mở đầu xu hướng chuyền đổi xanh nền kinh tế Việt. Một số doanh nghiệp gỗ lớn cũng đã bắt đầu nghiên cứu đăng ký công bố EPD, chứng minh sự quan tâm đến ứng dụng EPD trong ngành gỗ Việt Nam. Việc áp dụng EPD ngày càng phổ biến sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của ngành gỗ Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước (Khánh Quỳnh, 2023). Tống quan đánh giá vòng đời sản phẩm và dấu vết cacbon của sản phẩm 2.
Đánh giá vòng đời sản phẩm 2. Khái niệm đánh giá vòng đời sản phẩm Đánh giá vòng đời theo thuật ngữ tiếng anh Life Cycle Assessment (LCA) là phương pháp đo lường những tác động tiềm ân đối với môi trường và sức khoẻ con người liên quan đến chu kỳ vòng đời của một sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ. Quá trình đánh giá vòng đời phải tuân theo tiêu chuẩn ISO 14040 và 14044. seas tai ché © Khai thac Vòng đời sản phẩm Sản xuất | © Vận chuyễn/ phân phối Hình 2.
1: Vòng đời sản phẩm (Vguồn: Kumar va ctv, 2022) Chu kỳ vòng đời sản phẩm bao gồm các giai đoạn: Khai thác nguyên vật liệu, giai đoạn sản xuất, vận chuyên phân phối sản phẩm, giai đoạn sử dụng và kết thúc vòng đời bằng việc tái chế, tái sử dụng hoặc thải bỏ bằng cách chôn lấp, đốt chất thải. Đánh giá vòng đời giúp đo lường và quản lý các ảnh hưởng của vòng đời sản phẩm đến nhiều nhóm tác động khác nhau. Kết quả LCA cung cấp thông tin về: Tác động về biến đổi khí hậu bao gồm tiềm năng ấm lên toàn cầu (GWP), sự suy giảm tần ozone (ODP),.; tác động ảnh hưởng đến hệ sinh thái, sức khoẻ con người; và các tác động về sử dụng nguồn tài nguyên như sử dụng đất, tiêu thụ năng lượng. Việc lựa chọn nhóm tác động dé đánh giá phụ thuộc vào mục đích của LCA va các yếu tô khác như loại sản phẩm hoặc dịch vụ, khu vực dia ly va dữ liệu sẵn có.
Ngày càng nhiều doanh nghiệp và tổ chức nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển bền vững, và LCA là một trong những biện pháp cung cấp hiệu quả số liệu để đánh giá tác động môi trường và xã hội của sản phẩm. Việc áp dụng LCA được thực hiện ở mọi lĩnh vực từ công nghiệp sản xuat, xây dựng, năng lượng đến các ngành nghề thuộc lĩnh vực thực phẩm, dich vụ. Kết quả LCA giúp doanh nghiệp và tổ chức nhìn thấy được cơ hội cải thiện, giảm phát thải trong dây chuyền sản xuất, cung ứng sản phẩm. Bên cạnh đó, việc công bố kết quả LCA giúp doanh nghiệp gây dựng niềm tin với khách hàng vì càng nhiều người tiêu dùng quan tâm đến sản phẩm phát thải thấp, bảo vệ môi trường.
Quy trình thực hiện đánh gia LCA Theo tiêu chuẩn ISO 14040 va 14044, quy trình đánh giá LCA gồm 4 bước: Bước |: Xác định mục tiêu và phạm vi của LCA. Phạm vi của một LCA, bao gồm cả ranh giới hệ thống và mức độ chi tiết của bài đánh giá, là tuỳ thuộc vào đối tượng và mục đích nghiên cứu. Bước 2: Phân tích hệ thống trích xuất và khí thải. Day là giai đoạn kiểm kê dữ liệu đầu vào/đầu ra của hệ thống đang nghiên cứu, giai đoạn này liên quan đến việc thu thập dữ liệu cần thiết nhằm thoả mãn các mục tiêu nghiên cứu đã đưa ra ở Bước 1.
Bước 3: Đánh giá tác động của vòng đời sản phẩm. Mục đích của giai đoạn này nhằm đưa ra các thông tin môi trường bồ sung dé trợ giúp cho đánh giá kết quả của giai đoạn phân tích hệ thống trích xuất và khí thải sao có thể hiểu được ý nghĩa môi trường của sản phâm. Bước 4: Phân tích kết quả và đưa ra phương án cải thiện. Giai đoạn này có mục đích diễn giải vòng đời sản phẩm, các kết quả đánh giá tác động vòng đời sản phẩm được tổng hợp và xem xét dé đưa ra kết luận, kiến nghị và ra quyết định cho phù hợp với mục tiêu và phạm vi xác định.
