Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp nhiệt đới gió mùa, điều kiện nóng ẩm tạo môi trường thuận lợi cho cây trồng phát triển nhưng đồng thời cũng là môi trường lý tưởng cho sâu bệnh, dịch hại và cỏ dại bùng phát. Trong cơ cấu canh tác hiện nay, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) vẫn được xem là biện pháp kỹ thuật phổ biến và chủ yếu nhằm bảo vệ năng suất mùa màng và an ninh lương thực. Tuy nhiên, việc lạm dụng nông dược cùng nhận thức hạn chế của người sản xuất đã kéo theo nhiều hệ lụy sinh thái nghiêm trọng như làm mất cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng, tích lũy dư lượng độc chất trong chuỗi thức ăn và gây ô nhiễm các thành phần môi trường đất, nước, không khí. Đặc biệt, bao bì và vỏ chai lọ HCBVTV sau khi sử dụng là loại chất thải nguy hại chứa dư lượng hóa chất độc tính cao, song hầu hết chưa được thu gom, phân loại và xử lý theo đúng quy chuẩn kỹ thuật mà bị vứt bỏ tùy tiện tại đồng ruộng, mương máng.
Xã La Hiên là một xã miền núi thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, sở hữu quỹ đất sản xuất nông nghiệp tương đối lớn cùng hệ thống khe suối phong phú, tạo điều kiện thuận lợi để canh tác lúa nước, ngô, rau màu, cây ăn quả và chè. Mặc dù vậy, hoạt động canh tác tại địa phương vẫn mang tính tự phát, trình độ nhận thức về an toàn môi trường của nông dân chưa cao, công tác tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật còn thưa thớt. Tình trạng nông dân sử dụng thuốc vượt khuyến cáo, phối trộn tùy tiện và xả thải trực tiếp bao bì, vỏ chai thuốc BVTV xuống các dòng kênh mương dẫn nước diễn ra phổ biến. Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá hiện trạng và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do bao bì hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn xã La Hiên" được thực hiện nhằm khảo sát toàn diện thực trạng sử dụng thuốc, mức độ phát sinh và phương thức xử lý bao bì nông dược, từ đó nhận diện các rủi ro sinh thái tại địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là khảo sát tình hình sử dụng hóa chất BVTV và đánh giá nguy cơ ô nhiễm do bao bì hóa chất BVTV tại xã La Hiên, làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý và giảm thiểu tác hại đến hệ sinh thái và sức khỏe con người.
Văn bản xác định cụ thể 3 mục tiêu nghiên cứu:
- Hiểu được hiện trạng và những thay đổi sau một thời gian dài sử dụng thuốc BVTV của cộng đồng nông thôn xã La Hiên.
- Đánh giá sơ bộ tình trạng sức khỏe của người dân khi sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn xã La Hiên.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị giúp người dân sử dụng thuốc BVTV một cách hiệu quả.
Về yêu cầu nghiên cứu, đề tài đặt ra 4 nội dung cụ thể:
- Thu thập thông tin, số liệu đảm bảo tính trung thực, khách quan và chính xác.
- Đánh giá được tình hình sử dụng hóa chất BVTV của các hộ nông dân tại địa phương.
- Đánh giá được nguy cơ gây ô nhiễm môi trường bắt nguồn từ bao bì hóa chất BVTV tại xã La Hiên.
- Đề xuất các giải pháp hạn chế tối đa tác hại của hóa chất BVTV đối với môi trường và con người.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nông hộ trực tiếp sử dụng hóa chất BVTV và các cơ sở kinh doanh, phân phối hóa chất BVTV trên địa bàn xã.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (tập trung tại 16 xóm hành chính).
