Tổng quan nghiên cứu

Bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm là một trong những thách thức y tế công cộng cấp bách hàng đầu hiện nay. Theo số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng hơn 3 triệu trường hợp ngộ độc thực phẩm, gây thiệt hại kinh tế vượt mức 200 triệu USD. Báo cáo thống kê giai đoạn 2005 - 2015 của Cục An toàn Thực phẩm cũng chỉ ra rằng cả nước đã xảy ra 1.779 vụ ngộ độc với 54.720 người mắc và 471 ca tử vong. Trong các nguyên nhân gây ngộ độc, ô nhiễm vi sinh vật luôn chiếm tỷ lệ cao nhất, thường xuyên dao động từ 35% đến trên 55% tổng số vụ được ghi nhận hàng năm. Thịt lợn tươi sống là nguồn cung cấp protein chủ lực trong bữa ăn gia đình, nhưng lại có nguy cơ nhiễm khuẩn rất cao do tập quán giết mổ thủ công, điều kiện bảo quản kém và hạ tầng quầy bán tại các chợ truyền thống xuống cấp.

Trước bối cảnh đó, Dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm (LIFSAP) do Ngân hàng Thế giới tài trợ với tổng nguồn vốn 79,03 triệu USD đã triển khai nâng cấp hạ tầng các chợ thực phẩm tươi sống nhằm thiết lập chuỗi cung ứng sạch từ trang trại đến bàn ăn. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thú y của tác giả Tạ Hải Linh đã tiến hành đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện thực trạng vệ sinh thú y và mức độ ô nhiễm một số vi khuẩn chỉ thị trong thịt lợn tại 5 chợ xây theo mô hình của Dự án LIFSAP so với 3 chợ truyền thống trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6/2015 đến tháng 10/2016 tại địa bàn có lưu lượng tiêu thụ ước tính khoảng 50 tấn thịt mỗi ngày. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống chỉ số định lượng khách quan để đo lường hiệu quả giảm thiểu ô nhiễm vi sinh vật, góp phần hoàn thiện chính sách quản lý vệ sinh thú y tại cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề an toàn thực phẩm dựa trên sự tích hợp giữa hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP), mô hình chuỗi cung ứng nông sản an toàn từ trang trại đến bàn ăn và quy chuẩn thực hành chăn nuôi tốt (GAHP). Cơ sở lý thuyết xác định rằng quá trình hư hỏng của thịt thương phẩm bắt nguồn từ phản ứng tự phân giải sinh hóa kết hợp với sự phát triển của vi sinh vật qua hai con đường chính: nhiễm khuẩn nội sinh từ bản thân động vật ốm và nhiễm khuẩn ngoại sinh từ môi trường giết mổ, dụng cụ pha lọc, phương tiện vận chuyển và bàn tay người bán.

Đề tài làm rõ 5 khái niệm khoa học trọng tâm:

