CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Lý luận cơ bản về mức độ hài lòng của người lao động trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến mức độ hài lòng của người lao động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về người lao động Theo Bộ luật Lao động năm 2013, người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
Người lao động thường được chia làm hai loại: - Lao động trực tiếp gồm những người trực tiếp tiến hành hoạt động SXKD tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định. Theo nội dung công việc mà người lao động thực hiện, loại lao động trực tiếp được chia thành: Lao động SXKD chính, lao động SXKD phụ trợ, lao động của các hoạt động khác. Theo năng lực và trình độ chuyên môn, lao động trực tiếp được phân thành các loại: + Lao động tay nghề cao: Gồm những người đã qua ðào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế, có khả nãng ðảm nhận các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao. + Lao động có tay nghề trung bình: Gồm những người đã qua đào tạo chuyên môn, nhưng thời gian công tác thực tế chưa nhiều hoặc những người chưa được đào tạo qua trường lớp chuyên môn nhưng có thời gian làm việc thực tế tương đối lâu được trưởng thành do học hỏi từ thực tế.
- Lao động gián tiếp: Gồm những người chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp. Theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn, loại lao động này được chia thành: SVTH: Lê Hoàng Phương Nhi 7 van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Đăng Hào + Nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính. Theo năng lực và trình độ chuyên môn, lao động gián tiếp được phân thành các loại: + Chuyên viên chính: Là những người có trình độ từ đại học trở lên có trình độ chuyên môn cao, có khả năng giải quyết các công việc mang tính tổng hợp, phức tạp. + Chuyên viên: Cũng là những người lao động đã tốt nghiệp đại học, trên đại học, có thời gian công tác tương đối lâu, trình độ chuyên môn tương đối cao.
+ Cán sự: Gồm những người mới tốt nghiệp đại học, có thời gian công tác thực tế chưa nhiều. + Nhân viên: Là những người lao động gián tiếp với trình độ chuyên môn thấp, có thể đã qua đào tạo các trường lớp chuyên môn, nghiệp vụ, hoặc chưa qua đào tạo. Khái niệm về sự hài lòng của người lao động làm việc trong doanh nghiệp Sự hài lòng là một khái niệm khó mà đưa ra một định nghĩa chính xác được. Cứ mỗi nhà nghiên cứu khác nhau thì sẽ có một khái niệm khá khác nhau.
Theo Spector (1997), ông cho rằng sự hài lòng trong công việc đơn thuần là sự yêu thích công việc và các khía cạnh công việc. Ông xem sự hài lòng trong công việc như một biến hành vi. Hài lòng trong công việc cũng được xem như việc hài lòng với các khía cạnh cụ thể hoặc hài lòng chung với công việc. Theo Staples và Higgins (1998) sự hài lòng của nhân viên có thể được cảm nhận thông qua phạm vi của công việc và tất cả những thái độ tích cực đối với môi trường làm việc của họ.
Và còn Gruneberg (1979) lại cho rằng, khi con người dành nhiều thời gian cho công việc, sự hiểu biết về những nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của họ trong công việc là rất quan trọng và cần thiết. Từ đó, ta có thể thuận lợi hơn cho việc cải thiện chúng. Tổng kết lại, sự hài lòng trong công việc của người lao động là sự đáp ứng những nhu cầu và mong muốn của họ trong môi trường công việc. Khi những nhu SVTH: Lê Hoàng Phương Nhi 8 van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Đăng Hào cầu và mong muốn này được đáp ứng thỏa đáng thì sự thoả mãn của người lao động sẽ được tăng lên và điều này sẽ tác động thuận lợi cho doanh nghiệp.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người lao động Có nhiều yếu tố khác nhau gây ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người lao động.
Tuy nhiên, ta có thể chia các yếu tố thành 2 nhóm cơ bản, đó là các yếu tố về vật chất và các yếu tố về tinh thần. Cụ thể: Các yếu tố về vật chất Những chính sách về mặt kinh tế mà doanh nghiệp xây dựng như: lương, thưởng, phúc lợi, trang thiết bị kỹ thuật… chính là các yếu tố về vật chất. Đó cũng chính là một yếu tố đóng vai trò quan trọng để đo lường, đánh giá mức độ hài lòng của người lao động. Bên cạnh đó, những yếu tố này là để tạo động lực và khuyến khích người lao động làm việc, cống hiến cho doanh nghiệp.
