Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu đang là một trong những thách thức toàn cầu cấp bách nhất, đe dọa trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội và tính mạng con người. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Khí hậu Paris (COP 21), Việt Nam đã cam kết cắt giảm 8% lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2030 bằng nguồn lực trong nước và có thể nâng lên 25% khi nhận được hỗ trợ quốc tế, đồng thời đóng góp 1 triệu USD vào Quỹ Khí hậu xanh giai đoạn 2016 - 2020. Là một tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ với 137 km bờ biển và địa hình đồi núi chiếm 80% diện tích, Hà Tĩnh chịu tổn thương nặng nề trước các hình thái thời tiết cực đoan. Số liệu thống kê từ Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão tỉnh cho thấy trong giai đoạn 2006 - 2013, thiên tai đã làm 148 người chết, 416 người bị thương và làm hư hỏng trên 336.000 ngôi nhà. Riêng tại huyện Lộc Hà, mực nước biển dâng triều cường đã cao hơn từ 10 - 20 cm so với giai đoạn trước, nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng tới 10 km và 100% giếng khơi mới đào tại xã Hộ Độ đều bị nhiễm mặn.

Trong bối cảnh đó, việc đánh giá nhận thức của thế hệ trẻ đóng vai trò quyết định nhằm hiện thực hóa Điều 6 của Công ước khung Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) về giáo dục và đào tạo công chúng. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 05/2016 đến tháng 07/2017 tại trường Trung học phổ thông Mai Thúc Loan, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là khảo sát thực trạng nhận thức về bản chất, biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả và biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu của học sinh trung học phổ thông; đồng thời phân tích các yếu tố nhân khẩu học chi phối quá trình hình thành nhận thức. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp dữ liệu định lượng chuẩn xác giúp nhà trường và các cấp quản lý nâng cao tỷ lệ học sinh có nhận thức đúng từ mức 54,6% hiện tại lên trên 85% trong các năm học tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Thang cấp độ tư duy của Benjamin Samuel Bloom (1956) gồm 6 bậc: Nhận biết, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Tổng hợp và Đánh giá, kết hợp cùng Thang Bloom tu chính của Lorin Anderson với 6 mức độ: Nhớ, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Đánh giá và Sáng tạo. Trong phạm vi đề tài, nhận thức của học sinh được đo lường thông qua khả năng ghi nhớ thông tin khoa học và thấu hiểu bản chất các hiện tượng môi trường.

Về mặt khái niệm, đề tài bám sát định nghĩa của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) và Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu: biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động duy trì qua nhiều thập kỷ do tự nhiên hoặc hoạt động của con người. Bên cạnh đó, các khái niệm xã hội học về nhận thức, đánh giá giáo dục theo quan điểm của Ralph Tyler (1949) và Beeby (1997), cùng khái niệm học sinh trung học phổ thông trong độ tuổi 16 đến 18 theo Luật Trẻ em 2016 được tích hợp chặt chẽ. Mô hình nghiên cứu thiết lập giả thuyết về sự tác động của 4 biến độc lập gồm: khối lớp (lớp 10, 11, 12), giới tính (nam, nữ), học lực năm học trước (giỏi, khá, trung bình) và nghề nghiệp của cha mẹ (nông nghiệp, công nhân viên chức, kinh doanh) đến biến phụ thuộc là mức độ nhận thức biến đổi khí hậu của học sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo khí tượng thủy văn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2006 - 2016, kết hợp nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập từ cuộc khảo sát xã hội học thực hiện từ tháng 09/2016 đến tháng 10/2016. Quy mô mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức xác suất của Cochran với độ tin cậy 95% (Z = 1,96) và sai số cho phép e = 0,05, cho ra quy mô mẫu ban đầu là 385. Khi hiệu chỉnh theo tổng thể N = 1.395 học sinh toàn trường, cỡ mẫu tối thiểu cần thiết là 301 mẫu. Tác giả đã bổ sung thêm 20% dự phòng để phát ra 361 phiếu và sau quá trình làm sạch thu về 350 phiếu điều tra hợp lệ. Cơ cấu mẫu phân bổ đồng đều: lớp 10 có 117 em (33,4%), lớp 11 có 117 em (33,4%), lớp 12 có 116 em (33,2%); gồm 172 nam (49,1%) và 178 nữ (50,9%). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp rút thăm cụm theo từng lớp học nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất và hạn chế tối đa sai số lựa chọn.