  • Tổng số vi khuẩn hiếu khí (TSVKHK): Nhóm vi sinh vật chỉ thị mức độ tươi mới và điều kiện vệ sinh chung của thực phẩm;
  • Escherichia coli: Trực khuẩn Gram âm chỉ thị tình trạng ô nhiễm phân và mức độ vi phạm vệ sinh đường ruột trong quá trình sơ chế;
  • Salmonella spp.: Trực khuẩn Gram âm gây ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng thông qua độc tố thẩm xuất nhanh (RPF), độc tố thẩm xuất chậm (DPF) và nội độc tố Lipopolysaccharide (LPS);
  • Lây nhiễm chéo: Hiện tượng vi khuẩn truyền từ bề mặt bàn gỗ, dao thớt, thùng chứa sang thân thịt sạch;
  • Tiêu chuẩn vệ sinh thú y: Giới hạn vi sinh vật tối đa cho phép theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua điều tra hiện trường và xét nghiệm vi sinh vật trong phòng thí nghiệm. Tổng cỡ mẫu khảo sát là 533 mẫu thu thập từ 245 quầy kinh doanh thịt lợn tại 8 chợ trên địa bàn huyện Khoái Châu. Cơ cấu mẫu phân bổ gồm 352 mẫu tại 172 quầy thuộc 5 chợ LIFSAP (chợ Bái, Bô Thời, Đông Tảo, Đại Quan, chợ Phủ) và 181 mẫu tại 73 quầy thuộc 3 chợ truyền thống (chợ An Vĩ, Đại Tập, Mốc Đá). Danh mục mẫu gồm: 245 mẫu lau thân thịt lợn, 72 mẫu nước sinh hoạt tại quầy, 72 mẫu lau dụng cụ kinh doanh, 72 mẫu lau phương tiện vận chuyển và 72 mẫu thịt lợn mảnh.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp điều tra toàn bộ các quầy thịt đang hoạt động. Mẫu phiếu kiểm tra được xây dựng theo Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Mẫu được lấy trực tiếp vào buổi sáng từ 6 giờ đến 10 giờ theo tiêu chuẩn TCVN 6663-1:2001, TCVN 5993:1995, QCVN 01-04:2009 và TCVN 4833-1:2002.

Về phân tích vi sinh, mẫu được chuyển về Trung tâm Kiểm tra Vệ sinh Thú y Trung ương I trong vòng 8 đến 24 giờ ở điều kiện nhiệt độ 2°C đến 5°C. Đề tài lựa chọn các phương pháp tiêu chuẩn gồm:

  • Định lượng TSVKHK theo ISO 6222:1999 (TCVN 4884:2005) trên môi trường Plate Count Agar (PCA);
  • Định lượng E. coli theo TCVN 7924-2:2008 trên môi trường Tryptone Bile X-glucuronide (TBX);
  • Phát hiện Salmonella theo TCVN 4829:2005 qua 4 bước tăng sinh, phân lập, khẳng định sinh hóa bằng hệ thống VITEK 2 Compact và ngưng kết kháng huyết thanh O, H đa giá.

Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm đảm bảo độ chính xác cao, tính lặp lại tốt, đáp ứng hoàn toàn quy chuẩn pháp lý quốc gia và chuẩn mực quốc tế. Toàn bộ số liệu được xử lý thống kê sinh học trên phần mềm Excel 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu mang lại 4 phát hiện thực chứng nổi bật:

Thứ nhất, ý thức tuân thủ pháp luật và thực hành vệ sinh tại các chợ LIFSAP tốt hơn rõ rệt so với chợ truyền thống. Tỷ lệ tiểu thương có giấy phép kinh doanh và khám sức khỏe định kỳ tại 5 chợ LIFSAP đạt mức bình quân 40,41% toàn huyện, dẫn đầu là chợ Phủ với 70,45% và chợ Đông Tảo với 61,90%. Trong khi đó, tại 3 chợ truyền thống (An Vĩ, Đại Tập, Mốc Đá), tỷ lệ này hoàn toàn bằng 0,00%. Tỷ lệ người bán mang găng tay bảo hộ tại chợ Phủ đạt 84,09% và chợ Bái đạt 82,14%, trong khi các chợ truyền thống ghi nhận tỷ lệ 0,00%.

Thứ hai, hạ tầng quầy sạp và dụng cụ kinh doanh có sự cách biệt lớn. Tại chợ Đông Tảo, 100,00% quầy sử dụng bàn gạch men hoặc inox sạch sẽ; con số này tại chợ Đại Quan là 90,91%, chợ Bái là 89,28% và chợ Phủ là 86,36%. Ngược lại, tại 3 chợ truyền thống, tỷ lệ dùng bàn gỗ mục nát lên tới 92,86% đến 100,00%. Tỷ lệ sử dụng dao inox dễ khử trùng tại các chợ LIFSAP đạt từ 60,00% đến 84,09%, trong khi tiểu thương chợ truyền thống chủ yếu sử dụng dao sắt dễ rỉ sét với tỷ lệ từ 71,43% đến 78,57%.