2: Khung đánh giá vòng đời theo ISO 14040 va 14044 Hai tiêu chuẩn ISO làm cơ sở cho các nghiên cứu LCA bao gồm ISO 14040: Quan lý môi trường — Đánh giá vòng đời — Nguyên tắc và khuôn khổ thực hiện LCA và ISO 14044: Quản lý môi trường — Đánh giá vòng đười — Các yêu cầu và hướng dẫn LCA. Khí nhà kính và sự lưu trữ, cô lập cacbon 2. Khí nhà kính (KNK) Theo IPCC 2019 và TCVN ISO 14067:2020, khí nhà kính (KNK) là thành phần thê khí của khí quyên, cả từ tự nhiên và từ con người, hấp thụ và phát ra bức xạ các bước sóng riêng trong phổ bức xạ hồng ngoại do bề mặt trái đất, khí quyền và các đám mây phát ra. Khí nhà kính bao gồm cacbon dioxit (CO2), metan (CHy), dinito oxit (N20) và khí Flo bao gồm các hợp chất hydro florua cacbon (HFCs), các hợp chất perflorua cacbon (PFCs), va sufua hexaflorit (SFs).
1: Danh mục các KNK được liệt kê trong IPCC (Nguồn: IPCC, 2013) Tên khí Công thức phân tử Carbon Dioxide COa Methane CH¿ Nitrous Oxide NaO Hydrofluorocarbons HFCs (e., HFC-23 (CHF3), HFC-134a (CH2FCF3), HEC-152a (CH3CHF>)) Perfluorocarbons Perfluorocarbons PFCs (CF4, C2Fs, C3Fs, CaFio, c- CaF, CsFi2, CoFia) Sulphur Hexafluoride SFs Nitrogen Trifluoride NF3 Trifluoromethyl Sulphur SFsCF3 Pentafluoride Halogenated Ethers C4F9OC2Hs, CHF2OCF2OC2F4OCH:¿,. Other halocarbons CF3I, CH2Br2, CHC]:, CH3Cl, CH›C];,. 10 F-gases 2% Methane 16% Carbon Dioxide (fossil fuel and industrial processes) 11% Hình 2. 3: Biểu đồ thé hiện tỷ lệ phần tram khí nhà kính (Nguồn: IPCC, 2014) Các KNK tôn tại trong khí quyên với mức cao làm cho nhiệt được phân tán lại cho Trái Đất càng nhiều, gây hiệu ứng nhà kính ngày càng nghiêm trọng.
Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, dự báo tông lượng phát thải KNK tại các cơ sở sản xuất vào năm 2022 là 662,6 triệu tân COztd. Việc đưa vào áp dụng các quy định kiểm kê KNK tạo tiền đề cho việc phân bồ hạn ngạch phát thai KNK tại các cơ sở từ giai đoạn năm 2026 trở về sau, chuẩn bị cho kế hoạch cho việc hoạt động chính thức sản giao dịch cacbon vào năm 2028. Theo Thông tư 23/2023/TT-BNNPTNT về Quy định đo đạc, báo cáo, thắm định kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và kiểm kê khí nhà kính lĩnh vực lâm nghiệp, các loại khí nhà kính kiểm kê bao gồm: Carbon dioxide (CO), Methane (CHa), va Nitrous oxide (N20). Các loại khí CH, va N20 sau khi tính toán được quy đổi thành khí CO2 tương đương (COztđ) theo Hướng dẫn của Ban Liên chính phủ về biến đối khí hậu (IPCC) dé đánh giá tác động đến môi trường.
Các khí nhà kính được báo cáo trong kết quả đánh giá tác động đến môi trường được tông hợp thành giá trị tác động của chỉ số tiềm năng ấm lên toàn cầu (GWP) dé thé hiện tác động gây biến đổi khí hậu. 11 Tiềm năng ấm lên toàn cầu GWP (Global Warming Potential) là hệ số mô tả mức độ tác động của lượng bức xạ một đơn vi khối lượng của một KNK cho trước so với khí CO> trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 100 năm. Giá trị GWP dùng dé so sánh các tác động của các loạ KNK đến việc gây biến đổi khí hậu, Bảng 2.2 trình bày giá trị GWP của các loại KNK làm nóng toàn cầu trong khoảng thời gian 100 năm do Ban biến đổi khí hậu liên chính phủ (IPCC) cung cấp. Số liệu từ báo cáo đánh giá lần thứ sáu (Smith và ctv, 2021) của IPCC.
