Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của Hiệp hội Đô thị và Môi trường Việt Nam, tổng lượng chất thải rắn phát sinh trên toàn quốc đạt trên 31,5 triệu tấn mỗi năm, trong đó rác thải sinh hoạt đô thị gia tăng với tốc độ từ 6,7% đến 8,5% mỗi năm với định mức phát sinh từ 0,7 đến 1,0 kg/người/ngày. Sự tích tụ của chất thải rắn hữu cơ tại các bãi chôn lấp là nguồn phát sinh khí nhà kính khổng lồ, đứng thứ hai sau ngành năng lượng. Trong đó, khí mêtan (CH4) có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu gấp 21 lần khí cacbonic (CO2). Nếu các bãi chôn lấp trên toàn quốc thu hồi và xử lý khí mêtan hiệu quả, Việt Nam có thể giảm phát thải khoảng 0,25 tấn CO2 tương đương trên mỗi tấn rác, tương ứng mức giảm 7,8 triệu tấn CO2 mỗi năm.

Thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội có diện tích tự nhiên 724,78 ha với 3.943 hộ dân và 21.772 nhân khẩu, mật độ dân số đạt 3.004 người/km2. Quá trình đô thị hóa mạnh mẽ khiến tỷ trọng nông nghiệp tại đây giảm mạnh từ 81% năm 1990 xuống còn 29% trong giai đoạn nghiên cứu, kéo theo sự gia tăng đột biến của lượng chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư, chợ dân sinh và trường đại học. Vấn đề đặt ra là chất thải sinh hoạt hữu cơ chưa được phân loại triệt để, bị chôn lấp kỵ khí và phát tán lượng lớn khí mêtan vào khí quyển.

Mục tiêu của luận văn là áp dụng phương pháp phân tích dòng vật chất (MFA) nhằm định lượng các dòng luân chuyển chất thải sinh hoạt hữu cơ, đánh giá mức độ phát thải khí mêtan tại thị trấn Trâu Quỳ và bãi chôn lấp Kiêu Kỵ trong giai đoạn 2012 - 2014, từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật thu hồi khí sinh học và quản lý môi trường bền vững hướng đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp Phân tích dòng vật chất (Material Flow Analysis - MFA), một công cụ quản lý tài nguyên và môi trường dựa trên định luật bảo toàn vật chất do Ayres phát triển từ năm 1989. Phương pháp MFA cho phép kiểm soát cân bằng vật chất giữa dòng đầu vào, dòng tích lũy và dòng đầu ra của một hệ thống xác định trong không gian và thời gian cụ thể.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng lý thuyết phân hủy kỵ khí sinh học chất thải rắn hữu cơ qua năm giai đoạn nối tiếp: phân hủy hiếu khí, phân hủy kỵ khí, lên men axit, mêtan hóa và giai đoạn ổn định. Trong điều kiện kỵ khí, các hợp chất hydratcacbon (xenluloza chiếm khoảng 50%, tinh bột), protein (chứa 15% đến 17,5% nitơ) và lipit bị vi sinh vật chuyển hóa thành khí sinh học (biogas) chứa 55% đến 65% thể tích khí CH4 và 35% đến 45% thể tích khí CO2. Tỷ lệ cacbon trên nitơ (C:N) tối ưu cho vi sinh vật phân hủy dao động từ 8:1 đến 10:1.

Đồng thời, nghiên cứu tích hợp mô hình đánh giá phát thải khí nhà kính theo hướng dẫn của Ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC 1995/2006) để định lượng phát thải khí CH4 dựa trên các biến số về tổng lượng rác, tỷ lệ đưa vào bãi chôn lấp, hàm lượng cacbon hữu cơ phân hủy (DOC) và hệ số hiệu chỉnh mêtan (MCF = 0,6).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên để điều tra thực địa. Cỡ mẫu khảo sát hộ gia đình gồm 10 hộ điển hình, đại diện theo ba nhóm thu nhập trên địa bàn gồm 1 hộ giàu (chiếm 10%), 4 hộ khá (chiếm 40%) và 5 hộ trung bình (chiếm 50%), bám sát cơ cấu kinh tế của địa phương. Hoạt động cân mẫu rác thực tế được thực hiện 1 lần/ngày vào giờ cố định, lặp lại 3 lần/tháng liên tục trong 4 tháng (tổng cộng 12 chu kỳ cân mẫu cho mỗi hộ). Ngoài ra, nghiên cứu mở rộng điều tra bảng hỏi với 15 hộ dân và phỏng vấn sâu cán bộ quản lý bãi rác Kiêu Kỵ cùng công nhân Xí nghiệp Môi trường Đô thị Gia Lâm.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ nhật ký vận chuyển rác năm 2012 của bãi chôn lấp Kiêu Kỵ với tổng lượng theo dõi 6.195,337 tấn và các báo cáo kinh tế - xã hội thị trấn Trâu Quỳ. Nguồn dữ liệu sơ cấp bao gồm khảo sát các điểm phát sinh lớn như Chợ Nông nghiệp I (phát sinh 1 xe rác Dongfeng dung tích 5m3/ngày) và các thùng chứa công cộng tại trường học.