Thứ ba, mức độ ô nhiễm vi khuẩn hiếu khí trên thịt tại chợ LIFSAP thấp hơn rất nhiều so với chợ truyền thống. Tỷ lệ mẫu lau thân thịt đạt tiêu chuẩn vệ sinh (mật độ vi khuẩn ≤ 10^5 CFU/cm2) tại chợ Phủ đạt 79,55%, chợ Đại Quan đạt 78,79%, chợ Đông Tảo đạt 76,19%, chợ Bô Thời đạt 64,00% và chợ Bái đạt 53,57%. Tại các chợ truyền thống, tỷ lệ mẫu đạt chuẩn rất thấp: chợ An Vĩ chỉ đạt 39,29%, chợ Đại Tập đạt 29,17% và chợ Mốc Đá chỉ đạt 28,57%.

Thứ tư, khâu vận chuyển và dụng cụ chứa đựng là nguồn lây nhiễm chéo vi sinh vật nguy hiểm. Phần lớn thịt được vận chuyển bằng xe máy trong sọt nhựa, bao tải hoặc tiếp xúc trực tiếp với yên xe mà không được che chắn kín, làm tăng nguy cơ vấy nhiễm E. coli và Salmonella trước khi thịt được đưa lên bàn bán.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội về chỉ tiêu vi sinh tại các chợ LIFSAP xuất phát từ việc đầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ. Việc bố trí bàn inox, mặt gạch men và vòi nước máy ngay tại từng quầy giúp tiểu thương dễ dàng tẩy rửa, sát trùng sau mỗi buổi bán, loại bỏ nơi trú ngụ của vi khuẩn. Trái lại, tại các chợ truyền thống, bàn gỗ ngấm dịch bào và mùn thớt cũ kết hợp với việc thiếu nước sạch đã tạo thành màng sinh học (biofilm) khiến vi khuẩn liên tục phát triển và lây nhiễm sang thịt mới.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công bố khoa học trước đây của Viện Thú y Trung ương (tỷ lệ thịt lợn nhiễm E. coli vượt chuẩn là 64,00%) và khảo sát của Chi cục Thú y Thành phố Hồ Chí Minh (trên 46,00% mẫu thịt nhiễm khuẩn). Điều này chứng minh rằng điều kiện vệ sinh tại quầy bán lẻ là mắt xích kiểm soát trọng yếu nhất trong chuỗi phân phối thịt tươi sống.

Về phương thức trực quan hóa, các dữ liệu trên có thể được thể hiện hiệu quả qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ đạt chuẩn TSVKHK giữa nhóm chợ LIFSAP (53,57% - 79,55%) và nhóm chợ truyền thống (28,57% - 39,29%), kết hợp bảng ma trận tương quan giữa tỷ lệ sử dụng bàn inox, tỷ lệ đeo găng tay với mức độ giảm thiểu mật độ CFU/cm2 trên bề mặt thân thịt lợn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi nhằm cải thiện vệ sinh an toàn thực phẩm:

