CHƯƠNG 1. Cơ sở lý thuyết Trong sản xuất xi măng, phát thải CO2 sinh ra từ quá trình phân hủy cacbonat của đá vôi (khoảng 0.53 tấn CO2/tấn clinker) và đốt nhiên liệu hóa thạch như than, dầu [3]. Phát thải CO2 ứng với 1 MJ nhiệt lượng sinh ra từ đốt than vào khoảng 0.0946 kg CO2/MJ, phát thải CO2 ứng với đốt 1 tấn dầu diesel (DO) vào khoảng 3 tấn CO2/1 tấn dầu [4]. Để giảm phát thải CO2, ngoài việc giảm tiêu tốn nhiệt, sử dụng nhiên liệu thay thế nhiên liệu hóa thạch, việc sản xuất xi măng trộn trong đó một phần clinker được thay bằng các vật liệu bổ sung có tính kết dính (SCM) như tro bay, xỉ hạt lò cao v.v… là một giải pháp chiến lược.
Về lâu dài, lượng cung vật liệu SCM như tro bay sẽ bị hạn chế do sự cắt giảm hoạt động các nhà máy nhiệt điện than. Lượng cung xỉ hạt lò cao không đủ nhu cầu, bị phụ thuộc vào ngành công nghiệp luyện thép ở một số nước. Điều này đã thúc đẩy nhiều nhà nghiên cứu tìm kiếm các nguồn vật liệu mới có hoạt tính pozzolanic như tro từ việc đốt các nhiên liệu sinh khối biomass (ví dụ tro trấu), hoặc metakaolin thu được từ quá trình nung đất sét chứa nhiều kaolinite. Tuy nhiên do nguồn mỏ đất sét kaolinite hạn chế và còn được dùng cho các ngành công nghiệp khác có giá trị gia tăng cao, việc nghiên cứu sử dụng nguồn đất sét thông thường với hàm lượng kaolinite trung bình và thấp, có trữ lượng lớn để sản xuất vật liệu SCM có hoạt tính pozzolanic đã giúp hình thành nhóm vật liệu đất sét nung (calcined clay) [3].
Cấu trúc khoáng của đất sét Cấu trúc khoáng của đất sét gồm nhiều lớp kết hợp với nhau theo một tỷ lệ và cách thức nhất định lặp đi lặp lại. Hai lớp cơ bản là lớp tứ diện (T) và lớp bát diện (O). Lớp tứ diện (T) gồm những tứ diện với cation Si4+, Al3+, Fe3+ ở tâm và 4 ion O2- ở 4 đỉnh, có một đỉnh chung. Lớp bát diện (O) gồm những bát diện với cation Al3+, Fe3+, Fe2+, Mg2+ tiếp xúc nhau qua một cạnh chung.
Các bát diện có các nguyên tử oxy được sắp xếp theo cách tương tự như các đồng phân hình học trans, sis với vị trí 4 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Đôn Tín của 2 anion Oxo luân phiên thay đổi. Nhóm 1:1 gồm các lớp (T) luân phiên xen kẽ với lớp (O). Nhóm 2:1 gồm 1 lớp (O) nằm giữa 2 lớp (T), sắp xếp lặp đi lặp lại.1: Cấu trúc tứ diện của lớp (T); T: cation; Oxa: nguyên tử oxy đỉnh; Oxb: nguyên tử oxy mặt nền; a, b kích thước ô cơ sở Hình 1.2: Cấu trúc bát diện của lớp (O); Oxa: nguyên tử oxy đỉnh; Oxo: anion OH -, F -, Cl -; a, b kích thước ô cơ sở; O-trans: bát diện có 2 anion Oxo ở 2 5 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Đôn Tín phía của mặt tạo bởi 4 nguyên tử oxy còn lai; O-cis: bát diện có 2 anion Oxo là 2 đỉnh của cạnh tiếp xúc với bát diện kế bên.3: Mô hình cấu trúc lớp 1:1 và 2:1. Oxb nguyên tử oxy mặt đáy; T cation của tứ diện; O cation của bát diện; Oxa nguyên tử oxy đỉnh; Oxo các anion (OH -, F -, Cl -) [5].