Lý do lựa chọn phương pháp MFA kết hợp công thức IPCC là nhằm tạo ra bức tranh định lượng minh bạch về dòng vật chất từ nguồn thải đến nơi chôn lấp, giúp khắc phục tình trạng thiếu hụt thiết bị quan trắc khí thải tự động tại bãi rác địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng phát sinh chất thải sinh hoạt bình quân tại thị trấn Trâu Quỳ đạt khoảng 0,5 kg/người/ngày; mỗi hộ gia đình thải bỏ trung bình từ 2 đến 5 kg rác/ngày cùng 7 đến 12 túi nilon. Tổng lượng rác sinh hoạt của thị trấn được thu gom và vận chuyển về bãi chôn lấp Kiêu Kỵ trong năm 2012 đạt 6.195,337 tấn, dao động từ mức thấp nhất là 403,510 tấn (tháng 2) đến mức cao nhất là 564,237 tấn (tháng 6).

Thứ hai, kết quả phân tích dòng vật chất (MFA) chỉ ra rằng 85% tổng lượng chất thải sinh hoạt phát sinh được thu gom đưa về bãi chôn lấp Kiêu Kỵ; 10% chất thải có giá trị (giấy, kim loại, nhựa) được phân loại tái chế qua hệ thống thu mua phế liệu tại nguồn; chỉ khoảng 5% rác hữu cơ cồng kềnh (lá cây, phế phẩm nông nghiệp) được người dân tự xử lý bằng cách đốt hoặc tận dụng làm thức ăn chăn nuôi.

Thứ ba, nồng độ các thành phần khí tại bãi chôn lấp rác Kiêu Kỵ ghi nhận khí CH4 chiếm từ 45% đến 60% thể tích và khí CO2 chiếm từ 40% đến 60% thể tích; các khí khác như nitơ chiếm từ 2% đến 5%, oxy từ 0,1% đến 1,0%, cùng một lượng nhỏ hợp chất lưu huỳnh (H2S từ 0% đến 0,1%). Điều này khẳng định lượng rác hữu cơ sau khi chôn lấp tạo ra nguồn phát thải khí mêtan rất lớn.

Thứ tư, tại các điểm tập trung như Chợ Nông nghiệp I, lượng rác phát sinh đạt 5m3/ngày. Các thùng rác công cộng dung tích 5m3 tại trường học và cơ quan có chu kỳ lưu chứa từ 3 đến 4 ngày mới được vận chuyển, làm gia tăng nguy cơ lên men kỵ khí cục bộ và phát tán mùi hôi trước khi rác được đưa đến bãi chôn lấp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến nồng độ CH4 cao trong bãi chôn lấp là do rác thải sinh hoạt tại Trâu Quỳ chưa được phân loại tại nguồn. Phần lớn phế liệu tái chế vô cơ đã bị thu hồi qua ba tầng nấc (hộ gia đình, người thu gom ve chai và công nhân bãi rác), khiến thành phần rác đưa vào ô chôn lấp chứa tỷ lệ hữu cơ vượt trội. Thời gian tồn lưu rác tại các thùng chứa công cộng từ 12 đến 24 giờ trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa có độ ẩm trung bình 83% và nhiệt độ 23,9 độ C đã kích thích vi sinh vật kỵ khí phát triển nhanh chóng.

So sánh với các nghiên cứu tương đồng, kết quả này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu tại Đại học Kasetsart (Thái Lan) khi lượng giảm phát thải khí CH4 có thể tăng từ 115,4 Gg/năm lên 193,5 Gg/năm nếu chuyển đổi từ bãi rác hở sang bãi chôn lấp hợp vệ sinh có thu hồi khí. Nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng chứng minh tiềm năng cắt giảm 21.062 tấn CH4/năm (tương đương 442.312 tấn CO2 tương đương/năm) vào năm 2025 thông qua các biện pháp quản lý tổng hợp. Đồng thời, mô hình của Omid Tayyeba chỉ ra rằng công nghệ thu hồi khí mêtan phát điện giúp giảm phát thải khí nhà kính gấp 1,5 lần so với chôn lấp thông thường.