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu và khảo sát thực địa từ ngày 18/08/2014 đến ngày 15/12/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các định nghĩa học thuật và khung pháp lý chuyên ngành về nông dược và quản lý chất thải nguy hại:
- Khái niệm hóa chất BVTV: Tiếp cận theo Điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm theo Nghị định số 58/2002/NĐ-CP của Chính phủ), định nghĩa của TS. Trần Văn Hai và nhóm tác giả Nguyễn Trần Oánh, xác định thuốc BVTV là các hợp chất hóa học hoặc chế phẩm sinh học được dùng để ngăn ngừa, tiêu diệt sinh vật gây hại tài nguyên thực vật.
- Hệ thống phân loại hóa chất BVTV: Khóa luận phân tích theo công dụng (thuốc trừ sâu bệnh, thuốc diệt cỏ và kích thích sinh trưởng, thuốc diệt nấm, thuốc trừ dịch hại khác); theo nguồn gốc sản xuất và cấu trúc hóa học (hợp chất hữu cơ chứa Clo, Phospho, Cacbamat, thủy ngân hữu cơ, hợp chất vô cơ chứa Cu, S, Hg và hợp chất có nguồn gốc thực vật); phân loại mức độ độc tính theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dựa trên chỉ số $LD_{50}$ (mg/kg thể trọng chuột) qua đường miệng và qua da, kết hợp hệ thống nhận diện vạch màu quy định tại Việt Nam (vạch đỏ - nhóm I rất độc; vạch vàng - nhóm II độc cao; vạch xanh da trời - nhóm III nguy hiểm; vạch xanh lá cây - nhóm IV cẩn thận); phân loại theo dạng thương phẩm (nhũ dầu - ND, dung dịch - DD, bột thấm nước - BTN, bột hòa nước - BHN, huyền phù - HP, hạt - H, viên - P, bột rắc - BR); phân loại theo mức độ bền vững môi trường (không bền vững 1–12 tuần, bền vững trung bình 1–18 tháng, bền vững 2–5 năm, và rất bền vững không phân hủy như Hg, As); phân loại theo cơ chế tác động (tiếp xúc, vị độc, nội hấp, xông hơi).
- Con đường lan truyền và độc học môi trường: Cơ chế phát tán qua các môi trường thành phần (đất, nước, không khí, chuỗi thức ăn sinh học); 3 con đường xâm nhập vào cơ thể người (qua da, tiêu hóa, hô hấp) và 5 hội chứng bệnh lý lâm sàng (thần kinh, tim mạch, hô hấp, tiêu hóa - gan mật, máu).
- Khung văn bản quy phạm pháp luật: Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13; Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013; các Nghị định số 58/2002/NĐ-CP, Nghị định số 26/2003/NĐ-CP, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, Nghị định số 116/2014/NĐ-CP, Nghị định số 179/2013/NĐ-CP; Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT; Thông tư số 03/2013/TT-BNNPTNT; Thông tư số 14/2013/TT-BNNPTNT; Thông tư số 21/2013/TT-BNNPTNT; Thông tư số 43/2013/TT-BTNMT; Quyết định số 89/2006/QĐ-BNN; Quyết định số 63/2007/QĐ-BNN; Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 21/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ; các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 54:2013/BTNMT và QCVN 08:2008/BTNMT.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp kế thừa và thu thập số liệu thứ cấp: Tiếp cận, tổng hợp có chọn lọc các báo cáo kinh tế - xã hội, số liệu thống kê sản xuất nông nghiệp từ UBND xã La Hiên (năm 2012, 2014), tài liệu tập huấn khuyến nông và các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành thị sát trực tiếp ngoài đồng ruộng, hệ thống mương thủy lợi và đường giao thông liên thôn tại 16 xóm thuộc xã La Hiên để ghi nhận, chụp ảnh, ghi chép hiện trạng sử dụng thuốc, tình trạng vứt bỏ bao bì, mức độ tích tụ vỏ chai lọ tồn lưu trên môi trường đất và nguồn nước mặt.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu điều tra và phát ngẫu nhiên 100 phiếu phỏng vấn tới các nông hộ trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp tại 16 xóm thuộc xã La Hiên (cụ thể: xóm Trúc Mai 6 phiếu, Làng Lai 5 phiếu, La Đồng 6 phiếu, Hiên Bình 6 phiếu, Xuân Hòa 7 phiếu, Hiên Minh 8 phiếu, Phố 8 phiếu, Cây Bòng 7 phiếu, Làng Giai 8 phiếu, Đồng Đình 5 phiếu, Hang Hon 7 phiếu, Khuân Vạc 6 phiếu, Đồng Dong 4 phiếu, Làng Kèn 6 phiếu, Cây Thị 6 phiếu, Khuôn Ngục 5 phiếu). Ngoài ra, tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ khuyến nông phụ trách địa bàn và các chủ hộ kinh doanh thuốc BVTV tư nhân.
- Phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu: Ứng dụng thống kê toán học mô tả để phân tích tần suất, tính toán tỷ lệ phần trăm từ 100 phiếu điều tra, đối chiếu dữ liệu giữa các xóm, ước tính định lượng khối lượng hoạt chất thương phẩm phát sinh trên đồng ruộng.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Nội dung phần mở đầu tập trung thiết lập luận điểm về tính bức thiết của việc kiểm soát ô nhiễm hóa chất nông nghiệp trong bối cảnh thâm canh tăng vụ. Tác giả chỉ ra rằng tại các vùng sản xuất nông nghiệp như xã La Hiên, hóa chất BVTV được dùng như một giải pháp bảo vệ mùa màng hàng đầu nhưng người sử dụng lại thiếu kiến thức chuyên môn, dẫn đến tình trạng dùng quá nồng độ khuyến cáo và xả bỏ bao bì nguy hại trực tiếp ra kênh mương, đe dọa an toàn môi trường nước mặt và sức khỏe cộng đồng. Phần này xác định hệ thống mục tiêu, 4 yêu cầu dữ liệu, đồng thời luận giải ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp cứ liệu thực tế phục vụ công tác bảo vệ môi trường nông thôn miền núi.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến thuốc BVTV.
- Trên thế giới: Điểm lại số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) với khoảng 3 triệu ca nhiễm độc nặng và 220.000 ca tử vong mỗi năm, 25 triệu lao động nông nghiệp bị nhiễm độc HCBVTV hàng năm (thống kê 2006); nghiên cứu của Frank và cộng sự (1982) tại Ontario (Canada) phát hiện Atrazine trong 93% mẫu nước và DDT trong 41% mẫu nước; các mô hình đệm sinh học (Biobed) xử lý nước thải thuốc BVTV do Torsttensson và Castillo đề xuất tại Thụy Điển năm 1993.
- Tại Việt Nam: Khảo sát thực trạng thị trường với danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng lên tới 1.643 hoạt chất năm 2013 (theo PGS. Nguyễn Kim Vân), vượt trội so với các nước trong khu vực (Trung Quốc 630 loại, Thái Lan 400–600 loại); báo cáo của PAN khu vực châu Á (2008) cho thấy 66% hoạt chất dùng ở châu Á thuộc nhóm "rất nguy hiểm"; nhận định của Cục BVTV cho thấy khoảng 80% lượng thuốc tại Việt Nam bị dùng sai cách, không cần thiết; nghiên cứu xử lý nước thải thuốc BVTV bằng bể lọc kỵ khí đệm xơ dừa kết hợp hệ bùn hoạt tính và oxy hóa Fenton của Nguyễn Văn Phước tại TP. Hồ Chí Minh (giảm 94,8% COD qua xử lý sinh học).