- Chính sách tiền lương Trong tất cả các yếu tố, chính sách tiền lương luôn được xác định là một yếu tố đóng vai trò chủ chốt trong việc thu hút người lao động, đặc biệt là lao động có chất lượng cao. Trong thực tế, bất kì doanh nghiệp nào sẵn sàng chi trả mức lương cao hơn mức trung bình trên thị trường thì thường sẽ thu hút được một nguồn nhân lực tốt hơn, từ đó sự hài lòng của người lao động cũng cao hơn và doanh nghệp đó cũng thành công hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiền lương tuy không phải là yếu tố quyết định tất cả, nhưng tiền lương luôn đóng vai trò chủ chốt để giúp các doanh nghiệp thực hiện được việc thu hút các nguồn lao động có chất lượng đến làm và gắn bó với doanh nghiệp. Xây dựng một hệ thống tiền lương hợp lý, linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế và khuyến khích, động viên người lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp là một thực tế mà các doanh nghiệp phải làm.
Tuy nhiên, để thực hiện tốt được điều này thì các doanh nghiệp lại phải đối mặt với một nghịch lý là bất cứ doanh nghiệp nào cũng luôn cố gắng giảm thiểu tối đa mọi chi phí (bao gồm cả chi phí lao động) và giảm giá thành sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh và mang lại lợi nhuận. Bên cạnh đó, việc đảm bảo người lao động nào cũng được chi trả một mức lương xứng đáng và công bằng cũng rất bất cập và nó chỉ mang tính chất tương đối. Bởi lẽ, người lao động luôn có tâm lý so sánh về công việc và đồng lương nhận được giữa SVTH: Lê Hoàng Phương Nhi 9 van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Đăng Hào những vị trí, công việc khác nhau hoặc so sánh giữa những người làm việc ở doanh nghiệp này với những người làm việc ở doanh nghiệp khác ở cùng vị trí, công việc như họ. Việc so sánh đó vô tình có thể mang lại hai hướng, có thể khiến họ bất mãn hoặc là tự động viên bản thân đối với công việc và doanh nghiệp mà họ đang lao động.
- Chính sách phúc lợi, đãi ngộ + Bên cạnh các chính sách về tiền lương, các doanh nghiệp còn sử dụng chính sách phúc lợi, đãi ngộ như một công cụ hữu hiệu trong việc nâng cao mức độ hài lòng của người lao động. Từ đó, kịp thời động viên, khuyến khích người lao động gắn bó với doanh nghiệp, nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc, giúp doanh nghiệp ổn định và vượt qua những giai đoạn khó khăn nhằm đạt được sự phát triển bền vững. Đặc biệt là trong xu thế hội nhập kinh tế và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, thì chính sách phúc lợi, đãi ngộ ngày càng phát huy hiệu quả trong việc thuhút và giữ chân nguồn nhân lực, là công cụ hiệu quả để quản lý nhân lực. + Nếu như trước đây, các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến chính sách phúc lợi và đãi ngộ cho người lao động thì ngày nay các doanh nghiệp đã thật sự thay đổi trong nhận thức và thể hiện sự quan tâm nhiều hơn trong việc khuyến khích vật chất đối với người lao động.
Những thành tích, cống hiến mà người lao động đã và đang nỗ lực cố gắng đem lại cho doanh nghiệp đã được ghi nhận và cụ thể hóa bằng các chính sách phúc lợi như: các khoản thưởng bao gồm các khoản theo quy định của pháp luật như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội… và các khoản khác mà doanh nghiệp hỗ trợ thêm để đảm bảo đời sống cho người lao động. + Có nhiều hình thức khác nhau để doanh nghiệp thưởng cho người lao động như thưởng vào các ngày lễ lớn của cả nước, theo mốc thời gian (theo tháng, quý, năm) hoặc thông qua kết quả kinh doanh hoặc phong trào thi đua của doanh nghiệp. Điều này đã tạo một động lực và sự khích lệ đáng kể cho người lao động cho người lao động trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh việc có các khoản thưởng cho người lao động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có một điều doanh nghiệp cần phải quan tâm lưu ý đó là bên cạnh chế độ thưởng thì phải đi kèm vấn đề kỷ luật doanh nghiệp.
Cần phải ban hành số quy định kỷ luật quy chuẩn để đánh vào thu nhập cũng như các khoản phạt đối với những người lao động vi phạm SVTH: Lê Hoàng Phương Nhi 10 van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Đăng Hào quy định của doanh nghiệp hoặc không hoàn thành nhiệm vụ được giao, để từ đó nâng cao trách nhiệm cũng như tạo động lực cho người lao động làm việc tốt hơn. - Trang bị thiết bị kỹ thuật cho người lao động + Để đảm bảo sức khỏe và sự an toàn cho người lao động, góp phần nâng cao năng suất lao động, hiệu quả làm việc cũng như góp phần nâng cao mức độ hài lòng của người lao động đối với doanh nghiệp, các doanh nghiệp phải trang bị các trang thiết bị kỹ thuật, an toàn lao động… cho tất cả người lao động và coi đó là một trong những nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. + Việc trang bị các thiết bị kỹ thuật, an toàn lao động… cho tất cả người lao động là một trong những điều cực kỳ cần thiết mà các doanh nghiệp nên làm.