CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NHẬN THỨC VÀ THỰC HIỆN CAC QUY ĐỊNH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về nhận thức môi trường của doanh nghiệp 1. Khái niệm về nhận thức Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam” do Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (2005) định nghĩa nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thẻ. Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, dựa trên cơ sở thực tiễn.
Theo đó, có thể định nghĩa nhận thức như sau: “Nhận thức là một quá trình qua đó cá nhân tiếp thu kiến thức, những am hiểu thông qua kinh nghiệm tích lũy, suy nghĩ, giác quan, sắp xếp và lí giải những ấn tượng cảm giác của mình để đưa ray nghĩa cho một tinh hung thực tế cụ thể, bao gốm các qui trình nhu là sự hiểu biết, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, sự ước lượng, sự lí luận, sự tính toán, giải quyết van dé, việc đưa ra quyết định, hiểu và sử dụng ngôn ngữ. Quá trình nhận thức sử dụng tri thức có sẵn và tạo ra tri thức mới. ” Có nhiều nghiên cứu về nhận thức đã chỉ ra rằng các cá nhân khác nhau có thể nhìn nhận và hiểu một vấn đề theo những cách khác nhau. Trên thực tẾ, không ai có thể nhìn thấy được hiện thực.
Chúng ta gọi hiện thực bằng cách giải thích những gì chúng ta thấy xung quanh. Quy trình nhận thức Quá trình của nhận thức diễn ra theo trình tự từ những gì chưa biết đến đã biết, từ biết ít đến biết nhiều hơn, từ chưa toàn diện đến sâu sắc toàn diện hơn.TS Phạm Văn Đức (2019) đã chia nhận thức thành các quá trình cơ bản sau: Giai đoạn 1: Nhận thức cam tính Nhận thức cảm tính là bước đầu tiên trong quá trình nhận thức, mà qua đó con người có thé sử dụng các tri giác của mình dé tác động lên đối tượng nhằm nắm bắt chúng. Nhận thức cảm tính gồm các hình thức sau: Cam giác: là nguồn gốc, sự bắt đầu của mọi sự hiểu biết, kết quả của quá trình chuyền từ những tác động, kích thích bên ngoài thành ý thức; và là hình thức phản ánh những đặc trưng của đối tượng khi chúng tác động trực tiếp vào tri giác của con người. Tri giác: là tong hợp các cảm giác.
Tri giác phong phú và day đủ hơn cảm giác. Tuy nhiên, nhận thức cần phải phân biệt được những thuộc tính cụ thể và không Sv: Trịnh Lê Thu Thủy Pagel6 Msv: 11184896 Chuyên đề tot nghiệp GVHD: TS. Ngô Thanh Mai cụ thê, phân biệt được đối tượng ngay cả những lúc chúng không tác động trực tiếp lên cơ quan giác quan của con người. Vì vậy, nhận thức phải nâng lên thành một dạng nhận thức cao hơn.
Biểu tượng: phan ánh déi tượng tương đối hoàn chỉnh dựa vào trí tưởng tượng va trí nhớ của chúng ta, kể cả sự vật không còn tác động trực tiếp vào giác quan. Các yếu tố trong hình thức biểu tượng được tạo ra nhờ sự liên kết của các giác quan và việc phân tích và tổng hợp cũng diễn ra cùng lúc. Băng cách này, biểu tượng phản ánh được những đặc trưng nồi bật của các sự vật. Việc chưa khẳng định được những mối liên hệ bản chat, tat yếu của đối tượng chính là hạn chế của nhận thức cảm tính.
Khắc phục hạn chế đó, nhận thức phải vươn lên giai đoạn cao hơn, là giai đoạn 2 dưới đây. Giai đoạn 2: Nhận thức lý tính Nhận thức lý tính phản ánh bản chất bên trong đối tượng là quá trình phản ánh khái quát sự vật, được thể hiện dưới những dạng sau đây: Khái niệm: phản ánh những đặc trưng bản chất bên trong của sự vật. Khi khái quát các đặc trưng của sự vật hay lớp sự vật chính là sự hình thành của khái niệm. Khái niệm là cơ sở hình thành của các phán đoán và tư duy một cách khoa học.
Do đó, chúng rất quan trọng đối với nhận thức. Phán đoán: dé đưa ra một nhận định về đặc điểm, thuộc tính của đối tượng, phán đoán cần kết hợp với khái niệm. Có thé chia phán đoán làm ba loại là phán đoán đơn nhất, phán đoán đặc thù, và phán đoán phổ biến. Hình thức thê hiện sự bao quát rộng lớn nhất về đối tượng là phán đoán phô biến.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở phán đoán thì nhận thức vẫn chưa thể đi sâu phân biệt các đối tượng. Bởi vậy, nhận thức lý tính phải nâng lên hình thức suy luận. Suy luận: kết nỗi các phán đoán lại với nhau dé đưa ra một phán đoán mang tính kết luận nhằm đưa ra một kiến thức mới. Người ta có thé đưa ra suy luận quy nạp hay diễn dịch tùy theo sự kết hợp phán đoán.