- Tổng hợp hệ thống căn cứ pháp lý và phân loại thuốc theo WHO, mức độ phân hủy sinh học, cơ chế tác động độc học lên các cơ quan trong cơ thể con người.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày cụ thể đối tượng khảo sát gồm nông hộ và đại lý kinh doanh tại xã La Hiên, khoảng thời gian thực nghiệm từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2014. Tác giả mô tả chi tiết quy trình 4 phương pháp nghiên cứu: thu thập số liệu thứ cấp, khảo sát thực địa bằng mắt thường và ghi chép nhật ký, điều tra bảng hỏi bán cấu trúc với dung lượng 100 phiếu chia đều theo tỷ trọng dân số của 16 xóm, cùng phương pháp tổng hợp phân tích tỷ lệ phần trăm phục vụ xây dựng báo cáo hiện trạng.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này phản ánh toàn bộ kết quả phân tích số liệu điều tra tại địa bàn xã La Hiên:
- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội: Địa hình xã La Hiên có sự phân hóa mạnh với vùng đồi núi cao 100–450m chiếm 3.223,6 ha (83,3% diện tích tự nhiên) và vùng thung lũng, sườn đồi cao 45–100m chiếm 645,9 ha (16,7%). Dân số có 1.944 hộ với 7.784 nhân khẩu; lực lượng lao động nông nghiệp chiếm 63% (4.601 người). Năng suất lúa vụ xuân 2014 ước đạt 52 tạ/ha trên diện tích gieo cấy 231 ha; ngô đạt 45 tạ/ha trên 227 ha.
- Hiện trạng sử dụng HCBVTV: Thống kê từ 100 hộ cho thấy 53,52% hộ chỉ sử dụng thuốc khi cần thiết, nhưng có đến 46,48% hộ sử dụng một cách thường xuyên. Các xóm có tỷ lệ sử dụng thường xuyên cao nhất gồm La Đồng (55,34%), Hang Hon (54,23%), Làng Giai (53,64%), Đồng Dong (52,25%), Cây Thị (51,33%). Người dân canh tác dựa trên các sản phẩm thông dụng thuộc danh mục phép sử dụng như Fujione 40WP (98% hộ dùng), ODE 702WP (98%), Atonik 1.8DD (97%), Sunrus 100WP (95%), Pyanchor 3EC (95%), Komite 10EC (89%), Daconil 75WP (87%), nhưng vẫn tồn tại việc mua bán và dùng các loại thuốc đã bị cấm như Wofatox, Monitor nhập lậu.
- Định lượng hóa chất tiêu thụ vụ xuân 2014: Tổng diện tích cây trồng sử dụng thuốc là 435 ha trên tổng số 497 ha gieo trồng; tổng lượng HCBVTV đổ xuống đồng ruộng ước đạt 340,5 – 450 kg. Trong đó, diện tích trồng lúa tiêu thụ nhiều nhất với 228 – 278 kg thuốc (tần suất phun 3–4 lần/vụ), tiếp theo là cây ăn quả dùng 48,5 – 67,9 kg (phun 2–3 lần/vụ), cây chè dùng 35,6 – 58,5 kg (phun 2–3 lần/vụ), cây ngô dùng 20,6 – 33,4 kg. Có 9% số hộ được phỏng vấn thừa nhận tự ý tăng nồng độ thuốc vượt hướng dẫn trên bao bì.
- Tuân thủ an toàn lao động và nhận thức: Toàn xã có 63,12% người dân trang bị bảo hộ khi phun xịt thuốc, còn 36,88% hoàn toàn không sử dụng hoặc trang bị không đạt tiêu chuẩn. Một số xóm có tỷ lệ không dùng bảo hộ rất cao như La Đồng (70%), Trúc Mai (65%), Hiên Bình (60%). Về đào tạo, chỉ 22% số hộ từng được tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật hoặc hội thảo của chính quyền và doanh nghiệp.
- Hoạt động kinh doanh: Toàn xã không có đơn vị sản xuất, 100% thuốc được cung ứng qua các đại lý bán lẻ tư nhân phân bố rải rác. Các chủ cửa hàng đều có chứng chỉ tập huấn chuyên môn và đóng vai trò hướng dẫn trực tiếp người mua.
- Thực trạng xả thải bao bì: Khảo sát 100 nông hộ chỉ ra rằng có tới 36% người dân vứt bao bì trực tiếp xuống sông, ao hồ, kênh mương dẫn nước; 34% vứt bỏ ngay tại bờ ruộng hoặc gốc cây nơi pha chế; chỉ có 19% thu gom bỏ vào nơi tập kết rác ven đường và 11% tự chôn lấp hoặc đốt thủ công trong vườn nhà. Tổng hợp lại, có 70% lượng bao bì độc hại bị thải bỏ bừa bãi ra ngoài môi trường tự nhiên, gây nguy cơ ngấm hóa chất vào đất và nguồn nước phục vụ tưới tiêu, sinh hoạt.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã định lượng hóa và hệ thống hóa thực trạng sử dụng nông dược cùng phương thức thải bỏ bao bì tại địa phương thông qua các dữ liệu thực chứng.
| Chỉ số điều tra thực địa |
Giá trị ghi nhận |
Chi tiết phân bố / Tỷ lệ cụ thể |
| Mức độ sử dụng thuốc BVTV của nông hộ |
Thường xuyên: 46,48% Khi cần thiết: 53,52% Không sử dụng: 0,00% |
Cao nhất tại xóm La Đồng (55,34%), thấp nhất tại xóm Phố (32,66%) |
| Tiêu thụ HCBVTV vụ xuân 2014 |
Tổng lượng: 340,5 – 450 kg Diện tích sử dụng: 435 ha |
- Lúa: 228 – 278 kg (230 ha, 100% diện tích) - Cây ăn quả: 48,5 – 67,9 kg (10 ha, 83,3%) - Chè: 35,6 – 58,5 kg (5 ha, 50,0%) - Ngô: 20,6 – 33,4 kg (165 ha, 86,8%) - Đỗ: 4,2 – 6,4 kg (15 ha, 50,0%) - Lạc: 3,6 – 5,8 kg (10 ha, 40,0%) |
| Định mức tiêu thụ tối thiểu theo diện tích canh tác |
Lúa: 0,90 – 1,25 kg/ha/vụ Cây màu: 0,42 – 0,64 kg/ha/vụ Rau: 0,28 – 0,50 kg/ha/vụ |
Tính đổi từ định mức sào Bắc Bộ: lúa dùng 30–40 g/sào, cây màu 15–23 g/sào, rau 10–15 g/sào |
| Chấp hành bảo hộ lao động khi xịt thuốc |
Có bảo hộ: 63,12% Không bảo hộ: 36,88% |
Xóm chấp hành 100%: Hiên Minh, Phố, Làng Giai, Làng Kèn. Xóm không bảo hộ cao: La Đồng (70%), Trúc Mai (65%) |
| Tỷ lệ hộ được tập huấn kỹ thuật dùng thuốc |
22% số hộ điều tra |
78% hộ sử dụng thuốc hoàn toàn theo thói quen hoặc kinh nghiệm truyền miệng |
| Hiện trạng thải bỏ bao bì sau sử dụng |
Xả thải tự nhiên: 70% Thu gom xử lý: 30% |
- Vứt xuống sông, hồ, kênh mương: 36% - Bỏ tại nơi sử dụng (ruộng, bờ mương): 34% - Bỏ vào nơi đổ rác ven đường: 19% - Tự chôn, đốt tại vườn: 11% |
Dựa trên các phát hiện thực tế, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp:
- Về công tác quản lý và hạ tầng: Cần xây dựng các bể bê tông thu gom bao bì thuốc BVTV có nắp đậy đặt tại các trục giao thông nội đồng và đầu bờ kênh mương; ký kết hợp đồng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại định kỳ theo Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT.
- Về kỹ thuật và nâng cao nhận thức: Đẩy mạnh các lớp tập huấn kỹ thuật sử dụng thuốc theo nguyên tắc "4 đúng" (đúng thuốc, đúng liều lượng nồng độ, đúng lúc, đúng cách); nhân rộng các lớp đào tạo Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) để giảm dần lượng hóa chất đưa vào đồng ruộng; hướng dẫn người dân kỹ thuật súc rửa bao bì 3 lần trước khi bỏ vào nơi quy định.