Nghiên cứu cũng tiến hành phỏng vấn sâu 05 học sinh tiêu biểu khối 12 bằng bảng hỏi bán cấu trúc. Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 và Microsoft Excel 2010. Phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) và mô hình hồi quy tuyến tính đa biến được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác mối tương quan, giải thích rõ mức độ tác động độc lập của từng yếu tố nhân khẩu học tới điểm số nhận thức, giúp kết luận đạt độ tin cậy khoa học vững chắc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra 350 học sinh cho thấy 54,6% học sinh có nhận thức đúng đắn về bản chất của biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái khí hậu so với trung bình và dao động duy trì qua nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, vẫn còn 36,9% học sinh chỉ nhận thức được một phần khái niệm, 1,9% hiểu hạn hẹp và 6,6% hoàn toàn không biết. Tỷ lệ nhận thức đúng về bản chất tăng dần theo khối lớp: học sinh lớp 10 đạt 52,1%, lớp 11 đạt 54,7% và lớp 12 đạt 56,9%.

Về biểu hiện của biến đổi khí hậu, học sinh nhận diện rất tốt các hiện tượng quen thuộc: 81,7% lựa chọn hiện tượng băng tan ở hai cực, 79,1% chọn mực nước biển dâng cao, 78,0% nhận diện sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan và 54,0% chọn biến động lượng mưa. Đáng chú ý, học sinh khối 12 thể hiện sự vượt trội khi có tới 87,1% nhận thức đúng về mực nước biển dâng và 82,8% nhận thức đúng về thời tiết cực đoan. Dẫu vậy, tình trạng nhầm lẫn giữa tai biến địa chất và biểu hiện khí hậu vẫn còn phổ biến: 60,9% học sinh coi sóng thần là biểu hiện của biến đổi khí hậu, 38,9% chọn động đất và 54,6% nhầm lẫn việc gia tăng nồng độ khí nhà kính (vốn là nguyên nhân) là biểu hiện.

Xét theo học lực, nhóm học sinh Giỏi có tỷ lệ trả lời đúng bản chất đạt 57,1%, cao hơn nhóm học sinh Trung bình (55,3%) và nhóm Khá (53,4%). Khi phân loại theo nghề nghiệp phụ huynh, học sinh có cha mẹ làm ruộng đạt tỷ lệ nhận thức đúng bản chất cao nhất với 58,2%, vượt trội hơn nhóm học sinh có cha mẹ làm nghề kinh doanh (52,3%) và công nhân viên chức (51,5%).

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt về nhận thức giữa các khối lớp phản ánh rõ nét hiệu quả của quá trình tích lũy tri thức. Học sinh lớp 12 có nhận thức hoàn thiện hơn nhờ được tiếp cận các bài học tích hợp sâu trong môn Địa lý và Sinh học theo hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh. Việc học sinh xuất thân từ gia đình làm nông nghiệp đạt tỷ lệ nhận thức cao (58,2%) bắt nguồn từ trải nghiệm thực tế, khi sinh kế gia đình các em trực tiếp chịu tổn thương bởi hạn hán, rét đậm rét hại và hiện tượng xâm nhập mặn 10 km tại địa phương. Qua phỏng vấn sâu, một học sinh lớp 12A2 chia sẻ: "Biến đổi khí hậu là sự thay đổi thất thường của khí hậu", cho thấy nhận thức cảm tính rất nhanh nhạy từ đời sống thực tế nhưng còn thiếu chiều sâu học thuật chuẩn xác.