2: Giá trị GWP của một số loại KNK (Nguồn: Smith và ctv, 2021) Giá trị GWP trong 100 Tên loại KNK Công thức phần tử năm (GWP 100) Carbon dioxide CO2 1 Methane CHa 27,9 Nitrous oxide N20 273 CFC-12 CChF2 11200 CFC-13 CCIF3 16200 CFC-115 CCIF2CF3 9600 HFC-134a CH2FCF3 1530 HCFC-142b CH3CCIF2 2300 Carbon tetrachloride CCl 2200 Methyl chloroform CH:CC]: 161 2. Sự cô lập, lưu trữ cacbon (carbon sequestration) Quá trình thu hồi và lưu trữ cacbon trong khí quyền được gọi là cô lập cacbon. Cacbon có thể được thu trực tiếp từ không khí hoặc từ nguồn công nghiệp bằng nhiều công nghệ, kỹ thuật như hấp phụ. hấp thụ, tách khí.và sau đó được lưu trữ trong các bổn chứa cacbon như đáy đại dương, các vùng rừng hoặc dat bằng các quy trình vật lý hoặc sinh học - điển hình là quá trình quang hợp của thực vật (Mai Bui và ctv, 2018).
Rừng là một phần quan trọng trong chu trình cacbon toàn cầu. Thực vật hấp thu ánh sáng mặt trời dé chuyên hoá CO2, nước và các chất dinh dưỡng thành đường và carbohydrate tích trữ trong lá, cành, thân và rễ thông qua quá trình quang hợp: 6 CO; + 6 HạO > C¿HizOs (lưu trữ) + 6 O¿ (thải ra) 12 Tất cả các bộ phận của cây đều chứa cacbon với tỷ lệ khác nhau tuỳ thuộc vào loài thực vật, độ tuổi của cây và mô hình tăng trưởng của cây. Cacbon lưu trữ là một thuộc tinh đặc biệt của gỗ mà các vật liệu kết cấu khác không có được. Quá trình quang hợp là một quy trình sinh học tự nhiên sẵn có, giúp giảm được lượng cacbon trong thời gian ngắn với chi phí thấp mà không cần đầu tư vào các công nghệ thu hồi và lưu trữ cacbon hiện đại.
Khi cây được khai thác dé lay gỗ, một phần cacbon vẫn tiếp tục được lưu trữ không thai ra ngoài khí quyên cho đến khi sản phẩm gỗ bị thải bỏ bang cách đốt sinh khối hoặc phân huỷ sinh khối vào đất bằng việc chôn lấp. Quá trình quang hợp và lưu trữ cacbon trong suốt vòng đời của cây gỗ giúp vật liệu gỗ có thế mạnh lớn trong việc giảm phát thai (Uy hội Mê Công quốc tế, Sáng kiến Biến đổi Khí hậu và Thich ứng với Biến đổi Khí hậu, 2013). Trong tính toán tổng lượng cacbon phát thải, Nghị định Kyoto cho phép tính và loại bỏ cacbon từ rừng và đất của quốc gia, khấu trừ lượng cacbon lưu trữ khỏi lượng khí thải. Vì vậy, một trong những lựa chọn cho việc giảm khí phát thải, giảm biến đổi khí hậu là tăng khối lượng cacbon lưu trữ trong những khu vực trồng rừng, sử dụng nguyên vật liệu từ sinh khối thực vật đề làm nguyên liệu, nhiên liệu sản xuât sản phâm.
Trong khi quá trình tạo ra vật liệu gỗ thu hồi CO? trong khí quyền và trữ lại trong sinh khối, quá trình tạo ra các vật liệu khác lại chỉ thải cacbon với lượng lớn gây tác động biến đối khí hậu. Do đó, việc sử dụng vật liệu gỗ trong xây dựng được xem là hướng đi mới trong việc giảm phát thải, phát triển theo hướng xanh và bền vững. Dâu vét cacbon của sản pham 2.