- Về thanh tra, kiểm tra: Tăng cường giám sát hoạt động buôn bán nông dược tại các đại lý tư nhân, kiểm soát chặt chẽ việc lưu hành các hoạt chất cấm (Wofatox, Monitor) và thuốc không rõ nguồn gốc.
Đóng góp của khóa luận: Công trình cung cấp bộ dữ liệu điều tra vi mô chi tiết về tình hình luân chuyển, tiêu thụ và xả thải rác thải độc hại từ hóa chất nông nghiệp tại 16 xóm thuộc xã La Hiên, lấp đầy khoảng trống dữ liệu thực tế tại địa phương (vốn chưa từng có khảo sát diện rộng nào về nông dược được công bố trước đó trên địa bàn xã), đồng thời tạo căn cứ khoa học cho UBND xã và huyện Võ Nhai trong việc xây dựng đề án bảo vệ môi trường nông thôn mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực hiện:
- Dung lượng mẫu khảo sát dừng lại ở mức 100 hộ nông dân, phân bố rải rác trên 16 xóm nên tính đại diện ở quy mô cấp xã vẫn còn hạn chế.
- Thời gian khảo sát tập trung trong 4 tháng cuối năm 2014, chủ yếu phản ánh số liệu vụ xuân và một phần vụ mùa 2014, chưa bao quát được toàn bộ chu kỳ canh tác cả năm.
- Nghiên cứu thiếu các phép đo đạc, kiểm nghiệm hóa lý trong phòng thí nghiệm; các đánh giá ô nhiễm nguồn nước và đất đai hoàn toàn dựa trên quan sát cảm quan, ước tính toán học và số liệu phỏng vấn, chưa phân tích định lượng dư lượng hoạt chất (Clo hữu cơ, Lân hữu cơ) đối chiếu theo QCVN 08:2008/BTNMT hoặc QCVN 54:2013/BTNMT. Tác giả cũng tự nhận xét bản thân còn hạn chế về thời gian và trình độ hiểu biết.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai lấy mẫu nước mặt, mẫu trầm tích kênh mương và mẫu đất tầng mặt tại các khu vực tập trung rác thải bao bì để phân tích định lượng nồng độ dư lượng các hoạt chất BVTV độc hại.
- Mở rộng phạm vi điều tra phỏng vấn theo chu kỳ 4 mùa trên toàn huyện Võ Nhai nhằm đánh giá biến động tiêu thụ hóa chất theo mùa vụ và loại cây trồng.
- Nghiên cứu thử nghiệm mô hình bể ủ, đệm sinh học (Biobed) hoặc quy trình thu gom bao bì nông dược có sự tham gia của cộng đồng tại địa bàn miền núi.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị thực tiễn đối với:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Nông nghiệp: Có thể tham khảo phương pháp thiết kế mẫu phiếu điều tra xã hội học về môi trường nông thôn, phương pháp xử lý dữ liệu khảo sát nông hộ và quy trình chuyển đổi số liệu tiêu thụ nông dược theo đơn vị sào Bắc Bộ sang hecta.
- Cán bộ quản lý môi trường, khuyến nông cấp xã, huyện: Bản báo cáo cung cấp bức tranh chi tiết về 21 tên thương phẩm hóa chất thông dụng đang lưu hành, danh sách các xóm có nguy cơ ô nhiễm cao (La Đồng, Trúc Mai, Hang Hon) và tỷ lệ hành vi xả thải rác nguy hại của nông dân, hỗ trợ công tác quy hoạch điểm đặt bể chứa bao bì nông nghiệp.
