Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê từ Cục An toàn thực phẩm, mỗi năm Việt Nam ghi nhận từ 250 đến 500 vụ ngộ độc thực phẩm với khoảng 7.000 nạn nhân và 100 đến 200 ca tử vong. Trong lĩnh vực chế biến gia súc, gia cầm, toàn quốc có hơn 28.285 điểm giết mổ nhỏ lẻ, chiếm tỷ lệ trên 94,4%, phần lớn vận hành theo phương thức thủ công chưa đạt chuẩn vệ sinh thú y. Thịt gà là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng thiết yếu, song quá trình giết mổ không đảm bảo điều kiện vệ sinh tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm chéo các vi sinh vật gây bệnh nguy hiểm.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thú y của tác giả Dương Thị Hồng Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lại Thị Lan Hương tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tập trung giải quyết bài toán kiểm soát chất lượng thịt gia cầm tươi sống. Mục tiêu chính của đề tài là khảo sát thực trạng hạ tầng, điều kiện vệ sinh và xác định mức độ ô nhiễm của 6 chỉ tiêu vi khuẩn trong thịt gà tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Địa bàn nghiên cứu tập trung 50 cơ sở giết mổ, chiếm 12,89% tổng số cơ sở của tỉnh Bắc Ninh, với thời gian thu thập mẫu thực địa kéo dài qua 3 đợt từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2016. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ công tác quy hoạch, hỗ trợ chính quyền địa phương chuyển đổi các lò mổ tự phát sang mô hình tập trung, bảo vệ sức khỏe cho hơn 160.000 cư dân trên địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý chuỗi an toàn thực phẩm từ trang trại đến bàn ăn kết hợp hệ thống Phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn HACCP. Nền tảng pháp lý của luận văn dựa trên Luật An toàn thực phẩm năm 2010 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2011), làm rõ các khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm, thực phẩm tươi sống và bệnh lý ngộ độc thực phẩm.

Mô hình nghiên cứu phân định hai cơ chế gây bệnh chính từ vi sinh vật: ngộ độc do độc tố vi khuẩn tiết ra trước khi tiêu thụ (Foodborne intoxication) như độc tố ruột Enterotoxin chịu nhiệt của Staphylococcus aureus, Clostridium perfringens; và ngộ độc do nhiễm khuẩn trực tiếp qua đường tiêu hóa (Foodborne infection) từ Salmonella spp. và Escherichia coli. Bên cạnh đó, khung lý thuyết sử dụng nhóm vi khuẩn chỉ thị vệ sinh bao gồm Tổng số vi khuẩn hiếu khí và Coliforms tổng số để đánh giá mức độ phơi nhiễm và nguy cơ lây nhiễm chéo trong từng công đoạn giết mổ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập qua khảo sát thực trạng 50 cơ sở giết mổ tại huyện Thuận Thành và xét nghiệm thực nghiệm tại Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học thuộc Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 67 mẫu thịt gà tươi (thu thập tại 3 cơ sở đại diện với số lượng lần lượt là 24, 23 và 20 mẫu vào khung giờ 4h đến 5h sáng), 45 mẫu không khí và các mẫu nước sử dụng.

Phương pháp chọn mẫu tuân thủ quy chuẩn QCVN 01-04:2009/BNNPTNT và tiêu chuẩn TCVN 7925:2008 (ISO 17064:2003), thu thập ngẫu nhiên tối thiểu 15 thân thịt mỗi đợt, cắt mẫu da cổ 10g hoặc gộp mẫu mô 25g tại các vị trí cổ, lưng, hậu môn và bảo quản bằng đá khô. Phương pháp phân tích vi sinh áp dụng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc gia: TCVN 4884:2005 (vi khuẩn hiếu khí trên môi trường PCA), TCVN 7924-2:2008 (E. coli trên môi trường TBX), TCVN 4829:2005 (Salmonella trên môi trường RV, XLD), TCVN 4830-1:2005 (Staphylococcus aureus trên môi trường Baird-Parker), TCVN 4991:2005 (Clostridium perfringens trên môi trường TSC) và TCVN 4882:2007 (Coliforms tổng số).

