Đặt vấn đề Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm của Việt Nam thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng. Do vậy, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) để phòng trừ sâu bệnh hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu. Ngoài mặt tích cực là tiêu diệt các sinh vật gây hại cho mùa màng, hóa chất BVTV còn gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như: phá vỡ cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng và cả cho người sản xuất. Hơn nữa, những người thường sử dụng thuốc BVTV là nông dân nên nhận thức về ảnh hưởng của hóa chất BVTV đến sức khỏe con người, hệ sinh thái, đến môi trường còn nhiều hạn chế.
Do đó người dân thường sử dụng quá liều quy định để đảm bảo hiệu quả diệt trừ sâu hại mà chưa quan tâm đến vấn đề môi trường. Không chỉ có vậy, việc thải bỏ chất thải hóa chất BVTV cũng là điều đáng quan tâm bởi đây cũng là một trong những chất thải nguy hại nhưng thay vì được thu gom, xử lý thích hợp thì chúng được vứt mọi nơi, góp phần làm ô nhiễm môi trường. Việc nuôi gia cầm, gia súc bằng thức ăn có dư lượng thuốc BVTV cao tích luỹ ở mô mỡ, cũng là một con đường có thể tấn công vào môi trường sống. Do điều kiện nghiên cứu độc học và độc học môi trường còn có nhiều hạn chế, nên có nhiều trường hợp ngộ độc hoặc nhiễm độc hoá chất độc, hóa chất BVTV đã không cứu chữa được.
Thực trạng này đã, đang và ngày càng trở thành một vấn đề bức xúc cho các nhà quản lý và các nhà khoa học Việt Nam. 2 Xã La Hiên nằm trong khu vực có đất nông nghiệp nhiều của huyện Võ Nhai, do điều kiện thuận lợi, nguồn nước dồi dào đã tạo điều kiện cho nền nông nghiệp phát triển mạnh. Tuy nhiên, do nhận thức về bảo vệ môi trường của người dân xã La Hiên còn thấp, người dân cũng ít được tuyên truyền về bảo vệ môi trường trong hướng dẫn và sử dụng hóa chất BVTV. Vì vậy, việc sử dụng hóa chất BVTV tràn lan, quá liều đang diễn ra hết sức bình thường tại xã La Hiên.
Người dân thường xuyên sử dụng nước của các kênh, mương rồi thải bỏ trực tiếp vỏ chai, lọ, bao bì thuốc BVTV trên sông làm nguồn nước bị ô nhiễm. Trước tình hình đó, yêu cầu có một khảo sát, nghiên cứu cụ thể về hiện trạng ô nhiễm môi trường do sử dụng hóa chất BVTV, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu các ảnh hưởng này, dưới sự hướng dẫn của cô giáo: và đó là lý do em tiến hành đề tài: ‘‘ Đánh giá hiện trạng và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do bao bì hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn xã La Hiên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài Mục tiêu của đề tài tập trung nghiên cứu tình hình sử dụng hóa chất BVTV và nguy cơ gây ô nhiễm do bao bì hóa chất BVTV trên địa bàn xã La Hiên.
Từ đó đề xuất các giải pháp tổng hợp để quản lý và sử dụng hóa chất BVTV có hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường và con người. - Hiểu được hiện trạng và những thay đổi sau một thời gian dài sử dụng thuốc BVTV của cộng đồng nông thôn xã La Hiên. - Đánh giá sơ bộ tình trạng sức khỏe của người dân khi sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn xã La Hiên. - Đề xuất các giải pháp và kiến nghị giúp người dân sử dụng thuốc BVTV một cách hiệu quả 1.
Yêu cầu của đề tài - Thông tin số liệu thu thập phải trung thực, khách quan, chính xác. 3 - Đánh giá được tình hình sử dụng hóa chất BVTV của nông hộ. - Đánh giá được nguy cơ gây ô nhiễm do bao bì hóa chất BVTV tại xã La Hiên. - Đề xuất giải pháp hạn chế tối đa tác hại của hóa chất BVTV đến môi trường và con người.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Đề tài được thực hiện trên cơ sở các dữ liệu thu thập được từ quá trình thu thập tài liệu, số liệu từ các nguồn có sẵn và khảo sát thực tế, phỏng vấn trực tiếp người phân phối và sử dụng hóa chất BVTV tại xã La Hiên để đánh giá tình hình sử dụng hóa chất BVTV. Các biện pháp quản lý và xử lý chất thải trong phân phối và sử dụng hóa chất BVTV tại La Hiên được đề xuất dựa trên cơ sở các nghiên cứu, các quy định về quản lý và xử lý chất thải từ hóa chất BVTV. Từ đó tổng hợp, lựa chọn và đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện của xã La Hiên.
Ý nghĩa trong thực tiễn Đề tài mang tính thực tiễn cao vì nó đáp ứng yêu cầu cần có một đánh giá về hiện trạng và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ nguồn hóa chất BVTV và đề xuất các các biện pháp quản lý và xử lý chất thải từ quá trình phân phối và sử dụng hóa chất BVTV thích hợp cho La Hiên, góp phần hạn chế ảnh hưởng của hóa chất BVTV đến môi trường. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Khái niệm về HCBVTV Hóa chất dùng trong công tác BVTV đều được mang tên chung là thuốc BVTV hay nông dược.