Các lớp tứ diện T và lớp bát diện O nối với nhau qua các nguyên tử oxy đỉnh Oxa. Lớp bát diện O còn chứa các nguyên tử oxy (không phải là nguyên tử oxy đỉnh) tạo thành nhóm OH- và các anion khác như F-, Cl- ở các đỉnh của bát diện nhưng không dùng chung với lớp tứ diện T. 6 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Đôn Tín Cấu trúc khoáng của đất sét rất đa dạng, ngoài cấu trúc 1:1 và 2:1 cơ bản như đã trình bày ở hình 3, cấu trúc 2:1 có thể chứa thêm các các lớp trung gian có cation khan hoặc cation hydrate, hoặc các lớp trung gian bát diện, còn có cấu trúc hỗn hợp bao gồm hai cấu trúc TO và TOT phân bố đều đặn hoặc ngẫu nhiên [5]. Một số khoáng chính của đất sét như kaolinite có cấu trúc khoáng 1:1, illite và montmorillonite có cấu trúc 2:1, illite-smectite có cấu trúc hỗn hợp.
Vai trò của đất sét trong quá trình tạo khoáng clinker xi măng Portland Đất sét sử dụng trong sản xuất clinker đóng một vai trò quan trọng, không thể thiếu trong chuẩn bị phối liệu nung luyện clinker. Đất sét là một nguồn nguyên liệu chính cung cấp các oxit SiO2, Al2O3, Fe2O3. Các oxit này khi kết hợp với CaO ở nhiệt độ cao tạo ra các khoáng C3S, C2S, C3A, C4AF làm cho xi măng Portland có cường độ khi thủy hóa. Đất sét thường được cấu tạo từ các khoáng sét là các alumo silicat ngậm nước có cấu trúc lớp thuộc các nhóm khoáng chính như kaolinite, illite, montmonrilonite, ngoài ra còn chứa một số khoáng khác như quartz, hematite, magnesite [6].
Trong quá trình nung luyện clinker, các phản ứng phân hủy của các khoáng sét bao gồm bay hơi ẩm, mất nước hóa học, biến đổi thù hình của quartz xảy ra từ nhiệt độ thường đến khoảng 1000oC, tạo ra các oxit có hoạt tính cao SiO2, Al2O3, Fe2O3. Khi các hạt nguyên liệu tiếp xúc với nhau, các oxit hoạt tính cao này phản ứng với CaO (tạo ra từ phản ứng phân hủy carbonat của đá vôi) hình thành các hợp chất mới ở trạng thái rắn. Trong khoảng nhiệt độ 1000÷1295oC, do sự xuất hiện của pha lỏng, các phản ứng tạo khoáng được tăng cường, chủ yếu là tạo thành các khoáng silicat canxi như CS, C2S, C3S2, C3S. Trong khoảng nhiệt độ 1295÷1450oC pha lỏng nhiều hơn, tăng cường quá trình hòa tan các khoáng silicat canxi, CaO, và kết tinh tạo C3S khoáng quan trọng nhất trong clinker, cùng với khoáng C2S.
Quá trình kết tinh C3A và C6AxFy xảy ra ở nhiệt độ dưới 1350oC [6]. 7 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Đôn Tín Nhiệt tiêu tốn khi nung đất sét bao gồm nhiệt để đốt nóng tăng nhiệt độ, nhiệt tiêu tốn để khử nước hóa học. Trong sản xuất clinker, nhiệt tiêu tốn lý thuyết cho quá trình khử nước hóa học của đất sét là 40kcal/kg clinker [6]. Hoạt tính pozzolanic của các khoáng sét sau khi nung Khi nung đến nhiệt độ thích hợp, khoáng sét bị khử nước, các nhóm OH- tách ra làm cho cấu trúc tinh thể của các khoáng sét bị biến đổi mạnh thành dạng vô định hình hoặc có các ion nhôm bị khuyết liên kết, khiến cho đất sét nung có hoạt tính pozzolanic [3].
Hoạt tính pozzolanic của đất sét nung phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ nung, độ mịn, thời gian. Nếu nung ở nhiệt độ quá thấp, quá trình khử hydroxyl sẽ không xảy ra hoàn toàn. Nếu nung nhiệt độ quá cao, sự chảy lỏng và tái kết tinh của một số khoáng dẫn đến hình thành các pha không còn hoạt tính pozzolanic [3]. Đối với khoáng kaolinite, phản ứng khử hydroxyl xảy ra trong khoảng nhiệt độ 450 ÷ 650oC, và tạo thành metakaolin có cấu trúc vô định hình.