  • Nâng cấp đồng bộ hạ tầng quầy sạp: Thay thế toàn bộ bàn gỗ, sọt tre bằng bàn inox, móc treo inox chuyên dụng và lắp đặt hệ thống cấp thoát nước sạch độc lập tại 100% quầy kinh doanh ở các chợ truyền thống. Mục tiêu nâng tỷ lệ mẫu thịt đạt tiêu chuẩn vi sinh vật lên trên 85,00% tại tất cả các chợ dân sinh. Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2017 - 2020. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý Dự án LIFSAP phối hợp cùng Ủy ban nhân dân huyện Khoái Châu và Ban Quản lý chợ.
  • Chuẩn hóa điều kiện phương tiện vận chuyển: Ban hành quy định bắt buộc vận chuyển thịt lợn từ lò mổ đến chợ bằng thùng kín chuyên dụng có nắp đậy, cấm đặt thịt trực tiếp lên khung và yên xe máy. Mục tiêu giảm tỷ lệ ô nhiễm chéo trên phương tiện vận chuyển xuống dưới 10,00%. Thời gian thực hiện: Triển khai định kỳ hàng quý từ năm 2017. Chủ thể thực hiện: Chi cục Thú y tỉnh Hưng Yên phối hợp với lực lượng Quản lý thị trường.
  • Đào tạo kiến thức và kiểm tra sức khỏe bắt buộc: Tổ chức các lớp tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm, cấp chứng chỉ và khám sức khỏe định kỳ mỗi năm một lần cho 100% người trực tiếp bán thịt. Mục tiêu đạt 100% tiểu thương mang găng tay và bảo hộ lao động khi pha lọc thịt. Thời gian thực hiện: Hoàn thành trong 6 tháng đầu năm 2017. Chủ thể thực hiện: Trạm Thú y huyện Khoái Châu kết hợp Trung tâm Y tế huyện.
  • Tăng cường giám sát và kiểm soát thú y thường trực: Bố trí cán bộ thú y kiểm tra lâm sàng và lăn dấu kiểm soát giết mổ tại các chợ đầu mối lớn như chợ Phủ và chợ Đông Tảo trước giờ bán hàng; định kỳ lấy mẫu kiểm nghiệm TSVKHK, E. coli và Salmonella đột xuất. Mục tiêu 100% thịt lưu thông có nguồn gốc rõ ràng. Thời gian thực hiện: Vận hành thường nhật từ quý I/2017. Chủ thể thực hiện: Chi cục Thú y tỉnh Hưng Yên và cán bộ thú y cơ sở.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và số liệu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Lãnh đạo Cục Thú y, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thêm căn cứ thực nghiệm từ 533 mẫu phân tích để đánh giá hiệu quả đầu tư dự án ODA của Ngân hàng Thế giới, từ đó nhân rộng mô hình chợ LIFSAP ra các địa phương khác.
  • Ban quản lý chợ và cán bộ thú y cơ sở: Đội ngũ quản lý chợ và nhân viên thú y có thể áp dụng trực tiếp biểu mẫu kiểm tra theo Thông tư 45/2014/TT-BNNPTNT cùng quy trình giám sát vệ sinh quầy sạp, quy chuẩn vận chuyển để siết chặt kỷ cương vệ sinh tại các điểm bán lẻ.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giảng viên và học viên ngành Thú y, Thú y cộng đồng, Công nghệ thực phẩm có thể kế thừa quy trình lấy mẫu chuẩn hóa theo TCVN, phương pháp phân tích vi sinh trên máy VITEK 2 Compact và số liệu đối chứng thực tế cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu.
  • Chủ cơ sở giết mổ và thương lái kinh doanh thịt: Người kinh doanh hiểu rõ cơ chế lây nhiễm chéo của vi khuẩn Salmonella và E. coli từ bàn gỗ, dao sắt và thùng vận chuyển bẩn, từ đó chủ động đầu tư trang thiết bị inox đạt chuẩn nhằm nâng cao uy tín thương phẩm và bảo đảm an toàn cho khách hàng.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao tỷ lệ mẫu thịt đạt tiêu chuẩn vi sinh tại chợ truyền thống chỉ đạt từ 28,57% đến 39,29%? Chợ truyền thống có điều kiện vệ sinh kém, không có nguồn nước máy tại chỗ, trên 92,86% quầy dùng bàn gỗ lâu năm và hơn 71,43% dùng dao sắt rỉ sét. Mùn gỗ và rãnh nứt tích tụ chất hữu cơ là môi trường lý tưởng cho vi khuẩn hiếu khí và E. coli trú ẩn, liên tục gây ô nhiễm chéo vào thịt.