Mẫu không khí được đánh giá bằng phương pháp lắng bụi Koch theo công thức V.Omealianski. Đề tài lựa chọn hệ thống máy định danh tự động Vitek 2 kết hợp dải sinh hóa API 20 E nhằm nâng cao độ nhạy, tính khách quan và độ chính xác sinh học. Số liệu được phân tích thống kê sinh học trên phần mềm Excel với độ tin cậy 95% qua 3 mốc thời gian ngày 15/08/2016, 15/09/2016 và 15/10/2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa và phân tích thực nghiệm mang lại các phát hiện định lượng quan trọng:

Thứ nhất, điều kiện vệ sinh thú y tại 50 cơ sở giết mổ trên địa bàn huyện Thuận Thành còn nhiều bất cập. Có 100% cơ sở nằm trực tiếp trong khu dân cư và gần trục đường giao thông dưới 500m; 100% cơ sở có diện tích chật hẹp dưới 100 m² (chủ yếu từ 11 đến 20 m²) và chưa được cấp phép kinh doanh chính thức. Về nguồn nước, 100% cơ sở dùng nước giếng khoan nhưng chỉ có 13,33% (8 cơ sở) thực hiện xử lý nước. Có 84,64% cơ sở xử lý nước thải bằng bể lắng sơ sài và 100% sử dụng xe máy không bao gói để vận chuyển thân thịt.

Thứ hai, môi trường không khí tại khu vực giết mổ bị ô nhiễm vi sinh vật nghiêm trọng. Tỷ lệ mẫu không khí không đạt tiêu chuẩn vệ sinh dao động từ 66,67% đến 80,00% (tổng số 34/45 mẫu không đạt, chiếm 75,56%), với mật độ vi khuẩn hiếu khí cao nhất lên tới 5.130 CFU/m³.

Thứ ba, kiểm nghiệm 67 mẫu thịt gà tươi ghi nhận 100% mẫu đạt chỉ tiêu cảm quan về trạng thái, màu sắc và mùi vị. Tuy nhiên, tỷ lệ mẫu đạt tiêu chuẩn vi sinh lại rất thấp: chỉ tiêu Tổng số vi khuẩn hiếu khí chỉ đạt 56,72% (43,28% vượt giới hạn); Staphylococcus aureus chỉ đạt 59,70% (40,30% nhiễm khuẩn vượt mức); Coliforms tổng số đạt 61,19%; E. coli đạt 68,66%; và có 11,94% số mẫu dương tính với Salmonella spp. Riêng chỉ tiêu Clostridium perfringens ghi nhận 100% số mẫu đạt yêu cầu.

Thảo luận kết quả

Sự đối lập giữa tỷ lệ 100% đạt chuẩn cảm quan và hơn 40% mẫu nhiễm vi sinh vật vượt ngưỡng cho thấy nguy cơ ngộ độc thực phẩm tiềm ẩn rất lớn mà người tiêu dùng không thể nhận biết bằng mắt thường. Nguyên nhân chính là do thói quen mổ gia cầm trực tiếp trên nền sàn bê tông, dụng cụ dao thớt không được khử trùng nước nóng thường xuyên và việc sử dụng nguồn nước ngầm chưa qua lọc lắng, khiến vi khuẩn từ phân và lông gà dễ dàng lây nhiễm chéo vào thân thịt.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Ngọc Thúy khi đánh giá thịt tươi sống tại Hà Nội, cũng như khẳng định từ nghiên cứu của tác giả Trần Thị Hạnh về việc tỷ lệ nhiễm Salmonella tại các điểm giết mổ thủ công luôn cao gấp 2 đến 3 lần so với mô hình tập trung. Dữ liệu nghiên cứu của đề tài có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ nhiễm khuẩn giữa 3 đợt lấy mẫu và bảng ma trận đối chiếu giữa độ nhiễm bẩn không khí với mật độ tụ cầu vàng, giúp các nhà quản lý dễ dàng khoanh vùng các điểm nóng ô nhiễm trong quy trình sơ chế.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chấn chỉnh hoạt động giết mổ và giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật tại huyện Thuận Thành, đề tài đưa ra 4 giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, quy hoạch di dời cơ sở giết mổ: Ủy ban nhân dân huyện Thuận Thành cùng Chi cục Thú y tỉnh Bắc Ninh cần khẩn trương quy hoạch di dời 100% điểm giết mổ nhỏ lẻ ra khỏi khu dân cư, tập trung xây dựng tối thiểu 2 cơ sở giết mổ tập trung hiện đại đạt cự ly an toàn trên 500m so với khu dân sinh trước năm 2020.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng cấp thoát nước: Chủ các cơ sở giết mổ phải đầu tư hệ thống lọc khử trùng nguồn nước ngầm đạt 100% quy chuẩn TCVN 6187:1996 và lắp đặt hầm Biogas thể tích trên 20 m³ thay thế hoàn toàn 84,64% bể lắng thủ công hiện nay, hoàn thành trong giai đoạn 2018 - 2019.

