MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi lợn ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đóng vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống chăn nuôi. Lợn là loài gia súc được nuôi phổ biến và cung cấp lượng thực phẩm lớn nhất cho con người.Hiện này nhu cầu thịt lợn ngày càng gia tăng.Năm 2009, mức tiêu thụ thịt lợn bình quân đầu người của Việt Nam đạt 27kg/năm, tương đương với mức tăng trưởng trung bình 6,3%/năm trong vòng 10 năm. Vì thế yêu cầu đặt ra là các nhà chăn nuôi phải có biện pháp nâng cao tổng đàn lợn và chất lượng thịt. Để đạt được yêu cầu đó cần phải thay đổi cơ cấu đàn giống bằng biện pháp nhập những giống lợn ngoại, tiến hành nhân thuần và cho lai tạo ra đàn con thương phẩm nuôi thịt có năng suất thịt cao và nhiều nạc.
Gần đây, nhiều giống lợn ngoại như: Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain, … đã được nhập vào nước ta để nuôi thuần chủng và lai tạo thành những tổ hợp lai mới có năng suất cho thịt cao, được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả. Tuy vậy lợn ngoại nhập vào nước ta còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố: khí hậu, thức ăn, phương thức chăn nuôi, vệ sinh thú y,… các yếu tố này đều có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến các bệnh sinh sản. Do đó việc tìm hiểu năng suất sinh sản, các yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản là rất cần thiết. Sự hiểu biết này giúp người chăn nuôi có nhận định đúng trong việc lựa chọn con giống, kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và quy trình vệ sinh thú y trong quá trình sản xuất.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái F1 (Landrace x Yorkshire) được phối với đực Duroc tại trại Minh Thúy, công ty TNHH ANT (HN), huyện Vân Hồ, Sơn La” 1 1.2 Mục đích của đề tài - Đánh giá năng suất sinh sản của lợn F1( Landrace và yorkshire) phối với đực Duroc qua các lứa đẻ. - Xác định tiêu tốn thức ăn tạo ra 1 kg lợn con cai sữa - Đánh giá được tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ. 2 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÍ SINH DỤC CỦA LỢN NÁI 2. Sự thành thục về tính và thể vóc - Sự thành thục về tính.
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản. Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục. Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối. Khi đó ở con cái các noãn bao chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh.
Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 - 210 ngày) (Võ Trọng Hốt và cs (2000) ). Kết quản nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs (1998), cho biết lợn Landrace thành thục về tính là 213,1 ngày. ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể,… + Giống: ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần. Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55kg.
Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg. Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi. Cụ thể lợn Landrace nhập vào nuôi ở Việt Nam có tuổi động dục lần đầu là 208 - 209 ngày. + Chế độ dinh dưỡng: ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái.
Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém. Gurger (1972) chỉ rõ, lợn cái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở 3 độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg. Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục. + Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục.
Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức. Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu). Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 112 giờ mỗi ngày (Dwane và cs, (2000) ). + Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục.
Nhưng cần tránh nuôi cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm. Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị. Nếu cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn cái hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống.
Theo Hughes và James (1996), lợn cái hậu bị ngoài 90 kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn cái hậu bị động dục lần đầu. 4 - Sự thành thục về thể vóc. Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, xương đã được cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổn định. Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính.
Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên. Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt. Vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém. Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ.
Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này. Do đó không nên cho phối giống quá sớm. Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110 kg mới nên cho phối.2 Chu kì tính và thời điểm phối giống thích hợp 2.1 chu kì tính Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng. Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý.
Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính. Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi cơ thể đã thành thục về tính, nó xuất hiện liên tục và chấm dứt khi cơ thể cái già yếu - Tiền động dục (kéo dài 2 - 3 ngày). Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục. ở giai đoạn này các noãn bao phát triển thành thục và nổi rõ lên bề mặt buồng trứng.
Buồng trứng to hơn bình thường các tế bào ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên, đường sinh dục tăng tiết dịch nhày và xung huyết nhẹ, hệ thống tuyến ở 5 cổ tử cung tiết dịch nhày, các noãn bao chín và tế bào trứng tách ra ngoài, tử cung co bóp mạnh, niêm dịch đường sinh dục chảy nhiều, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục. Các biến đổi trên tạo điều kiện cho tinh trùng tiến lên trong đường sinh dục cái gặp tế bào trứng và tiến hành thụ tinh. Biểu hiện bên ngoài: Âm đạo sưng to, đỏ hồng, không có hoặc có ít nước nhờn không cho đực nhảy hoặc bỏ chạy khi ta ấn tay vào hông. ở giai đoạn này lợn thường bỏ ăn hoặc ít ăn, hay kêu rít.
Thời gian của giai đoạn này được tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao các biến đổi của cơ quan sinh dục lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt, niêm dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ: Con cái đứng nằm không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hẳn, kêu rít, đứng trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình, thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực như: đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống sẵn sàng chịu đực.