

Hai trường hợp học sinh được phân tích theo phương pháp chân dung tâm lý: trường hợp học sinh B (đánh giá cha mẹ có PCGD độc đoán) và học sinh H (đánh giá cha mẹ có PCGD tự do). Sơ đồ 4.4 và 4.5 trực quan hóa các mối quan hệ ảnh hưởng đến tự đánh giá của từng em, minh họa cụ thể các phát hiện định lượng bằng trường hợp thực tế và làm cơ sở để đề xuất biện pháp hỗ trợ tâm lý - giáo dục phù hợp.


Kết luận

Luận án của Nguyễn Thị Anh Thư (2017) là một nghiên cứu hỗn hợp trong lĩnh vực tâm lý học phát triển và tâm lý học gia đình, tập trung làm rõ mối quan hệ giữa cách học sinh THCS đánh giá PCGD của cha mẹ và tự đánh giá bản thân của các em. Bằng mẫu khảo sát 613 khách thể tại hai trường THCS Hà Nội, nghiên cứu xác nhận xu hướng PCGD dân chủ được học sinh ghi nhận phổ biến nhất, đồng thời chỉ ra sự tồn tại phổ biến của PCGD kết hợp trong thực tế nuôi dạy con. Kết quả phân tích tương quan và hồi quy làm rõ chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của từng PCGD đến từng lĩnh vực cụ thể của tự đánh giá (cảm xúc, tương lai, gia đình). Nghiên cứu đặt ra hai hướng tiếp tục quan trọng: nghiên cứu trực tiếp trên cha mẹ để đối chiếu và xây dựng công cụ đo PCGD kết hợp, mở ra không gian cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực tâm lý học gia đình tại Việt Nam.