Thứ ba, chuẩn hóa kỹ thuật và đào tạo nhân công: Trạm Thú y huyện phối hợp với chuyên gia Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức 4 khóa đào tạo định kỳ mỗi năm cho 100% người hành nghề giết mổ, chuyển đổi từ mổ sàn sang quy trình mổ treo và thực hiện khử trùng dụng cụ mổ ở nhiệt độ trên 82°C.

Thứ tư, siết chặt kiểm dịch và chuỗi vận chuyển: Lực lượng thú y tăng cường kiểm soát 100% quy trình khám trước và sau giết mổ, chấm dứt hoàn toàn tình trạng vận chuyển thịt trần bằng xe máy thông qua việc bắt buộc sử dụng thùng bảo ôn kín, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ thịt gà nhiễm vi khuẩn hiếu khí và Staphylococcus aureus xuống dưới 15% trước năm 2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ thú y: Chi cục Thú y và Trạm Thú y các cấp có thể sử dụng bộ dữ liệu khảo sát 50 cơ sở và 67 mẫu kiểm nghiệm vi sinh làm căn cứ khoa học để xây dựng chính sách cấp phép, hoạch định quy hoạch giết mổ tập trung và tổ chức thanh tra liên ngành.

Thứ hai, chủ cơ sở giết mổ và hộ kinh doanh thịt gia cầm: Cung cấp tài liệu hướng dẫn kỹ thuật kiểm soát các điểm rủi ro lây nhiễm, cải tạo hệ thống xử lý nước và áp dụng quy trình mổ treo giúp tăng tỷ lệ thịt gà đạt chuẩn vi sinh từ 56,72% lên trên 90%.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Thú y, Chăn nuôi, Công nghệ thực phẩm: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp lấy mẫu theo QCVN 01-04:2009/BNNPTNT và ứng dụng các kỹ thuật xét nghiệm vi sinh hiện đại như hệ thống máy Vitek 2 và sinh hóa API 20 E.

Thứ tư, doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng: Giúp nâng cao nhận thức về nguy cơ lây nhiễm từ phương tiện vận chuyển hở, từ đó xây dựng tiêu chuẩn lựa chọn nguồn thịt gà có kiểm dịch và duy trì nhiệt độ bảo quản lạnh dưới 4°C để ức chế vi khuẩn sinh độc tố.

Câu hỏi thường gặp

Thịt gà đạt 100% chỉ tiêu cảm quan tươi ngon tại sao vẫn có thể gây ngộ độc? Thịt gà có màu sắc hồng hào và độ đàn hồi tốt nhưng vẫn có thể chứa mật độ vi khuẩn rất cao do vi sinh vật không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Kết quả phân tích ghi nhận 43,28% mẫu thịt nhiễm vi khuẩn hiếu khí và 40,30% mẫu nhiễm Staphylococcus aureus vượt mức cho phép, dễ dàng tiết độc tố gây viêm ruột cấp khi tiêu thụ.

Những loại vi khuẩn nguy hiểm nhất được tìm thấy trong thịt gà tại Thuận Thành là gì? Hai tác nhân vi sinh nguy hiểm nhất là Salmonella spp. với tỷ lệ nhiễm 11,94% và Staphylococcus aureus vượt ngưỡng ở 40,30% mẫu. Salmonella gây nhiễm trùng đường tiêu hóa và sốt thương hàn, trong khi tụ cầu vàng tiết độc tố ruột Enterotoxin chịu nhiệt cao, không bị phá hủy hoàn toàn dù đun sôi trong 30 phút.

Nguyên nhân chính khiến thịt gà bị nhiễm khuẩn nặng tại các cơ sở giết mổ là gì? Nguyên nhân cốt lõi là hạ tầng giết mổ thô sơ với 100% cơ sở có diện tích dưới 100 m² và nằm trong khu dân cư. Việc sử dụng nước giếng khoan chưa xử lý (chiếm 86,67%), thao tác mổ trực tiếp trên sàn bê tông và không khí chuồng trại có tới 75,56% mẫu ô nhiễm nặng đã dẫn tới lây nhiễm chéo.

Nghiên cứu đã áp dụng những tiêu chuẩn và công nghệ xét nghiệm nào? Đề tài áp dụng đồng bộ các tiêu chuẩn quốc gia như TCVN 4884:2005, TCVN 7924-2:2008 và QCVN 01-04:2009/BNNPTNT. Nghiên cứu sử dụng hệ thống máy tự động Vitek 2 có khả năng định danh hơn 300 loài vi khuẩn kết hợp dải sinh hóa API 20 E, giúp phát hiện chính xác các trực khuẩn Gram âm đường ruột.

Người tiêu dùng cần xử lý thịt gà như thế nào để phòng ngừa vi khuẩn gây bệnh? Người tiêu dùng cần nấu chín kỹ thịt gà ở nhiệt độ tâm sản phẩm trên 75°C trong tối thiểu 15 phút để tiêu diệt Salmonella và E. coli. Ngoài ra, cần bảo quản thịt ở nhiệt độ dưới 4°C, dùng riêng thớt cho đồ sống và đồ chín nhằm loại trừ nguy cơ lây nhiễm chéo từ 38,81% lượng Coliforms tồn dư.

Kết luận

Luận văn của tác giả Dương Thị Hồng Minh đã cung cấp bức tranh thực trạng chân thực và hệ thống dữ liệu khoa học tin cậy về an toàn vệ sinh thú y trong giết mổ gia cầm:

  • Khảo sát 50 cơ sở giết mổ tại huyện Thuận Thành, ghi nhận 100% điểm giết mổ tự phát nằm trong khu dân cư và chỉ 13,33% có xử lý nguồn nước giếng khoan.
  • Xác định 75,56% mẫu không khí tại khu vực giết mổ không đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y với mật độ vi khuẩn hiếu khí lên tới 5.130 CFU/m³.
  • Phân tích 67 mẫu thịt gà tươi, phát hiện 43,28% mẫu nhiễm vi khuẩn hiếu khí vượt chuẩn và 11,94% mẫu dương tính với Salmonella.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm gắn với lộ trình di dời quy hoạch và chuyển đổi sang công nghệ mổ treo hợp vệ sinh giai đoạn 2018 - 2020.
  • Đóng góp quy trình đánh giá vi sinh chuẩn hóa kết hợp phương pháp tiêu chuẩn quốc gia với công nghệ định danh tự động Vitek 2.

Chính quyền địa phương và các cơ quan thú y cần nhanh chóng triển khai các biện pháp kiểm soát liên ngành, xóa bỏ các điểm mổ tự phát để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể liên hệ trực tiếp với tác giả hoặc Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam để tiếp cận toàn văn công trình và nhận tài liệu chuyển giao kỹ thuật.