Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về phong cách giáo dục của cha mẹ và tự đánh giá Chương 2: Lý luận về phong cách giáo dục của cha mẹ và tự đánh giá của học sinh Trung học cơ sở Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu đánh giá về phong cách giáo dục của cha mẹ và tự đánh giá của học sinh Trung học cơ sở 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHONG CÁCH GIÁO DỤC CỦA CHA MẸ VÀ TỰ ĐÁNH GIÁ Trong chương này, luận án sẽ điểm luận tình hình nghiên cứu về PCGD của cha mẹ, tự đánh giá và các nghiên cứu về ảnh hưởng PCGD của cha mẹ đến tự đánh giá của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam. Nghiên cứu về phong cách giáo dục của cha mẹ 1. Nghiên cứu trên thế giới về phong cách giáo dục của cha mẹ Hướng nghiên cứu về phong cách lãnh đạo Vấn đề phong cách (style) đã được nghiên cứu từ nhiều năm nay trong các lĩnh vực tâm lý học, xã hội học, khoa học quản lý… Người đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống các phong cách lãnh đạo (Leadership style) là K.Lewin (1939), nhà tâm lý học người Mỹ. Theo ông, có ba kiểu phong cách khác nhau của nhà lãnh đạo liên quan đến việc ra quyết định, đó là: Độc đoán (Authoritarian), Dân chủ (Democrative), và Tự do/ mặc kệ (Laissez - faire).
Trong phong cách độc đoán, các nhà lãnh đạo có những quyết định mà không cần tham khảo ý kiến người khác. Quyết định này được thực hiện mà không có bất kỳ hình thức tham vấn nào. Điều này khiến cho cấp dưới có sự bất mãn. Phong cách dân chủ, việc ra quyết định của lãnh đạo thường có sự tham khảo ý kiến cấp dưới, mặc dù quá trình đưa ra các quyết định cuối cùng có thể khác nhau từ các nhà lãnh đạo có tiếng nói khác nhau nhưng cuối cùng họ đều tạo điều kiện cho sự đồng thuận trong nhóm.
Quyết định của nhà lãnh đạo dân chủ thường được đánh giá cao bởi cấp dưới. Phong cách Tự do/ mặc kệ, nhà lãnh đạo thường cho phép mọi người đưa ra quyết định riêng của họ, mặc dù nhà lãnh đạo vẫn phải chịu trách nhiệm về kết quả. Lewin chỉ ra rằng: trong ba phong cách lãnh đạo thì phong cách dân chủ là hiệu quả nhất [77, tr. Daniel Goleman và cộng sự (2000) đã tiến hành một nghiên cứu kéo dài ba năm với hơn 3.000 nhà quản lý đã chỉ ra sáu loại phong cách của các 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhà lãnh đạo như sau: 1/ Phong cách lãnh đạo chọn lựa (pacesetting leader): đây là phong cách lãnh đạo tập trung vào mục tiêu và hiệu quả.
Phong cách này hoạt động tốt nhất khi tổ chức đã có động lực, các nhân viên giỏi, và các nhà lãnh đạo cần kết quả nhanh chóng. Tuy nhiên, phong cách này có thể áp đảo các thành viên nhóm và đè bẹp sự đổi mới. 2/ Các nhà lãnh đạo có thẩm quyền (authoritative leader): các nhà lãnh đạo thuộc phong cách thẩm quyền sẽ huy động tổ chức hướng tới một tầm nhìn chung và tập trung vào mục tiêu cuối cùng. Các nhà lãnh đạo có thẩm quyền truyền cảm hứng cho tinh thần cho doanh nghiệp.
Sự cảm thông là khả năng đặc biệt của những nhà lãnh đạo này.Phong cách lãnh đạo tiến về mục tiêu hiệu quả nhất khi tổ chức xác định một tầm nhìn mới hay một hướng đi mới đặc biệt. Phong cách lãnh đạo này không hiệu quả khi đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiêm hơn nhà lãnh đạo. Nếu người lãnh đạo sử dụng quá thường xuyên phong cách có thẩm quyền sẽ dẫn đến độc đoán. 3/ Các nhà lãnh đạo kết nối (affiliative leader): Phong cách này nhấn mạnh tầm quan trọng làm việc theo nhóm, kết nối hài hòa các thành viên trong nhóm.