Khi so sánh với các công trình quốc tế, tỷ lệ 54,6% nhận thức đúng tại trường Mai Thúc Loan tương đương với kết quả nghiên cứu của Harshal Pandve tại Ấn Độ (nơi thanh thiếu niên nhận diện vấn đề chung tốt nhưng chỉ 45,3% biết đến UNFCCC), đồng thời cao hơn mức dưới 50% trong nghiên cứu của Pitpitunge tại Philippines. Toàn bộ các phát hiện này được trực quan hóa mạch lạc thông qua biểu đồ cột thể hiện mức độ nhận diện biểu hiện biến đổi khí hậu và bảng phân tích chéo đa biến giữa học lực, nghề nghiệp gia đình với thang điểm nhận thức. Điều này khẳng định công tác truyền thông học đường hiện nay mới chủ yếu dựa vào truyền hình và mạng Internet, trong khi các chuyên đề trải nghiệm chuyên sâu vẫn chưa được tổ chức định kỳ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực nghiệm, bốn nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm nâng cao nhận thức và năng lực ứng phó biến đổi khí hậu cho học sinh:

Thứ nhất, tích hợp và chuẩn hóa nội dung giảng dạy biến đổi khí hậu vào chương trình chính khóa. Ban Giám hiệu trường THPT Mai Thúc Loan phối hợp cùng tổ bộ môn Địa lý, Sinh học, Vật lý và Hóa học xây dựng giáo án điện tử tích hợp liên môn. Mục tiêu cụ thể là đạt 100% học sinh các khối 10, 11, 12 được học tập các chuyên đề khí hậu chuẩn hóa, nâng tỷ lệ học sinh phân biệt chính xác bản chất và nguyên nhân biến đổi khí hậu từ 54,6% lên trên 85% trước năm 2020.

Thứ hai, thiết lập chuỗi hoạt động ngoại khóa và diễn tập trải nghiệm thực tế. Đoàn Thanh niên trường chủ trì phối hợp với Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai huyện Lộc Hà tổ chức câu lạc bộ xanh, hội thi sáng kiến giảm thiểu rác thải nhựa và các buổi diễn tập kỹ năng phòng chống lũ quét, bão biển. Chỉ tiêu đặt ra là thu hút trên 80% học sinh (tương đương 1.100 em) tham gia định kỳ tối thiểu 2 lần trong mỗi năm học, áp dụng ngay từ năm học 2017 - 2018.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số trong truyền thông học đường. Đội ngũ quản trị website và Đoàn trường chủ động phát triển bản tin truyền thông số, infographic và video ngắn trên cổng thông tin nhà trường. Giải pháp này hướng tới mục tiêu tăng mức độ tiếp cận thông tin chính thống của học sinh từ 25% lên 75% trong vòng 12 tháng.

Thứ tư, bồi dưỡng chuyên môn liên ngành cho đội ngũ cán bộ, giáo viên. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với các viện nghiên cứu mở 02 đợt tập huấn phương pháp giáo dục biến đổi khí hậu hàng năm. Mục tiêu là 100% giáo viên phụ trách các môn khoa học tự nhiên và xã hội hoàn thành chương trình bồi dưỡng trước năm 2019.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Ban Giám hiệu và Giáo viên các trường Trung học phổ thông: Cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học để đổi mới phương pháp giảng dạy tích hợp, thiết kế các chương trình ngoại khóa giáo dục môi trường phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi 16 đến 18.
  2. Học viên cao học và Nhà nghiên cứu chuyên ngành Biến đổi khí hậu, Xã hội học: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu liên ngành, quy trình chọn mẫu phân tầng kết hợp rút thăm cụm (350 mẫu) và kỹ thuật ứng dụng mô hình hồi quy đa biến trên SPSS để lượng hóa nhận thức cộng đồng.
  3. Cán bộ quản lý giáo dục tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Tĩnh: Sử dụng các số liệu đánh giá thực trạng (54,6% hiểu đúng bản chất, tỷ lệ nhầm lẫn sóng thần 60,9%) làm căn cứ thực tiễn để hoạch định chính sách giáo dục môi trường cấp tỉnh và triển khai hiệu quả Điều 6 Công ước khung UNFCCC.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và Cơ quan phòng chống thiên tai (ActionAid, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc UNICEF): Khai thác bức tranh toàn diện về tác động của biến đổi khí hậu tại vùng ven biển Lộc Hà (nhiễm mặn 10 km, triều cường dâng 10 - 20 cm) nhằm xây dựng các dự án tài trợ nâng cao năng lực ứng phó rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng trường học.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tỷ lệ học sinh trường THPT Mai Thúc Loan có nhận thức đúng đắn về bản chất biến đổi khí hậu là bao nhiêu? Khảo sát trên 350 học sinh cho thấy có 54,6% học sinh hiểu đúng bản chất biến đổi khí hậu là dao động hoặc biến đổi trạng thái khí hậu kéo dài nhiều thập kỷ. Tỷ lệ này có sự gia tăng rõ rệt theo khối lớp: lớp 10 đạt 52,1%, lớp 11 đạt 54,7% và lớp 12 đạt mức cao nhất là 56,9%.

