MỞ ĐẦU Những năm cuối thế kỷ 20, nhiều nơi trên thế giới đã phải hứng chịu những tác động ngày càng gia tăng của thiên tai như bão, lũ lụt, dịch bệnh, … Một vấn đề đang được cả thế giới quan tâm trong thời gian gần đây là những tác động của ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Theo các kết quả nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, BĐKH làm gia tăng hạn hán, mưa lớn bất thường, rét hại, bão, lũ, thiên tai. đã gây thiệt hại khoảng 1% GDP toàn cầu (WB, 2010). Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm tăng tốc độ BĐKH là phát thải khí nhà kính vào khí quyển từ hoạt động sản xuất của con người Theo ước tính của Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC), tổng lượng phát thải KNK toàn cầu quy đổi ra CO2 tương đương (CO2e) tăng từ 6,4 tỷ tấn CO2e/năm trong thập kỷ 90 lên 7,2 tỷ tấn CO2e/năm vào năm 2005 Theo đánh giá của chỉ số Germanwatch 2010, Việt Nam đứng thứ 4 trong số 10 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của các rủi ro khí hậu từ 1990 đến 2008, số người chết do các hiện tượng thời tiết cực đoan hàng năm là 466 người, tổng thiệt hại kinh tế vào khoảng 1,525 tỷ USD tương ứng với 1,31% GDP Bước sang thế kỷ 21, khi nền kinh tế của Việt Nam đang hướng ra biển, thủy sản được xem là ngành kinh tế mũi nhọn, năm 2009, tổng sản lượng ngành thuỷ sản cả nước đạt 4,85 triệu tấn, trong đó thủy sản khai thác là 2,27 triệu tấn (chiếm 46,99%), từ nuôi trồng là 2,58 triệu tấn (chiếm 53,01%).
Mặc dù, là ngành chịu nhiều anh hưởng trực tiếp từ biến đổi khí hậu và nước biển dâng nhưng sản lượng thủy sản của nước ta vẫn tăng trường ổn định, tốc độ phát triển bình quân 15 năm đạt 1,51%, trong đó nuôi trồng đạt 1,65%/năm, khai thác đạt 1,42%/năm. Không chỉ chịu tác động tiêu cực của biến đổi khi hậu mà hoạt động thuỷ sản cũng góp phần đáng kể vào các nguyên nhân gây nên gia tăng hiệu ứng nhà kính. Theo thông báo số 2 về phát thải KNK, Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2010), đến nay vẫn chưa có kết quả chính thức cho việc kiểm kê tổng lượng phát thải khí nhà kính ngành thuỷ sản. Cũng theo thông báo này, phát thải KNK trong lĩnh vực thủy sản bao gồm tiêu thụ năng lượng trong đánh bắt, sử dụng năng lượng và thức ăn trong nuôi trồng, chế biến thủy sản.
Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Hải sản, tính đến hết năm 2009 tổng công suất tàu thuyền tham gia khai thác thủy sản ở Việt Nam vào khoảng 7.000CV, tương ứng với lượng nhiên liệu tiêu thụ khoảng 2. Hiện nay xuất khẩu thủy sản của nước ta đạt khoảng 6 tỷ USD (Vasep, 2012), Ngành thủy sản đang hướng tới mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu đạt 10 – 10,5 tỷ USD vào năm 2020. Xuất khẩu thủy sản nước ta chủ yếu sang các nước Nhật, Mỹ, EU. đây là các thị trường có yêu cầu rất cao về chất lượng cũng như xuất xứ sạch của hàng hóa.
Để đạt được mục tiêu trên chúng ta phải nâng cao tính canh tranh của hàng thủy sản xuất khẩu, bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm tối đa các tác động tới môi trường trong quá trình đánh bắt, bảo quản, chế biến và vận chuyển sản phẩm. Do đó đánh giá phát thải đặc biệt là phát thải KNK trong vòng đời của sản phẩm là thực sự cần thiết. Theo Công ước khung về biến đổi khí hậu, Việt Nam chưa phải là quốc gia bắt buộc phải cắt giảm phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên chúng ta đã tham gia vào Nghị định thư Kyoto và cũng là thành viên tích cực trong các diễn đàn về BĐKH trên thế giới.
Việc nghiên cứu kiểm kê phát thải khí nhà kính trong hoạt động sản xuất nói chung và trong hoạt động khai thác hải sản nói riêng đóng vai trò quan trọng đối với mục tiêu xuất khẩu thủy sản cũng như việc giảm phát thải khí nhà kính và việc thực hiện các cam kết của Việt Nam trong công cuộc chống lại BĐKH. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Biến đổi khí hậu 1. Khái niệm về biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu trái đất gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định, tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm.