Goleman nhấn mạnh đây là phương pháp đặc biệt hữu hiệu khi cần nâng cao tinh thần, cổ vũ nhân viên trước những khó khăn, xử lý khủng hoảng thông tin, củng cố niềm tin của các thành viên với tổ chức.4/ Các nhà lãnh đạo huấn luyện (coaching leader): Đặc trưng của phong cách lãnh đạo huấn luyện là kết nối mục tiêu cá nhân với mục tiêu của tổ chức, người lãnh đạo biết cách khích lệ, tập trung vào đào tạo và phát triển nhân viên.Tuy nhiên, phong cách lãnh đạo này sẽ không phù hợp với những nhân viên không cố gắng, hoặc với những người cần được định hướng hướng dẫn một cách kỹ càng. 5/ Các nhà lãnh đạo cưỡng chế (coercive leader): Phong cách lãnh đạo này đòi hỏi tuân thủ ngay lập tức, chuyên quyền, sử dụng mệnh lệnh, xử phạt và kiểm soát chặt chẽ. Phong cách lãnh đạo này giống với phong cách lãnh đạo độc đoán của K. Phong cách lãnh đạo này đạt hiệu quả trong trường hợp tổ chức muốn giải quyết các tình huống khủng hoảng, giai đoạn bắt đầu yêu cầu nhịp độ hoạt động cao hoặc nhân viên cứng đầu.
6/ Các nhà lãnh đạo dân chủ (democratic leader): Các nhà lãnh đạo sử 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng phong cách này thường chủ động tìm kiếm các ý kiến trong nhân viên. Họ dựa vào kỹ năng lắng nghe hơn là thực hiện chỉ đạo. Phong cách này không phải là sự lựa chọn tốt nhất trong tình huống khẩn cấp, hay khi thiếu thông tin để lãnh đạo [dẫn theo 82]. Hướng nghiên cứu về phong cách giáo dục Vận dụng những nghiên cứu về phong cách lãnh đạo vào lĩnh vực giáo dục con trong gia đình, các nhà tâm lý học và giáo dục học trên thế giới đã có những nghiên cứu về mối quan hệ, sự ảnh hưởng của PCGD của cha mẹ đến sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ trên nhiều phương diện.
Từ góc độ gia đình, các nghiên cứu của châu Âu và châu Mỹ tập trung tìm hiểu về các kiểu PCGD của cha mẹ đối với con và ảnh hưởng từ các PCGD đó đến sự phát triển của trẻ. Tác giả Scharfer (1959) đưa ra hai sơ đồ về mô hình ứng xử của cha mẹ được gọi là tự chủ - kiểm soát và thù hận - yêu thương. Ông cho rằng, cha mẹ có cách ứng xử thù hận - kiểm soát thường hay đòi hỏi và độc đoán trong mối quan hệ của họ với con, trong khi đó những cha mẹ có cách ứng xử tự chủ - yêu thương lại có những hành động dân chủ và hợp tác [dẫn theo 3]. Ba PCGD đó là: Độc đoán (Authoritarian), Thẩm quyền/ Dân chủ (Authoritative) và Tự do/ Dễ dãi (Permissive) [dẫn theo 54, tr.
Baumrind cho rằng, trẻ em lớn lên với cách giáo dục, của cha mẹ dân chủ có nhiều khả năng xã hội hóa tốt hơn so với những trẻ có cha mẹ độc đoán hoặc cha mẹ dễ dãi. Cha mẹ dân chủ có xu hướng ấm áp, đưa ra những luật lệ với con nhưng vẫn sẵn sàng trao đổi với chúng, khuyến khích con tư duy độc lập và phát triển cá nhân. Điều họ mong muốn nhất là con của họ trở nên tự chủ, quyết đoán cũng như sống có trách nhiệm, biết tự điều chỉnh và hợp tác với người khác. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cũng đưa ra những luật lệ, những quy tắc nhưng cha mẹ theo phong cách độc đoán luôn cố gắng kiểm soát, áp đặt ý kiến của mình với con của họ, không giải thích lý do của việc đưa ra những quy tắc, ít thể hiện sự nồng ấm với trẻ.