Ngoài suy luận, trực giác lý tính cũng có khả năng phát hiện ra những tri thức mới một cách nhanh chóng và đúng đăn.1: Quy trình nhận thức Sv: Trịnh Lê Thu Thủy Page l7 Msv: 11184896 Chuyên dé tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thanh Mai Khái niệm vật: Cảm nhân có vật: Suy luận; -Sau khi cảm nhận Phan đoán: ~ Thị giác: mắt thay vật - Sau khi phản đoán Trực quan được vật khi tiep xúc - Sau khi phan đoán ~ XC gid £ trạm vật bộ não tien hành vật, cơ thẻ tien hành được vật, bộ nao liền sinh động - Khứu giác: múi ngửi suy luận về sự vật: phân biết so sánh với hành phan đoán diy (hiện thực mũi; kết quả suy luận là tri nhớ để xác định la tốt hay xấu, ngon cuộc song) - Thinh giác: tai nghe tử một số trị thức đã day là cải gi? và xác hay dé, cơ hội hay âm thanh; có mit ra trí thức định trong quá khử thách thức,. ~ Vị giác: lưởi nem vật mới, no có hay chưa? =F“ a” ai Qua trình nhận thức lý tinh Qua trình nhận thức cảm tỉnh (Nguồn: Quantri24h Công ty CP Tư vấn Chứng nhận lcert năm 2021) 1. Các nhân té ảnh hướng đến nhận thức của doanh nghiệp Nhận thức của doanh nghiệp chịu sự tác động của rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng khác nhau.
Có thé chia các yếu tố thành 2 nhóm: Yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan e Yếu tô khách quan: là các yếu tô ảnh hưởng bên ngoài doanh nghiệp, là môi trường bên ngoài mà doanh nghiệp không kiểm soát được nhưng chúng lại có ảnh hưởng đến nhận thức của chính doanh nghiệp đó. Các nhân tố này bao gồm: Môi trường chính trị và luật pháp: Môi trường chính trị và luật pháp bao gồm thê chế chính trị, hệ thống các văn bản pháp luật, chính sách, bộ luật và các quy định, hướng dẫn thi hành của từng quốc gia. Doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh từ bất kỳ ngành nghề nào cũng cần tập trung nghiên cứu kỹ hệ thống luật pháp, chính sách của nước minh dé xây dựng phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh cho phù hợp. Những thay đổi của môi trường chính trị có thé tác động tích cực đến một nhóm doanh nghiệp này, nhưng có thể cản trở sự phát trién của nhóm doanh nghiệp khác và ngược lại.
Có thê nói, môi trường chính trị và luật pháp tác động rất lớn đến việc nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, góp phần điều chỉnh tác động của doanh nghiệp đến môi trường xung quanh. Yếu to khách hàng: Khách hang là người mua hàng hoặc có kế hoạch của các doanh nghiệp. Đối với bat kỳ công ty nào, khách hàng luôn là nhân tô quan trọng hàng đầu quyết định sự sống còn của công ty. Tính chất quyết định của khách hàng thé hiện trên các khía cạnh sau.
Khách hàng quyết định cách thức công ty bán sản phẩm của họ. Cách thức bán và cách thức phục vụ khách hàng là do khách hàng lựa chọn, vì trong nền kinh tế thị trường phát triển, người mua có quyền lựa chọn người bán theo ý mình và đồng thời quyết định phương thức phục vụ của người Sv: Trịnh Lê Thu Thủy Page 18 Msv: 11184896 Chuyên đề tot nghiệp GVHD: TS. Ngô Thanh Mai bán. Chính vì vậy, khi nhu cầu của khách hàng thay đổi thi thị trường tiềm năng của doanh nghiệp cũng thay đổi dẫn đến sự thay đổi về nhận thức của doanh nghiệp.
Yếu tổ về các đối thủ cạnh tranh: Tương tự như yếu tô khách hàng, đối thủ cạnh tranh có thể ảnh hưởng đến nhận thức của công ty. Khi sự cạnh tranh trở nên gay gắt, các công ty phải vật lộn dé nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đối thủ cạnh tranh là động lực thúc day sự phát triển của DN, có tác động đáng kê đến việc thay đổi cách nhìn nhận của doanh nghiệp. Ví dụ, với ngành chế biến và kinh doanh thực phẩm, khi khách hàng đã ưu tiên chọn những sản phẩm sạch và đảm bao chất lượng hơn thì các doanh nghiệp cũng cần phải có sự thay đổi theo xu hướng người tiêu dùng.
Một doanh nghiệp thay đối sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp khác thay đôi, do đó yếu tố về đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng đến nhận thức của DN. e Yếu tổ chủ quan: là các yêu tố ảnh hưởng bên trong của DN, tác động trực tiếp đến nhận thức của DN. Các yếu tố đó bao gồm: Mục tiêu của doanh nghiệp: Thông thường, mục tiêu chính của tất cả các doanh nghiệp chính là tối đa hóa lợi nhuận mà bỏ qua những trách nhiệm khác (ví dụ như chấp hành đầy đủ các quy định hiện hành về các vấn đề lao động như bảo hiểm; chế độ khen thưởng và phúc lợi; an toàn và vệ sinh. Tăng trưởng kinh tế không nhất thiết phải gây ton hại đến phát triển xã hội hay môi trường.
Ngược lại, nó thúc đây, đóng góp vào lợi nhuận. Chính vì vậy nếu một DN muốn phát triển một cách bền vững thì cần phải nâng cao nhận thức, có trách nhiệm với môi trường và cộng đồng. Yếu to người lao động: Người lao động là cá nhân tham gia trực tiếp vào quá trình lao động, vì vậy nhận thức của doanh nghiệp gắn liền với nhận thức của người lao động.