Sự biến đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thế xuất hiện trên toàn Địa Cầu. Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về Biến đổi khí hậu. Theo báo cáo lần thứ 4 của tổ chức Liên chính phủ về BĐKH – IPCC đã định nghĩa như sau: “BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và/hoặc sự biến động của các thuộc tính của nó; duy trì trong một thời kỳ dài, điển hình là hàng ngàn thập kỷ hoặc dài hơn”. "Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo". Theo công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu: “Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của BĐKH” là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và hoạt động quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nguyên nhân của BĐKH Các nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi khí hậu có thể là các quá trình tự nhiên bên trong hoặc bên ngoài của hệ thống khí hậu, hoặc do tác động thường xuyên của con người làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển và hệ thống khí hậu. Nguyên nhân chính của BĐKH Trái đất là sự gia tăng các hoạt động tạo ra các khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như: sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác [4]. Trong lịch sử địa chất, biến đổi khí hậu đã nhiều lần xảy ra, đó là những thời kỳ lạnh và nóng kéo dài hàng vạn năm mà chúng ta gọi là thời kỳ băng hà hay thời kỳ gian băng.
Xét về nguyên nhân gây nên sự biến đổi của khí hậu, có thể thấy là do sự chuyển động và thay đổi độ nghiêng của trục quay Trái Đất, sự thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất quanh Mặt Trời, vị trí các lục địa, đại dương và đặc biệt là sự thay đổi các thành phần vật chất trong khí quyển. Trong những nguyên đầu tiên là những nguyên nhân hành tinh, thì nguyên nhân cuối cùng là có sự tác động rất lớn của con người, đây được coi là nguyên nhân chính. Theo báo cáo mới nhất của LHQ, nguyên nhân gây biến đổi khí hậu 90% là do con người và chỉ 10% là do các nguyên nhân tự nhiên [21]. BĐKH tác động mạnh đến hầu hết các HST tự nhiên, tuy nhiên trong nghiên cứu này do đối tượng nghiên cứu phát thải KNK – nguyên nhân của BĐKH, diễn ra trong sử dụng nhiên liệu của các phương tiện khai thác, đánh bắt thủy hải sản, chủ yếu diễn ra ở vùng biển và ven biển, do đó luận văn chỉ tập trung nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến một số HST biển điển hình, mà những tác động của BĐKH tới các HST này có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản.
Ở Vịnh Bắc Bộ có hai HST điển hình rất nhậy cảm: HST San Hô, HST rừng ngập mặn. Tác động của BĐKH đến một số hệ sinh thái biển điển hình Hệ sinh thái rạn san hô Hiện nay hầu hết rạn san hô đang sống ở điều kiện nhiệt độ cao hơn so với điều kiện tối ưu của chúng. Hiện tượng nhiệt độ tăng ngày càng ảnh hưởng thường 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuyên hơn làm san hô bị bệnh và có thể bị chết hàng loạt (Hình 1). Một số rạn đang ở tình trạng gần hoặc vượt quá giới hạn sinh thái về nhiệt độ, dẫn đến giảm đa dạng hoặc giảm năng suất sinh học sản xuất do nhiều loài không thể chịu được nhiệt độ cao hơn đã biến mất.
Hệ sinh thái san hô bị tẩy trắng do biến đổi khí hậu [22]. Ảnh từ : P Marshall (GBRMPA) and SK Wilson. HST RSH phát triển tốt; b. HST RSH bị tẩy trắng do BĐKH; c.
HST RSH bị hủy diệt. Bên cạnh đó hiện tượng dâng cao mực nước biển cũng làm thay đổi trong mối quan hệ của rạn với các yếu tố môi trường. Rạn san hô thường đóng vai trò bảo vệ đất liền khỏi sóng gió, mực nước biển dâng có thể khiến hiệu quả bảo vệ này giảm đi. Hơn nữa, san hô bị nhấn chìm do có nhiều nước và năng lượng được vận chuyển qua rạn làm thay đổi các hình thái lắng đọng phù sa, xói mòn và ảnh hưởng tới rạn cũng như cấu trúc của bờ biển.
Những thay đổi như vậy liên quan trực tiếp tới mực nước biển dâng là mối quan tâm lớn đối với cộng đồng sống tại các vùng ven bờ. Theo các nghiên cứu của Viện Hải dương học Nha Trang (2005 - 2007) đối với HST các RSH ở Việt Nam, hai tác động quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của chúng là bão và dòng vật chất lắng đọng từ lục địa.