Dữ liệu luân chuyển chất thải trong nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ Sankey thể hiện sự phân nhánh dòng vật chất từ nguồn thải hộ gia đình qua các kênh tái chế (10%), tự xử lý (5%) và bãi chôn lấp (85%). Biểu đồ kết hợp cột và đường có thể biểu diễn tương quan giữa lượng rác phát sinh biến thiên từ 403,510 tấn đến 564,237 tấn/tháng với các mốc thời gian hoạt động của sinh viên đại học trên địa bàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, triển khai chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn (mô hình 3R: Giảm thiểu - Tái sử dụng - Tái chế). Mục tiêu đạt tỷ lệ phân loại rác tái chế từ 10% lên 25% đến 30% vào năm 2020, qua đó giảm 20% khối lượng chất thải hữu cơ đưa về bãi chôn lấp. Chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân thị trấn Trâu Quỳ phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ và các tổ dân phố, thực hiện lộ trình thí điểm trong giai đoạn 2015 - 2018.

Thứ hai, tối ưu hóa quy trình thu gom và vận chuyển của Xí nghiệp Môi trường Đô thị Gia Lâm. Rút ngắn thời gian lưu chứa rác tại các thùng công cộng dưới 12 giờ và định kỳ vệ sinh, khử trùng thùng rác 5m3 bằng chế phẩm vi sinh 2 lần/tuần nhằm giảm 15% đến 20% lượng khí CH4 phát tán sớm ra không khí. Lộ trình thực hiện hoàn thành trong giai đoạn 2015 - 2016.

Thứ ba, lắp đặt hệ thống thu hồi khí bãi chôn lấp chủ động và thụ động tại bãi rác Kiêu Kỵ phục vụ phát điện hoặc đốt đuốc an toàn. Mục tiêu thu gom từ 50% đến 65% lượng khí sinh học phát sinh, giúp giảm phát thải trung bình 0,25 tấn CO2 tương đương trên mỗi tấn rác theo Cơ chế Phát triển Sạch (CDM). Đơn vị chủ trì là Ban Quản lý bãi rác Kiêu Kỵ phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội triển khai trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ tư, đầu tư hệ thống ủ phân hữu cơ vi sinh (compost) và hầm biogas quy mô vừa để xử lý riêng nguồn chất thải từ Chợ Nông nghiệp I (khối lượng 5m3/ngày). Mục tiêu chuyển hóa 80% rác thải chợ thành 300 đến 500 tấn phân bón hữu cơ mỗi năm phục vụ sản xuất nông nghiệp ven đô. Chủ thể thực hiện là các Hợp tác xã Nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp tư nhân theo hình thức xã hội hóa từ năm 2017.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm, Ủy ban nhân dân thị trấn Trâu Quỳ, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội) có thể sử dụng dữ liệu 6.195 tấn rác/năm và tỷ lệ chôn lấp 85% để xây dựng quy hoạch quản lý chất thải rắn đô thị ven đô và ban hành chính sách phân loại rác tại nguồn.

Nhóm doanh nghiệp môi trường và đơn vị vận hành bãi rác (Xí nghiệp Môi trường Đô thị Gia Lâm, Ban Quản lý bãi rác Kiêu Kỵ, Công ty Môi trường Đô thị URENCO) có thể ứng dụng các thông số về thành phần khí bãi rác (45% đến 60% CH4) để thiết kế hệ thống ống thu khí gas và tối ưu hóa tuyến đường vận chuyển.

Nhóm nghiên cứu, giảng viên và sinh viên sau đại học thuộc các ngành Khoa học Môi trường, Biến đổi Khí hậu và Quản lý Tài nguyên có thể tham khảo khung phương pháp luận MFA và quy trình tính toán phát thải theo IPCC để phát triển các đề tài nghiên cứu kiểm kê khí nhà kính cấp quận, huyện.