Thay vì khuyến khích trẻ làm theo, họ có xu hướng trừng phạt khi trẻ không nghe lời mình. Cha mẹ tự do/ dễ dãi được miêu tả như thường quan tâm trẻ nhưng ít đưa ra những yêu cầu hay kiểm soát hành động của con họ. Theo Baumrind, cha mẹ phong cách tự do đáp ứng nhiều hơn là yêu cầu, ít thể hiện quyền uy, cha mẹ nuôi dưỡng và giao tiếp với con của họ như những người bạn hơn là ở vị trí cha mẹ [78]. Baumrind cũng khẳng định rằng, đa số các cha mẹ áp dụng đồng thời các phong cách ứng xử với con của họ.
Trong một số trường hợp nhất định, cha mẹ vẫn có phong cách điển hình giáo dục con. Đến thập niên 80 thì Maccoby và Martin (1983) tiếp tục kế thừa lý thuyết của Dianna Baumrind và bổ sung thêm một PCGD của cha mẹ. Các tác giả này đưa ra 4 kiểu PCGD của cha mẹ là: Thẩm quyền/ Dân chủ (Authoritative), Độc đoán (Authoritairan), Tự do/ dễ dãi (Permissive) và Thờ ơ/ bỏ mặc (Neglecting). Cha mẹ giáo dục theo khuynh hướng thờ ơ là những người ít quan tâm, ít đòi hỏi và ít kiểm soát con vì muốn tránh sự phiền toái của con, trẻ không được hướng dẫn hay được định hướng trước những vấn đề quan trọng của cuộc sống.
Vì thế, những trẻ này sẽ không cảm nhận được sự yêu thương cũng như trách nhiệm cha mẹ dành cho mình. Những trẻ sống trong những gia đình có cha mẹ thờ ơ, khi trưởng thành có xu hướng thiếu sự kiểm soát, lòng tự trọng thấp, không cảm thấy hạnh phúc. Ngược lại, cũng theo Maccoby, trẻ được giáo dục theo xu hướng dân chủ lớn lên có xu hướng hạnh phúc, có năng lực và gặp thành công trong cuộc sống. Maccoby và Martin (1983) cũng nhận định, kiểm soát, độc đoán hay dễ dãi không giới hạn, đều không có lợi cho việc tự đánh giá của trẻ.
Hình ảnh bản thân của trẻ chỉ phát triển tích cực khi cha mẹ không áp đặt giới hạn mà đưa ra yêu cầu của mình và định hướng bằng cách giao cho trẻ quyền lựa chọn ở mức độ nhất định [dẫn theo 8]. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kế thừa các nghiên cứu của D. Baumrind về việc đánh giá, phân loại PCGD của cha mẹ, John.Buri (1991) đã thiết kế Bộ câu hỏi về phong cách làm cha mẹ (Parental Authority Questionaire), gồm 30 câu hỏi, nhằm tìm ra ba kiểu phong cách giáo dục: Tự do, Độc đoán, Dân chủ. Đây là thang đo có độ tin cậy cao, được áp dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới [46, tr.
Kết nối môi trường xã hội, cách giáo dục, kiểu tương tác, liên kết giữa bố mẹ, hai tác giả Kellerhals và Montandon (1991) phân ra ba kiểu giáo dục chính: 1. Kiểu giáo dục mang tính “hợp đồng”: cha mẹ dành cho con sự tự điều chỉnh, tự chủ, nhấn mạnh tới trí tưởng tượng và sáng tạo. Cha mẹ ít kiểm soát trẻ. Kiểu giáo dục gia đình theo “thể chế”: nhấn mạnh sự vâng lời và tính kỉ luật, việc tự điều chỉnh và nhạy cảm ít được xem xét tới.
Khoảng cách giữa cha mẹ và con rất lớn: ít có giao tiếp, ít có hoạt động chung.