- Các nhà nghiên cứu chuyên sâu: Phần tổng quan cung cấp danh mục văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống dữ liệu so sánh về độc tính các nhóm thuốc BVTV tại Việt Nam giai đoạn 2011–2014.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ nông hộ tại xã La Hiên sử dụng hóa chất BVTV thường xuyên và chỉ sử dụng khi cần thiết là bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra 100 hộ tại 16 xóm, có 53,52% số hộ chỉ sử dụng thuốc BVTV khi cần thiết, trong khi 46,48% số hộ sử dụng thuốc một cách thường xuyên. Tỷ lệ không sử dụng thuốc BVTV tại địa phương là 0,00%.
2. Trong vụ xuân 2014, loại cây trồng nào tiêu thụ lượng hóa chất BVTV lớn nhất tại xã La Hiên?
Cây lúa tiêu thụ khối lượng hóa chất BVTV lớn nhất với 228 – 278 kg trên 230 ha gieo trồng (100% diện tích có dùng thuốc, tần suất 3–4 lần/vụ). Cây ăn quả đứng thứ hai với 48,5 – 67,9 kg (10/12 ha, phun 2–3 lần/vụ), tiếp theo là cây chè với 35,6 – 58,5 kg (5/10 ha, phun 2–3 lần/vụ).
3. Tỷ lệ người dân xả thải bao bì hóa chất BVTV trực tiếp ra môi trường tự nhiên (sông suối, ruộng đồng) là bao nhiêu?
Khảo sát chỉ ra có 36% người dân vứt bỏ bao bì ra sông, ao hồ, kênh mương và 34% vứt bỏ ngay tại nơi sử dụng (bờ ruộng, gốc cây), nâng tổng tỷ lệ bao bì bị xả thẳng ra môi trường tự nhiên không qua thu gom lên tới 70%. Tỷ lệ gom vào nơi đổ rác ven đường chiếm 19% và tự chôn, đốt tại vườn chiếm 11%.
4. Mức độ chấp hành trang bị bảo hộ lao động của nông dân xã La Hiên đạt tỷ lệ như thế nào?
Toàn xã có 63,12% người dân mang đồ bảo hộ khi pha chế và phun xịt thuốc, còn 36,88% không sử dụng hoặc sử dụng bảo hộ không đạt tiêu chuẩn. Xóm có tỷ lệ không dùng bảo hộ cao nhất là La Đồng (70%) và Trúc Mai (65%). Bốn xóm có tỷ lệ nông hộ được phỏng vấn chấp hành mang bảo hộ 100% là Hiên Minh, Phố, Làng Giai và Làng Kèn.
5. Ước tính lượng thuốc BVTV thương phẩm đổ xuống 1 ha đất sản xuất lúa mỗi vụ tại xã La Hiên là bao nhiêu?
Theo ước tính của Hội Khuyến nông xã, bình quân 1 ha lúa nông dân dùng 2 chai thuốc thể tích 1.000ml (gồm 1 chai trừ sâu 500ml + 1/2 chai trừ bệnh + 1/2 chai trừ cỏ), tính ra mỗi vụ xuân có khoảng 227 kg thuốc BVTV thương phẩm được đưa vào 230 ha đất sản xuất lúa trên địa bàn xã.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Vương Thị Hồng Nhung đã phản ánh trung thực thực trạng canh tác lạm dụng hóa chất BVTV và nhận thức bảo vệ môi trường hạn chế của nông dân xã La Hiên, huyện Võ Nhai năm 2014. Kết quả nghiên cứu xác nhận có tới 70% lượng vỏ chai, bao bì nông dược nguy hại bị xả thải bừa bãi ra kênh rạch và đồng ruộng, tạo nguy cơ tích tụ độc chất lâu dài trong đất và nguồn nước. Báo cáo đã cung cấp bộ cơ sở dữ liệu định lượng có giá trị thực tiễn, đóng vai trò căn cứ quan trọng để chính quyền địa phương triển khai các mô hình bể thu gom bao bì chuyên dụng và đẩy mạnh đào tạo an toàn hóa chất trong sản xuất nông nghiệp.