Theo Điều lệ quản lý thuốc BVTV (Ban hành kèm theo Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ) thuốc BVTV là chế phẩm có nguồn gốc từ hóa chất, thực vật, động vật, vi sinh vật và các chế phẩm khác dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật. Ts Trần Văn Hai: Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật. Những sinh vật gây hại chính gồm sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác nhân khác. [12] Thuốc BVTV là yếu tố bảo vệ cây trồng hay những sản phẩm bảo vệ mùa màng (chủ yếu là hóa chất) là những chất được tạo ra để chống lại hoặc tiêu diệt loài gay hại hay các vật mang mầm bệh vi khuẩn hay virut.
Chúng cũng gồm các chất để đấu tranh với các loài sống cạnh tranh với cây trồng. [3] Thuốc BVTV là những chất độc có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hại của những sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại, …) [2] Chủng loại hóa chất BVTV đang sử dụng ở Việt Nam rất đa dạng. Hiện nay, nhiều nhất vẫn là hợp chất lân hữu cơ, Chlor hữu cơ, nhóm độc từ Ia, Ib, đến II và III, sau đó là các nhóm carbamat và pyrethroid. [1] Theo thông tư 36/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng có 1.201 hoạt chất với 3.107 tên thương phẩm, danh mục thuốc BVTV hạn chế 5 sử dụng có 16 hoạt chất với 29 tên thương phẩm, danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng có 29 hoạt chất khác nhau.
Phân loại HCBVTV 2. Phân loại theo công dụng Theo tài liệu của Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ta có thể phân loại hóa chất BVTV thành 4 loại chính dựa vào công dụng như sau: Bảng 2. Phân loại hóa chất BVTV theo công dụng STT Công dụng Thành phần chính - Hợp chất hữu cơ clo (hydrocloruacacbon) Thuốc trừ sâu - Hợp chất hữu cơ phospho (este axit phosphoric) 1 bệnh - Hợp chất carbamic - Hợp chất sinh học - Hợp chất chứa phenol Thuốc diệt cỏ - Hợp chất của axit propyonic 2 và kích thích - Dẫn xuất của cacbamat sinh trưởng - Triazin - Hợp chất chứa đồng - Hợp chất chứa lưu huỳnh 3 Thuốc diệt nấm - Hợp chất chứa thủy ngân - Một số loại khác Thuốc diệt côn - Photphua kẽm 4 trùng - Warfarin (Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs [3]) 2. Phân loại theo nguồn gốc sản xuất và cấu trúc hóa học Hóa chất BVTV có nguồn gốc hữu cơ - Nhóm các chất trừ sâu có chứa Clo: DDT, Clodan 6 - Nhóm các chất trừ sâu có chứa phốt pho: Wophatox, Diazinon, Malathion, Monitor.
- Nhóm các hợp chất cacbamat: Sevin, Furadan, Mipcin, Bassa - Các chất trừ sâu thuỷ ngân hữu cơ - Các dẫn xuất của hợp chất nitơ - Các dẫn xuất của urê - Các dẫn xuất của axít propionic - Các dẫn xuất của axít xyanhydric Hóa chất BVTV có nguồn gốc vô cơ - Các hợp chất chứa đồng - Các hợp chất chứa lưu huỳnh - Các hợp chất chứa thuỷ ngân - Một số loại khác - Các chất trừ sâu có nguồn gốc thực vật là ancaloid, thực vật có chứa nicotin, anabazin, pyrethroid. Phân loại nhóm độc theo tổ chức Y tế Thế giới Các chuyên gia về độc học đã nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc lên cơ thể động vật ở cạn (chuột nhà) và đã đưa ra 5 nhóm độc theo tác động của độc tố tới cơ thể qua miệng và da như sau. Phân loại nhóm độc theo mức độ độc (LD50 mg/kg chuột nhà) Qua miệng Qua da Mức độ độc Thể rắn Thể lỏng Thể rắn Thể lỏng I. Độc trung bình 50- 500 200- 2000 100- 1000 400- 4000 III.
Độc rất nhẹ >2000 >3000 (Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs [3]) 7 Ghi chú: LD50 là ký hiệu chỉ độ độc cấp tính của thuốc qua đường miệng hoặc qua da. Trị số của nó là liều gây chết trung bình được tính bằng miligam (mg) hoạt chất có thể gây chết 50% số động vật thí nghiệm (tính bằng kg) khi tổng lượng thể trọng của số động vật trên bị cho uống hết hoặc bị phết vào da. Giá trị LD50 càng nhỏ thì hoá chất đó càng độc. Có thể nhận biết tính độc của hóa chất bảo vệ thực vật theo dấu hiệu màu trên bao bì thuốc như sau: - Vạch màu đỏ trên bao bì là thuốc độc nhóm I, thuộc loại rất độc và độc.
- Vạch màu vàng trên bao bì là thuốc độc nhóm II, thuộc loại độc trung bình. - Vạch màu xanh da trời trên bao bì là thuốc độc nhóm III, thuộc loại ít độc.