MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, hoạt động của con người ngày càng gia tăng cùng với việc gia tăng dân số làm cho nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt và đất đai ngày càng bị suy thoái dẫn đến giảm năng suất và không mang lại hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, cần sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả và bền vững là rất cần thiết. Công tác đánh giá đất đai đã phân hạng mức độ thích hợp của từng loại hình sử dụng đất (Lan Use Type – LUT) trên từng đơn vị bản đồ đất đai.
Kết quả phân hạng đất là căn cứ quan trọng để lập quy hoạch sử dụng đất và đề xuất sử dụng đất nông nghiệp bền vững. Vì vậy, các nước có nền khoa học đất phát triển lập quy hoạch sử dụng đất luôn gắn liền với đánh giá đất. Trên thế giới có nhiều trường phái đánh giá đất khác nhau. Phương pháp đánh giá đất theo FAO được coi là phương pháp tiến bộ, kết hợp được những điểm mạnh của phương pháp đánh giá đất theo Liên Xô (cũ) và Hoa Kỳ, đồng thời có sự bổ sung hoàn chỉnh về phương pháp đánh giá đất đai cho các mục đích sử dụng khác nhau.
Điểm nổi bật của phương pháp đánh giá đất theo FAO là coi trọng và quan tâm đến việc đánh giá khả năng duy trì và bảo vệ tài nguyên đất đai, nhằm xây dựng một nền nông nghiệp bền vững trên phạm vi toàn thế giới cũng như trong từng quốc gia riêng rẽ. Phương pháp đánh giá đất ở Việt Nam được tiến hành từ những năm 1970, khởi đầu là nghiên cứu về phân hạng đất tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình của Bùi Quang Toản, tiếp theo là nghiên cứu đánh giá đất phục vụ tính thuế nông nghiệp năm 1981 – 1983 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn kết hợp với Tổng cục Quản lý ruộng đất chỉ đạo. Nhìn chung, các nghiên cứu trước đây còn nặng về chủ quan, thiếu tính định lượng. Phương pháp nghiên cứu đánh giá đất theo FAO được áp dụng vào Việt Nam từ cuối những năm 1980.
Hải Hậu là huyện ven biển nằm ở phía Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng thuộc tỉnh Nam Định, có tổng diện tích tự nhiên là 22.895,59 ha, diện tích đất nông nghiệp là 15. Điều này cho thấy đây là một huyện thuần nông.Cơ cấu và phân bố cây trồng, thủy sản chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tiễn của nhân dân và ý kiến 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ quan của các nhà quy hoạch địa phương. Hiện nay, trên địa bàn huyện độc canh cây lúa là chính, hiệu quả kinh tế thấp, đất đai đã có hiện tượng thoái hóa và thiếu một số nguyên tố vi lượng do không được luân canh với các loại cây trồng khác. Hơn nữa, do tác động của biến đổi khí hậu, đất đai ngày càng bị nhiễm mặn, thiên tai (bão, sạt lở biển…) ngày càng nhiều.
Vì vậy, “Đánh giá, phân hạng đất nhằm đề xuất sử dụng đất nông nghiệp bền vững huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định” là thực sự cần thiết. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được đặc tính, tính chất đất đai của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. - Đề xuất được các LUT bền vững cho huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu tổng quan: Tổng quan về cơ sở lý luận đánh giá, phân hạng đất của các trường phái khác nhau trên thế giới; khái quát hướng dẫn đánh giá đất của FAO; tổng quan các công trình đánh giá đất của Việt Nam và tỉnh Nam Định. - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có tác động đến sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Hải Hậu. - Đánh giá phân hạng thích hợp đất đai của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Hải Hậu theo hướng dẫn của FAO: Điều tra được các loại hình sử dụng đất nông nghiệp (Land Use Type – LUT) phổ biến trên địa bàn nghiên cứu; lựa chọn được các LUT có triển vọng; xác định được yêu cầu sử dụng đất của các LUT có triển vọng; xây dựng được các bản đồ chuyên đề và bản đồ đơn vị đất đai; áp dụng phương pháp tính trọng số AHP (phương pháp phân tích phân cấp) vào phân hạng thích hợp đất đai. - Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các LUT nông nghiệp tại huyện Hải Hậu.
- Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp bền vững cho huyện Hải Hậu. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu - Điều kiện tự nhiên (khí hậu, đặc điểm địa hình, nguồn nước, chế độ thủy văn, thảm thực vật,…) - Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Hải Hậu.
- Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp, các hệ thống sử dụng đất trên địa bàn huyện. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: Nghiên cứu trong phạm vi địa giới hành chính huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. - Phạm vi thời gian: Các vấn đề liên quan đến đối tượng và địa bàn nghiên cứu trong giai đoạn 2005 – 2014. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4.
Ý nghĩa khoa học Góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận khoa học cho việc sử dụng đất nông nghiệp khu vực ven biển. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu làm rõ đặc tính và tính chất đất đai ở huyện Hải Hậu. - Đề xuất được các LUT nông nghiệp bền vững cho huyện Hải Hậu. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Cơ sở lý luận khoa học về đánh giá tài nguyên đất, phục vụ định hƣớng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 1.Các khái niệm cơ bản về phát triển bền vững và sử dụng đất nông nghiệp bền vững 1.
Phát triển bền vững Khái niệm “Phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX. Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED, 1986) [54], đã đề xuất “Chương trình tương lai của chúng ta”. Sau đó, Hội nghị Olympic thế giới (thể thao và môi trường) (1992) [47], đã đưa ra “Chương trình nghị sự 21”. Hai chương trình này đều định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Hội đồng Liên Hợp Quốc trong Hội nghị Rio de Janeiro về môi trường và phát triển (1992) [52], có 182 nước tham gia đã thông qua bản tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển. Bản tuyên bố này đã đưa ra 27 nguyên tắc cho sự phát triển và bảo vệ môi trường. Hội đồng Liên Hợp Quốc trong Hội nghị về phát triển bền vững (2002) [53], đã thông qua bản tuyên bố “Johannesburg”. Trong bản tuyên bố này đã nêu, phát triển bền vững là có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống).
FAO (1991) [34] và FAO (1994) [44], đề xuất “Phát triển bền vững là quản lý và bảo vệ nguồn lực tự nhiên, định hướng sự thay đổi công nghệ, thể chế, nhằm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đảm bảo và đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng của con người trong các thế hệ hiện tại và tương lai”. Nông nghiệp bền vững Mục đích của nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống nông nghiệp bền vững về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng của con người mà không làm suy thoái đất, không làm ô nhiễm môi trường trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên. Nhóm tư vấn về nghiên cứu nông nghiệp quốc tế (1989) [51], cho rằng “Nông nghiệp bền vững là sự quản lý thành công nguồn nhân lực cho nông nghiệp, để thỏa mãn các nhu cầu thay đổi của con người, trong khi vẫn giữ vững hoặc nâng cao được chất lượng môi trường và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên”. FAO (1991) [34] và FAO (1994) [44], định nghĩa “Phát triển bền vững trong lĩnh vực nông, lâm, ngư là bảo tồn đất đai, nguồn nước, các nguồn di truyền động thực vật, môi trường không suy thoái, kỹ thuật phù hợp, kinh tế phát triển và xã hội chấp nhận được”.
Theo nghiên cứu nông nghiệp Hội nghị ở New Delhi Ấn Độ về quản lý nông nghiệp bền vững (Baier, 1990) [33], “Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống có hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu xã hội về an ninh lương thực, đồng thời giữ gìn, cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng của môi trường sống cho đời sau”.R (1993) [35], đã định nghĩa “Một hệ thống nông nghiệp bền vững phải đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về ăn và mặc thích hợp; có hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội; gắn với việc tăng phúc lợi trên đầu người”. Hệ sinh thái nông nghiệp Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái do con người tạo ra với mục đích thỏa mãn nhu cầu trên nhiều mặt và ngày càng tăng của mình. Hệ sinh thái nông nghiệp duy trì trên cơ sở quy luật khách quan của nó, tương đối đơn giản về thành phần và đồng nhất về cấu trúc, chưa cân bằng, kém bền vững và dễ bị phá vỡ. Hệ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sinh thái nông nghiệp được duy trì dưới sự tác động thường xuyên của con người, nếu ngừng tác động nó sẽ quay về hệ sinh thái tự nhiên (Trần Đức Viên, 2004) [32].
Những chỉ tiêu đánh giá sử dụng đất nông nghiệp bền vững 1. Những chỉ tiêu đánh giá bền vững về kinh tế Hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất của FAO (1993) [43], các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững về kinh tế gồm: - Tổng lợi nhuận: Là giá trị sản xuất trừ đi tổng chi phí biến đổi được phân bổ trực tiếp (đối với cây trồng chi phí gồm: hạt giống, phân bón, nhiên liệu, nước, lao động, máy móc thuê…). - Thu nhập thuần: Là tổng lợi nhuận trừ đi các chi phí cố định cho sản xuất.