  2. Khối lớp nào thể hiện mức độ nhận thức chính xác nhất về các biểu hiện của biến đổi khí hậu? Học sinh khối 12 có nhận thức chuẩn xác nhất về các biểu hiện khí hậu. Điển hình là 87,1% học sinh lớp 12 nhận biết đúng sự dâng cao mực nước biển và 82,8% nhận diện đúng sự gia tăng thời tiết cực đoan, cao hơn đáng kể so với mức 73,5% và 75,2% của học sinh khối 10.

  3. Những hiện tượng nào học sinh hay nhầm lẫn với biểu hiện của biến đổi khí hậu nhất? Học sinh thường nhầm lẫn các tai biến địa chất với biểu hiện khí hậu: 60,9% học sinh chọn sóng thần và 38,9% chọn động đất là biểu hiện biến đổi khí hậu. Ngoài ra, có 54,6% học sinh nhầm lẫn sự gia tăng nồng độ khí nhà kính (vốn là nguyên nhân) thành biểu hiện.

  4. Nghề nghiệp của cha mẹ ảnh hưởng như thế nào đến nhận thức khí hậu của học sinh? Học sinh có cha mẹ làm nông nghiệp đạt tỷ lệ nhận thức đúng bản chất biến đổi khí hậu cao nhất với 58,2%, trong khi nhóm con em công chức đạt 51,5% và nhóm kinh doanh đạt 52,3%. Điều này bắt nguồn từ việc con em nông dân trực tiếp quan sát những tổn thương mùa màng do thời tiết cực đoan gây ra.

  5. Quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu này được triển khai như thế nào? Từ tổng thể 1.395 học sinh, tác giả áp dụng công thức Cochran tính cỡ mẫu tối thiểu 301, sau đó mở rộng 20% và thu về 350 mẫu hợp lệ. Phương pháp chọn mẫu là ngẫu nhiên phân tầng kết hợp rút thăm cụm lớp học, đảm bảo cân đối giữa 3 khối lớp và tỷ lệ giới tính (49,1% nam, 50,9% nữ).

Kết luận

  • Luận văn khẳng định 54,6% học sinh trường THPT Mai Thúc Loan nhận thức đúng bản chất biến đổi khí hậu, nhưng vẫn còn 60,9% nhầm lẫn sóng thần và 38,9% nhầm lẫn động đất là biểu hiện của biến đổi khí hậu.
  • Nghiên cứu chỉ ra sự phân hóa nhận thức rõ rệt: học sinh lớp 12 (56,9%) và nhóm học sinh Giỏi (57,1%) có mức độ nhận thức khoa học chuẩn xác vượt trội so với các nhóm còn lại.
  • Bối cảnh sinh kế gia đình làm nông nghiệp (58,2% hiểu đúng) thúc đẩy học sinh hình thành nhận thức trực quan sâu sắc trước các rủi ro thiên tai và hiện tượng nhiễm mặn ven biển.
  • Đề tài ứng dụng thành công thang đo tư duy Bloom tu chính và công cụ hồi quy đa biến SPSS 20.0 để đánh giá toàn diện nhận thức học sinh trung học phổ thông.
  • Luận văn đã đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ tích hợp chương trình, trải nghiệm ngoại khóa, truyền thông số đến đào tạo giáo viên nhằm nâng tỷ lệ nhận thức đúng lên trên 85% trước năm 2020.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp bộ dữ liệu thực chứng liên ngành đầu tiên về nhận thức biến đổi khí hậu của học sinh tại vùng ven biển Hà Tĩnh. Kế hoạch tiếp theo là chuyển giao bộ công cụ khảo sát cho nhà trường trong quý 4 năm 2017 và tổ chức đo lường đánh giá lặp lại vào năm 2019. Các cơ sở giáo dục và nhà quản lý hãy chủ động ứng dụng mô hình đánh giá này để xây dựng thế hệ trẻ chủ động, vững vàng thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu.