Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn phát triển kinh tế nông thôn tại Việt Nam trong những năm qua chứng kiến bước chuyển dịch mang tính chiến lược từ phương pháp đo lường nghèo đơn chiều sang nghèo đa chiều. Tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, khu vực nông thôn từng ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập lên tới 16,94%. Mặc dù địa phương đã nỗ lực thực hiện nhiều chương trình an sinh xã hội, chẳng hạn như hỗ trợ bình quân 84 lượt hộ tham gia các chương trình xuất khẩu lao động mỗi năm (trong đó có 51 hộ nghèo), nhưng chuẩn nghèo đơn chiều dựa trên chi tiêu và thu nhập truyền thống đã bộc lộ rõ những hạn chế căn bản. Phương pháp cũ vô tình bỏ sót những thiếu hụt nghiêm trọng về dịch vụ xã hội cơ bản của người dân như y tế, giáo dục, điều kiện sống và thông tin.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ bản chất nghèo đói đa chiều trong khu vực nông thôn của huyện Đại Từ, từ đó nhận diện các rào cản xã hội ngăn trở người dân tiếp cận các quyền an sinh tối thiểu. Mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đa chiều; đánh giá thực trạng mức độ thiếu hụt 5 chiều dịch vụ xã hội cơ bản theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; phân tích các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến tình trạng nghèo đói; và đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm giảm tỷ lệ nghèo đa chiều bền vững cho giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025.

Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi không gian tại 02 xã đại diện là Minh Tiến và La Bằng thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi thời gian sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014-2016 kết hợp số liệu sơ cấp điều tra thực địa trong năm 2017. Ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu là cung cấp cơ sở khoa học đáng tin cậy giúp địa phương phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân từ 1,5% đến 2,0% mỗi năm, đồng thời nâng tỷ lệ hộ dân được tiếp cận nước sạch và nhà vệ sinh đạt chuẩn lên trên 85%, góp phần hoàn thiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc và lý thuyết về năng lực của nhà kinh tế học Amartya Sen. Theo quan điểm của Amartya Sen, nghèo đói không đơn thuần là sự thiếu hụt về thu nhập mà bản chất là sự tước đoạt các năng lực cơ bản khiến con người không thể tham gia đầy đủ vào đời sống xã hội. Báo cáo phát triển con người năm 1997 của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc cũng khẳng định nghèo đa chiều phản ánh sự phủ nhận các cơ hội và quyền lựa chọn để đảm bảo một cuộc sống ở mức độ chấp nhận được.

Luận văn vận dụng mô hình đo lường nghèo đa chiều Alkire-Foster để thiết lập khung đánh giá gồm 5 chiều nghèo và 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt:

  • Chiều Giáo dục: gồm chỉ số trình độ giáo dục của người lớn và tình trạng đi học của trẻ em.
  • Chiều Y tế: gồm chỉ số tiếp cận các dịch vụ y tế và tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế.
  • Chiều Nhà ở: gồm chỉ số chất lượng nhà ở kiên cố và diện tích nhà ở bình quân đầu người (ngưỡng dưới 8m2/người).
  • Chiều Điều kiện sống: gồm chỉ số nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh và hố xí hợp vệ sinh.
  • Chiều Tiếp cận thông tin: gồm chỉ số sử dụng dịch vụ viễn thông và tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.

Khung lý thuyết xác định tổng điểm thiếu hụt tối đa là 100 điểm, mỗi chiều chiếm tỷ trọng 20 điểm và mỗi chỉ số thành phần chiếm 10 điểm. Ngưỡng nghèo đa chiều được xác định khi hộ gia đình có điểm thiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm trở lên (tương đương thiếu hụt từ 3 chỉ số trở lên) hoặc có mức thu nhập dưới chuẩn 700.000 đồng/người/tháng tại khu vực nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm số liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám Thống kê huyện Đại Từ giai đoạn 2014-2016, các văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo tổng kết giảm nghèo của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đại Từ. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra bảng hỏi trực tiếp các hộ gia đình trong năm 2017.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với quy mô cỡ mẫu 120 hộ gia đình tại hai xã Minh Tiến (đại diện cho vùng đồi núi khó khăn) và xã La Bằng (đại diện cho vùng sản xuất chè chuyên canh và đạt chuẩn nông thôn mới). Cỡ mẫu được phân bổ đều cho các nhóm hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có mức sống trung bình nhằm bảo đảm tính đại diện thống kê cao.

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp giữa phương pháp định lượng Alkire-Foster và thống kê mô tả so sánh tỷ lệ phần trăm. Lý do lựa chọn phương pháp Alkire-Foster là vì phương pháp này cho phép tổng hợp đồng thời tỷ lệ hộ nghèo đếm đầu và độ sâu thiếu hụt thành chỉ số nghèo đa chiều thống nhất, giúp xác định chính xác những chiều thiếu hụt nghiêm trọng nhất mà các phương pháp truyền thống không thể lượng hóa. Toàn bộ quy trình khảo sát thực địa và tổng hợp dữ liệu được tiến hành nghiêm ngặt trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực nghiệm tại huyện Đại Từ đã làm rõ những điểm thiếu hụt đặc trưng của hộ nghèo nông thôn theo chuẩn đa chiều:

Thứ nhất, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều thực tế tại địa bàn khảo sát cao hơn tỷ lệ nghèo thu nhập truyền thống. Khi tính toán đầy đủ các chiều thiếu hụt, tỷ lệ hộ thiếu từ 3 chỉ số trở lên chiếm khoảng 25,6%, trong khi tỷ lệ nghèo đơn chiều trước đó chỉ ghi nhận 16,94%. Điều này phản ánh thực tế có gần 9% hộ gia đình dù có thu nhập vượt ngưỡng 700.000 đồng/người/tháng nhưng vẫn rơi vào tình trạng nghèo đa chiều do không thể tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu.

Thứ hai, chiều Điều kiện sống và Nhà ở ghi nhận tỷ lệ thiếu hụt cao nhất trong các nhóm hộ điều tra. Cụ thể, có 38,5% hộ nghèo chưa được tiếp cận nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh và 42,3% hộ nghèo vẫn sử dụng nhà tiêu không đạt chuẩn vệ sinh môi trường. Về tiêu chí nhà ở, khoảng 28,7% hộ dân tại xã Minh Tiến đang sinh sống trong các căn nhà thiếu kiên cố hoặc có diện tích bình quân dưới 8m2/người.

Thứ ba, sự thiếu hụt về Giáo dục và Y tế vẫn là rào cản lớn đối với mục tiêu thoát nghèo. Số liệu cho thấy 31,5% thành viên trong độ tuổi lao động của các hộ nghèo chưa tốt nghiệp trung học cơ sở và không tham gia học nghề. Về y tế, có 18,2% thành viên từ 6 tuổi trở lên trong các hộ nghèo chưa có thẻ bảo hiểm y tế hoặc không tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh kịp thời khi ốm đau nặng.

Thứ tư, chiều Tiếp cận thông tin có sự phân hóa mạnh mẽ. Khoảng 22,6% hộ nghèo không có điện thoại thông minh, máy tính hoặc kết nối internet, chủ yếu tiếp nhận thông tin gián tiếp qua hệ thống loa truyền thanh của thôn xã, dẫn đến sự hạn chế trong việc nắm bắt kiến thức khoa học kỹ thuật và cơ hội việc làm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đa chiều tại huyện Đại Từ xuất phát từ sự tương tác phức tạp giữa yếu tố khách quan và chủ quan. Về mặt khách quan, diện tích đất canh tác nông nghiệp bình quân đầu người rất thấp (dưới 500m2/khẩu), kết cấu hạ tầng giao thông và thủy lợi tại các xã vùng cao còn chia cắt, cùng với ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm của huyện chưa đáp ứng đủ nhu cầu nâng cấp mạng lưới cấp nước sạch. Về mặt chủ quan, chất lượng lao động thấp, quy mô hộ gia đình đông con (bình quân 4 đến 5 nhân khẩu mỗi hộ nghèo) và tâm lý ỷ lại vào các gói hỗ trợ của Nhà nước đã tạo thành vòng luẩn quẩn của sự bần cùng hóa.

Khi so sánh với các địa phương khác, kết quả nghiên cứu tại Đại Từ có sự tương đồng sâu sắc với huyện Thanh Ba (tỉnh Phú Thọ), nơi tỷ lệ hộ nghèo sau khi áp dụng chuẩn đa chiều đã tăng từ 8,7% lên 17,6% (với hơn 5.700 hộ nghèo), cũng như huyện Ba Chẽ (tỉnh Quảng Ninh) với tỷ lệ thiếu hụt dịch vụ xã hội đạt mức 25,91%. Kết quả này chứng minh quy luật chung: việc chuyển đổi sang đo lường đa chiều sẽ bộc lộ đúng diện mạo nghèo xã hội mà tiêu chí kinh tế đơn thuần đã che lấp.

Để tăng tính trực quan cho công tác quản trị dữ liệu, các phát hiện trên có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột ghép thể hiện tỷ lệ phần trăm thiếu hụt của từng chỉ số giữa hai xã Minh Tiến và La Bằng, kết hợp với bảng ma trận phân rã trọng số đóng góp của từng chiều vào chỉ số nghèo đa chiều tổng hợp. Cách trình bày này giúp các nhà hoạch định chính sách nhìn thấy ngay thứ tự ưu tiên can thiệp, trong đó việc nâng cấp điều kiện vệ sinh môi trường và giáo dục nghề nghiệp cần được đặt lên hàng đầu.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm giảm nghèo đa chiều bền vững tại huyện Đại Từ:

Thứ nhất, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và phổ cập giáo dục cơ sở. Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ chỉ đạo Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp cùng Trung tâm Y tế huyện thực hiện mục tiêu cấp phát thẻ bảo hiểm y tế đạt tỷ lệ 100% cho các đối tượng hộ nghèo và cận nghèo trong giai đoạn 2018-2020. Đồng thời, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện cần đẩy mạnh xóa mù chữ, phổ cập trung học cơ sở và huy động 100% trẻ em trong độ tuổi từ 5 đến dưới 16 tuổi đến trường, phấn đấu giảm tỷ lệ thiếu hụt giáo dục người lớn xuống dưới 10% vào năm 2022.

Thứ hai, tập trung nguồn lực đầu tư nâng cấp hạ tầng nước sạch và nhà vệ sinh nông thôn. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần ưu tiên phân bổ ngân sách từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới để xây dựng các trạm cấp nước sinh hoạt tập trung tại xã Minh Tiến và La Bằng. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ hộ nghèo được sử dụng nước hợp vệ sinh lên 90% và tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp chuẩn đạt trên 80% vào cuối năm 2020.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đào tạo nghề và nâng cao thu nhập. Trung tâm Dạy nghề huyện Đại Từ phối hợp với Hội Nông dân tổ chức từ 15 đến 20 lớp tập huấn kỹ thuật canh tác chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP và chăn nuôi gia súc mỗi năm. Phấn đấu tạo việc làm ổn định cho hơn 2.500 lao động nông thôn, nâng mức thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo lên trên 2.500.000 đồng/người/tháng vào năm 2020, tạo nền tảng vững chắc để tự trang trải các dịch vụ xã hội.

Thứ tư, đổi mới cơ chế tín dụng ưu đãi và giảm dần các chính sách hỗ trợ cho không. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Đại Từ cần tăng quy mô giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi với tổng dư nợ trên 80 tỷ đồng cho các dự án phát triển kinh tế hộ gia đình có cam kết thoát nghèo. Thay thế dần hình thức trợ cấp trực tiếp bằng các chính sách hỗ trợ có điều kiện và đối ứng nhằm khơi dậy tinh thần tự lực vươn lên của người dân giai đoạn 2018-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên hoạch định chính sách an sinh xã hội tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Nguyên, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đại Từ. Luận văn cung cấp khung tham chiếu chuẩn xác để xây dựng bộ công cụ điều tra, rà soát hộ nghèo đa chiều định kỳ và phân bổ ngân sách trợ cấp đúng địa chỉ.

Thứ hai, lãnh đạo Đảng ủy và Ủy ban nhân dân cấp xã tại huyện Đại Từ cùng các địa phương có điều kiện tự nhiên tương đồng. Tài liệu giúp chính quyền cơ sở hiểu rõ phương pháp đánh giá 10 chỉ số thiếu hụt để lồng ghép hiệu quả các chỉ tiêu giảm nghèo vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế phát triển và Xã hội học. Công trình là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình ứng dụng phương pháp Alkire-Foster, kỹ thuật thiết kế phiếu điều tra nông hộ và phương pháp xử lý số liệu định lượng trong nghiên cứu đói nghèo.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và ban quản lý dự án phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp dữ liệu cơ sở chi tiết về thực trạng thiếu hụt hạ tầng nước sạch, vệ sinh môi trường và giáo dục cộng đồng, giúp thiết kế các gói can thiệp phát triển sinh kế đạt hiệu quả cao nhất.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp đo lường nghèo đa chiều khác biệt như thế nào so với phương pháp đo lường nghèo đơn chiều truyền thống? Phương pháp đơn chiều chỉ căn cứ vào mức thu nhập hoặc chi tiêu tính bằng tiền so với chuẩn nghèo cố định, dễ dẫn đến việc bỏ sót những người có thu nhập trên chuẩn nhưng sống trong điều kiện thiếu thốn cơ sở vật chất. Phương pháp đa chiều đánh giá toàn diện cả thu nhập và mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản, giúp nhận diện chính xác bản chất nghèo đói theo quyền con người.

Tại sao tỷ lệ hộ nghèo đa chiều tại huyện Đại Từ lại cao hơn tỷ lệ nghèo theo chuẩn thu nhập trước đây? Khi áp dụng tiêu chí đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, nhiều hộ gia đình có thu nhập bình quân nhỉnh hơn 700.000 đồng/người/tháng nhưng lại bị thiếu hụt từ 3 chỉ số dịch vụ xã hội trở lên như nước sinh hoạt, nhà tiêu hợp vệ sinh hoặc bảo hiểm y tế. Các hộ này được xếp vào diện nghèo đa chiều, làm tăng tỷ lệ nghèo thực tế thêm khoảng 8,66% so với chuẩn đơn chiều.

Những chỉ số thiếu hụt nào chiếm tỷ trọng lớn nhất tại khu vực nông thôn huyện Đại Từ? Kết quả khảo sát thực tế tại hai xã Minh Tiến và La Bằng chỉ ra rằng các chỉ số thuộc chiều Điều kiện sống và Giáo dục bị thiếu hụt nghiêm trọng nhất. Cụ thể có 42,3% hộ thiếu nhà tiêu hợp vệ sinh, 38,5% hộ thiếu nước sạch sinh hoạt và 31,5% lao động chính chưa đạt trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở, đây là các rào cản chính hạn chế chất lượng cuộc sống.

Phương pháp Alkire-Foster đóng vai trò gì trong việc xử lý số liệu của luận văn? Phương pháp Alkire-Foster giúp luận văn tính toán được chỉ số điểm thiếu hụt cho từng hộ gia đình, từ đó xác định chính xác tỷ lệ nghèo đếm đầu và độ sâu thiếu hụt của toàn bộ địa bàn nghiên cứu. Phương pháp này cho phép phân rã số liệu theo từng chiều và từng xã, tạo cơ sở định lượng vững chắc cho các đề xuất chính sách.

Hộ nông dân tại huyện Đại Từ cần những điều kiện gì để thoát nghèo đa chiều một cách bền vững? Để thoát nghèo bền vững, người nông dân cần đồng thời nâng cao thu nhập trên 1.000.000 đồng/người/tháng thông qua chuyển đổi sang mô hình trồng chè VietGAP và tiếp cận đầy đủ các dịch vụ công cơ bản. Điều quan trọng nhất là phải tham gia bảo hiểm y tế, cải tạo nhà tiêu hợp vệ sinh, sử dụng nước sạch và nâng cao trình độ văn hóa cho con em trong gia đình.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng nghèo đa chiều tại huyện Đại Từ, làm rõ sự khác biệt căn bản giữa nghèo thu nhập và nghèo tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.
  • Kết quả khảo sát thực nghiệm 120 hộ dân chỉ ra rằng tỷ lệ thiếu hụt tập trung cao nhất ở tiêu chí nhà tiêu hợp vệ sinh (42,3%), nước sạch (38,5%) và trình độ giáo dục người lớn (31,5%).
  • Đề tài ứng dụng thành công phương pháp đo lường Alkire-Foster vào địa bàn cấp huyện, đóng góp nguồn cứ liệu khoa học tin cậy cho hệ thống lý luận kinh tế nông nghiệp Việt Nam.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp được xây dựng đồng bộ, gắn kết chặt chẽ giữa đầu tư hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ sinh kế chè an toàn và đổi mới chính sách tín dụng ưu đãi.
  • Công trình khẳng định tầm quan trọng của việc xóa bỏ tư tưởng ỷ lại, chuyển từ hình thức trợ cấp thụ động sang tạo lập năng lực tự vươn lên thoát nghèo bền vững cho người dân nông thôn.

Về lộ trình tiếp theo, chính quyền địa phương cần hoàn thiện quy trình thu thập dữ liệu rà soát hộ nghèo đa chiều định kỳ hàng năm trong giai đoạn 2018-2020, đồng thời nhân rộng mô hình đánh giá này trên toàn bộ 30 xã, thị trấn của huyện Đại Từ với tầm nhìn đến năm 2025. Các cấp quản lý, cơ quan nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp cần tăng cường liên kết, huy động tối đa các nguồn lực xã hội hóa để hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo đa chiều và xây dựng nông thôn mới phồn vinh, bền vững.