Nhóm các tổ chức phát triển, quỹ môi trường và nhà đầu tư năng lượng tái tạo có thể khai thác các luận cứ khoa học để xây dựng hồ sơ dự án thu hồi khí sinh học thương mại và đăng ký tín chỉ carbon theo cơ chế quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp phân tích dòng vật chất (MFA) mang lại ưu thế gì trong nghiên cứu phát thải khí nhà kính từ rác thải? Phương pháp MFA ứng dụng định luật bảo toàn vật chất giúp định lượng chính xác dòng rác đầu vào và dòng khí đầu ra. Khác với phương pháp thống kê tĩnh, MFA theo dõi toàn bộ hành trình của 6.195 tấn rác năm 2012, chỉ ra 85% rác chuyển đến bãi chôn lấp và 10% rác tái chế, từ đó xác định chính xác nguồn sinh khí mêtan tiềm năng.

Tại sao khí mêtan (CH4) từ rác thải sinh hoạt lại là mối lo ngại lớn đối với biến đổi khí hậu? Mặc dù CO2 chiếm tỷ trọng lớn trong khí quyển, nhưng khí CH4 có khả năng hấp thụ bức xạ hồng ngoại mạnh hơn, gây ra hiệu ứng nhà kính gấp 21 lần so với CO2. Với nồng độ CH4 chiếm từ 45% đến 60% thể tích khí bãi rác Kiêu Kỵ, việc xả thải tự do sẽ gia tăng đáng kể hiện tượng ấm lên toàn cầu.

Thực trạng phân loại rác tại hộ gia đình ở thị trấn Trâu Quỳ diễn ra như thế nào? Thị trấn Trâu Quỳ chưa triển khai phân loại rác tại nguồn đồng bộ. Tuy nhiên, hoạt động thu gom tự phát của người dân và người thu mua đồng nát đã giúp tận thu khoảng 10% lượng phế liệu tái chế. 85% lượng rác còn lại đưa về bãi chôn lấp chứa tỷ lệ chất hữu cơ rất cao, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phân hủy kỵ khí.

Thời gian lưu chứa rác tại các thùng công cộng ảnh hưởng thế nào đến mức độ phát thải khí? Rác lưu lại tại các thùng chứa công cộng từ 12 đến 24 giờ và tại các cơ sở trường học từ 3 đến 4 ngày. Trong môi trường độ ẩm 83%, rác hữu cơ nhanh chóng trải qua giai đoạn lên men axit và mêtan hóa sớm, làm bốc mùi xú uế chứa khí CH4 và H2S trước khi đến nơi xử lý tập trung.

Khả năng thu hồi khí sinh học tại bãi chôn lấp Kiêu Kỵ có tính khả thi về mặt kinh tế không? Hoàn toàn khả thi khi áp dụng cơ chế phát triển sạch (CDM). Với khối lượng rác xử lý trên 6.000 tấn/năm và hệ số giảm phát thải 0,25 tấn CO2/tấn rác, dự án thu hồi khí bãi rác có thể bán tín chỉ carbon và tận dụng khí đốt để phát điện cục bộ, tạo ra nguồn thu bền vững cho đơn vị vận hành.

Kết luận

Luận văn đã lượng hóa toàn diện dòng luân chuyển chất thải sinh hoạt hữu cơ tại thị trấn Trâu Quỳ với tổng lượng xử lý đạt 6.195,337 tấn/năm tại bãi rác Kiêu Kỵ.

Nghiên cứu chứng minh nồng độ khí CH4 phát sinh tại bãi chôn lấp chiếm tỷ trọng cao từ 45% đến 60% thể tích, tạo nguồn phát thải khí nhà kính nghiêm trọng ở khu vực ven đô.

Khẳng định tính hiệu quả vượt trội của phương pháp phân tích dòng vật chất (MFA) kết hợp hướng dẫn IPCC trong việc nhận diện và kiểm soát các dòng phát thải khí sinh học.

Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm phân loại rác tại nguồn, rút ngắn thời gian thu gom dưới 12 giờ, lắp đặt hệ thống thu hồi khí bãi rác và sản xuất phân compost.

Xác định lộ trình nghiên cứu tiếp theo đến năm 2020 nhằm mở rộng mô hình kiểm kê phát thải cho toàn bộ huyện Gia Lâm và thương mại hóa tín chỉ carbon.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về cân bằng vật chất và hệ số phát thải khí nhà kính từ chất thải sinh hoạt hữu cơ tại Hà Nội. Trong các bước tiếp theo, chính quyền địa phương cần ưu tiên triển khai phân loại rác tại nguồn trong giai đoạn 2015 - 2018 và hoàn thiện công nghệ thu hồi khí sinh học giai đoạn 2018 - 2020. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp môi trường cần chung tay hành động ngay hôm nay để biến rác thải hữu cơ thành tài nguyên năng lượng xanh, góp phần bảo vệ môi trường và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.