Nhiệt độ nung thông thường để tạo ra metakaolin có hoạt tính là 600÷800oC. Ở nhiệt độ nung cao hơn, xảy ra hiện tượng tái kết tinh và hình thành khoáng mullite (ở khoảng 1000oC) làm giảm hoạt tính [7]. Phản ứng khử hydroxyl của kaolinite: AS2H2 AS2 + 2H (2.1) Phản ứng pozzolanic (phản ứng thủy hóa hấp thụ vôi) của metakaolin: AS2 + CH + H C-S-H (2.2) Ở đây, A: Al2O3, S: SiO2, H: H2O, CH: Ca(OH)2 Phản ứng (2.2) tạo ra sản phẩm thủy hóa calcium silicate hydrate C-S-H có tính kết dính và tạo cường độ cho đất sét nung. Lee và cộng sự (1999), trong nghiên cứu về quá trình chuyển pha từ kaolinite qua mullite bằng kính hiển vi điện tử truyền qua, khi tăng nhiệt độ đến 940oC, metakaolin bắt đầu bị phân hủy hình thành khoáng mullite giàu nhôm và SiO2 vô định hình.
Ở 1200oC pha spinel bị phân hủy hoàn toàn, thúc đẩy sự kết tinh cristobalite từ SiO2 vô định hình và phát triển tinh thể mullite A3S2 [8]. 8 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Đôn Tín Đối với khoáng montmorillonite, phản ứng khử hydroxyl xảy ra trong khoảng nhiệt độ 500÷600oC, khi tăng nhiệt độ đến 900oC, cấu trúc vô định hình phát triển, trên 1000oC sự tái kết tinh xảy ra cùng với sự thay đổi hoàn cấu trúc khoáng. Theo Garg and Skibsted, khoảng nhiệt độ nung tối ưu đối với đất sét có chứa montmorillonite là 750÷800oC, ở nhiệt độ cao hơn 850oC hoạt tính pozzolanic giảm mạnh [3]. Phản ứng khử hydroxyl của khoáng Illite xảy ra trong khoảng nhiệt độ 600÷900oC, khi nâng nhiệt lên 930oC hoạt tính pozzolanic tăng lên do sự gia tăng cấu trúc vô định hình.
Muscovite có hoạt tính pozzolanic khi gia nhiệt trong khoảng 500oC đến 900oC. Khi nung muscovite ở 800oC, hoạt tính pozzolanic thấp hơn so với illite và kaolinite [3]. Tình hình nghiên cứu ứng dụng đất sét nung trên thế giới 1. Sử dụng đất sét nung có kaolinite >40% cho hệ xi măng LC3 Khảo sát trên trang sciencedirect với từ khoá “LC3 cement” tại địa chỉ https://www.com/search?qs=LC3%20cement truy cập ngày 18/07/2023 cho thấy sự gia tăng số lượng các bài báo nghiên cứu về xi măng LC3 từ năm 2019 đến 2022 (Hình 2.
Dự án nghiên cứu sử dụng đất sét nung thay cho pozzolana và chế tạo xi măng LC3 đã được giáo sư Karen Scrivener và giáo sư Fernando Martirena bắt đầu thực hiện vào năm 2005. Từ năm 2017, LC3 đã được sản xuất ở một số nước như Cuba, Ấn Độ và đang được quan tâm ngày càng nhiều trên thế giới. 9 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Đôn Tín Hình 1.4:a) Kết quả tìm kiếm từ khóa LC3 cement tại trang sciencedirect; b) Biểu đồ số lượng bài báo về LC3 cement từ năm 1998 đến 2022 Giáo sư Karen Scrivener và cộng sự tại Phòng thí nghiệm vật liệu xây dựng thuộc Trường Đại Học Bách Khoa Liên Bang Thụy Sĩ (Laboratory of Construction Materials, EPFL, CH-1015 Lausanne, Switzerland) đã trình bày nghiên cứu về các 10 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Đôn Tín yếu tố tác động và các tính chất của xi măng LC3 trong bài báo “Impacting factors and properties of Limestone Calcined Clay Cements (LC3)”, Green materials, 3-14, (2019) [9]. Nghiên cứu cho thấy có một sự tương quan chặt chẽ giữa hàm lượng kaolinite của đất sét nung và sự phát triển cường độ của xi măng LC3-50 (là LC3 có 50% clinker).
Đất sét sử dụng trong sản xuất xi măng LC3 là loại có hàm lượng khoáng kaolinite tối thiểu 40% để cường độ 7 ngày của xi măng LC3-50 tương đương với xi măng Portland. Đá vôi trong xi măng LC3-50 có vai trò điều chỉnh phân bố cỡ hạt của xi măng giúp cải thiện tính công tác và thúc đẩy phản ứng thủy hóa của khoáng aluminate trong clinker giúp cải thiện cường độ sớm của xi măng.