Dự án LIFSAP đã cải thiện những điều kiện kỹ thuật nào tại các quầy bán thịt? Dự án đầu tư đồng bộ khu bán thịt riêng biệt, cung cấp bàn bày bán bằng gạch men hoặc inox dễ lau chùi đạt tỷ lệ lên tới 100,00% tại chợ Đông Tảo, trang bị vòi nước sạch tại từng quầy và phát dao inox chuyên dụng, giúp tăng tỷ lệ tiểu thương đeo găng tay lên tới 84,09% tại chợ Phủ.

Những chỉ tiêu vi sinh vật nào được sử dụng để đánh giá chất lượng thịt lợn trong đề tài? Nghiên cứu phân tích ba chỉ tiêu cốt lõi: Tổng số vi khuẩn hiếu khí (TSVKHK) để đánh giá độ tươi và mức độ nhiễm khuẩn chung; Escherichia coli để chỉ thị ô nhiễm phân và vệ sinh đường ruột; cùng Salmonella spp. là vi khuẩn nguy cơ cao gây viêm dạ dày ruột và ngộ độc cấp tính cho người.

Phương thức vận chuyển bằng xe máy ảnh hưởng như thế nào đến độ sạch của thịt? Khảo sát cho thấy thịt lợn chủ yếu được chở bằng xe máy trong sọt nhựa, bao tải hoặc đặt trực tiếp lên yên xe mà không bao gói kín. Phương tiện không được tẩy trùng thường xuyên khiến bụi đường và vi khuẩn bám dính vào thân thịt, làm tăng mật độ vi sinh vật trước khi thịt được bày bán tại chợ.

Quy trình xét nghiệm vi sinh trong luận văn được thực hiện theo tiêu chuẩn nào? Các mẫu được phân tích tại Trung tâm Kiểm tra Vệ sinh Thú y Trung ương I, tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn ISO 6222:1999 (TCVN 4884:2005) đối với TSVKHK, TCVN 7924-2:2008 đối với E. coli trên thạch TBX, và TCVN 4829:2005 kết hợp máy tự động VITEK 2 Compact để định danh chính xác Salmonella.

Kết luận

  • Nghiên cứu thực nghiệm trên 533 mẫu đã chứng minh tính ưu việt của mô hình chợ LIFSAP với tỷ lệ mẫu thịt đạt chuẩn vệ sinh vi sinh vật lên tới 79,55%, vượt trội hoàn toàn so với mức 28,57% tại chợ truyền thống.
  • Việc nâng cấp đồng bộ quầy sạp bằng gạch men, bàn inox và cấp nước tại chỗ đã nâng tỷ lệ tiểu thương có giấy phép kinh doanh và khám sức khỏe định kỳ lên 40,41% toàn huyện, trong khi chợ truyền thống đạt 0,00%.
  • Đề tài đóng góp bộ dữ liệu khoa học chuẩn xác, cung cấp bằng chứng thực tế khẳng định sự cần thiết của việc đầu tư hạ tầng chợ bán lẻ trong chuỗi thực phẩm an toàn từ nguồn vốn Ngân hàng Thế giới.
  • Khâu vận chuyển không che chắn và việc sử dụng bàn gỗ, dao sắt tại các chợ dân sinh vẫn là điểm nghẽn lớn nhất gây lây nhiễm chéo vi khuẩn E. coli và Salmonella.
  • Trong giai đoạn 2017 - 2020, các cơ quan chức năng cần khẩn trương mở rộng mô hình chợ LIFSAP trên toàn địa bàn và tăng cường kiểm tra liên ngành từ lò mổ đến chợ bán lẻ. Bạn đọc quan tâm có thể tra cứu toàn văn luận văn tại Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam để tìm hiểu chi tiết các giải pháp kỹ thuật!