chương 1, tác giả đã giới thiệu lí do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, kết cấu của đề tài. Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, việc đáp ứng sự hài lòng của khách hàng là điều cần thiết, đặc biệt cần xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng khi sử dụng dịch vụ cho vay KHCN của ngân hàng. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Tổng quan về dịch vụ cho vay KHCN 2.
Khái niệm hoạt động cho vay của NHTM Cho vay của NHTM được xem là một giao dịch giữa bên cấp tín dụng ( NHTM hoặc tổ chức tín dụng) và bên đi vay ( DN, KHCN hoặc các chủ thể khác) dưới điều kiện trả lại gốc và lãi theo nguyên tắc đã được thỏa thuận. Khái niệm cho vay KHCN Theo Bùi Diệu Anh ( 2020), cho vay KHCN là quá trình mà ngân hàng cung cấp vốn cho các cá nhân nhằm hỗ trợ cho việt sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của họ trong một thời gian cụ thể đã định trước. Điều này dựa trên cam kết hoàn trả cả số tiền gốc và tiền lãi theo hạn mức đã thỏa thuận. Khái niệm về chất lượng dịch vụ: CLDV là một công cụ tiếp cận khách hàng nhanh nhất giữa SPDV và nguời sử dụng dịch vụ.
Một công ty có chất lượng dịch vụ tốt sẽ cung cấp đầy đủ các SPDV cho khách hàng. Khách hàng khi mua các SPDV sẽ có những yêu cầu cụ thể, họ có có những tiêu chuẩn và kỳ vọng nhất định về cách thức cung cấp dịch vụ (Hà Nam Khánh Giao, 2018) Các nghiên cứu liên quan đến CLDV : Theo Dragan Benazic (2012) “Chất lượng dịch vụ là yếu tố chính tạo nên khả năng cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ tư vấn kinh doanh – nó giúp củng cố hình ảnh, tạo tài liệu tham khảo, thiết lập mối quan hệ kinh doanh lâu dài và giảm thiểu rủi ro mà KH cảm nhận được từ các dịch vụ đó” Theo Feigenbaum (1951) “Chất lượng là quyết định của KH dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc DV, được đo lường dựa trên những yêu cầu của KH, những yêu cầu này có thể được hoặc không được nêu ra, được ý thức hoặc 7 đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn và luôn đại diện cho mục tiêu hoạt động trong một thị trường cạnh tranh” 2. Khái niệm về sự hài lòng:. Sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ là phản ứng của khách với đối với dịch vụ được đáp ứng và đáp ứng vượt qua mong đợi, nhu cầu cụ thể của khách hàng (Hà Nam Khánh Giao, 2018) Kotler và Keller (2006), sự thỏa mãn là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm so với mong đợi của người đó, Theo đó, sự thỏa mãn có ba cấp độ sau: (1) nếu nhận thức nhỏ hơn kỳ vọng thì KH cảm nhận không thỏa mãn; (2) nếu nhận thức bằng kỳ vọng thì KH cảm nhận thỏa mãn; (3) nếu nhận thức lớn hơn kỳ vọng thì KH cảm nhận là thỏa mãn hoặc thích thú.
Theo Kotler (2001): sự thỏa mãn là mức độ của trạng thái của một cá nhân đối với việc so sánh kết quả thu được từ SPDV với những kỳ vọng của người đó. - Kỳ vọng: được hiểu là những mong đợi của con người. Nó có nguồn gốc từ nhu cầu cá nhân, kinh nghiệm trước đó và thông tin bên ngoài như quảng cáo, lời khuyên từ bạn bè, gia đình,… - Nhu cầu cá nhân: là kết quả nhận thức của mỗi cá nhân về những điều mà họ mong muốn thoả mãn như nhu cầu thông tin liên lạc, ăn uống,… Sự thỏa mãn là phản ứng của người tiêu dùng đối với việc so sánh sự khác biệt giữa những mong muốn trước đó (hoặc những tiêu chuẩn cho sự thể hiện) và sự thể hiện của sản phẩm, điều này được xem như là sự chấp nhận sau khi sử dụng SPDV Theo Bachelet (1995), sự hài lòng của KH là phản ứng cảm xúc của KH dựa trên trải nghiệm của họ với một sản phẩm hoặc dịch. Nếu đánh giá về chất lượng hàng hóa có thể dễ dàng đo lường bằng các chỉ tiêu trong sản xuất thì CLDV lại rất khó xác định.
Theo Wisniewski (2001), sự hài lòng được xem là một thái độ của KH khi họ thấy hài lòng với sản phẩm hoặc dịch vụ mà họ đã trải nghiệm. Sự hài lòng có thể 8 bắt nguồn từ việc đáp ứng những mong muốn của KH từ chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ, từ trải nghiệm mua hàng và từ sự giao tiếp và tương tác giữa KH và DN. Tuy nhiên, đây cũng là một khái niệm thu hút trong các tài liệu khoa học. Định nghĩa và đo lường CLDV đã đối mặt với nhiều thách thức và sự thống nhất, đó cũng là lý do tại sao việc hiểu và đáp ứng sự hài lòng của KH là một thử thách lớn đối với DN.
Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng “ Dựa vào khái niệm về chất lượng DV và sự hài lòng có thể thấy sự hài lòng khách hàng có vai trò tác động đối với mục tiêu, chiến lược phát triển của tổ chức, doanh nghiệp. Việc thỏa mãn KH trở thành một tài sản quan trọng trong nổ lực nâng cao chất lượng DV, giữ vững sự trung thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức, Mặc khác, KH được thỏa mãn là một yếu tố quan trọng để duy trì được thành công lâu dài trong kinh doanh và các chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm thu hút và duy trì KH” (Zeithaml và cộng sự,1996). Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng CLDV và sự hài lòng và hai khái niệm riêng biệt, nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. CLDV được xem là nhân tố quan trọng gây ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng.
Theo Cornin và Taylor (1992) “Nếu nhà cung cấp DV mang đến cho KH những sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì DN đó bước đầu làm cho KH hài lòng” 2. Các mô hình chất lượng dịch vụ 2. Mô hình chất lượng chức năng và chất lượng kỹ thuật Gronroos: Gronroos (1984) đã đề xuất mô hình giúp đánh giá chất lượng dịch vụ cho vay KHCN thông qua việc tiến hành so sánh giá trị mà KH kỳ vọng và giá trị cảm nhận của KH khi trải nghiệm dịch vụ. Mô hình này được thiết lập dựa trên 3 chỉ tiêu sau: (i) Phân biệt được chất lượng chức năng và chất lượng kĩ thuật.
Chất lượng chức năng tập trung vào mức độ tương tác giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ, trong khi chất lượng kĩ thuật liên quan đến hiệu suất và điều kiện hoạt động 9 (ii) Hình ảnh đóng vai trò quan trọng và được hình thành chủ yếu dựa trên chất lượng kĩ thuật và chất lượng chức năng của dịch vụ. Bên cạnh đó còn những yếu tố khác như truyền thông, truyền miệng (iii) Ý kiến đánh giá của khách hàng sau khi sử dụng dịch vụ và sự khác biệt giữa những ý kiến này và kì vọng về dịch vụ khi sử dụng từ phía người dùng là nhân tố quan trọng trong việc xác định chất lượng khi khách hàng trải nghiệm Hình 1 Mô hình chất lượng kỹ thuật/ chức năng Nguồn: Gronroos (1984) 2. Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL của Parasuraman: Parasuraman và cộng sự (1985) được coi là những người tiên phong trong việc nghiên cứu về CLDV một cách chi tiết đối với lĩnh vực tiếp thị với mô hình 5 khoảng cách trong CLDV. Kết quả nghiên cứu thành công đã tạo ra công cụ đánh giá chất lượng khi sử dụng dịch vụ cho người dùng.
Parasuraman và cộng sự cho rằng “ Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi ( kì vọng) của khách hàng và nhận thức ( cảm nhận) của họ khi sử dụng qua dịch vụ” 10 Hình 2 Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ Nguồn: Parasuraman và cộng sự 1985 (i) Khoảng cách 1: Là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và sự nhận thức của nhà cung cấp DV về mong đợi của khách hàng (ii) Khoảng cách 2: Là khoảng cách của sự chuyển đổi về nhận thức của bên cung cấp dịch vụ thành tiêu chuẩn của CLDV so với mong đợi của KH (iii) Khoảng cách 3: Là khoảng cách giữa các tiêu chuẩn dịch vụ với dịch vụ được cung cấp cho khách hàng được tạo ra (iv) Khoảng cách 4: Là khoảng cách giữ CLDV cung cấp và thông tin KH nhận được 11 (v) Khoảng cách 5: Là khoảng cách giữa dịch vụ và khách hàng mong đợi và dịch vụ nhận được, khoảng cách này sẽ phụ thuộc vào kết quả của 4 khoảng cách trên. Từ những luận điểm trên, có thể thấy rằng nghiên cứu về khải niệm CLDV là việc đáp ứng nhu cầu, kỳ vọng của KH. Do đó, CLDV có những đặc điểm sau: (i) Chất lượng dịch vụ được xem là mức độ hài lòng của khách hàng, Bất kì SPDV nào không có được sự hài lòng của khách hàng sẽ được coi là SPDV có chất lượng thấp (ii) Chất lượng dịch vụ được đó bằng mức độ hài lòng với việc đáp ứng như cầu của khách hàng/. Đây là nhân tố quan trọng để đánh giá 2.
Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF của Cronin và Taylor Theo Cronin và Taylor (1992), cả mô hình SERVPERF và SERVQUAL đều sử dụng 5 chỉ tiêu và 22 thuộc tính của Parasuraman để đánh giá CLDV khách hàng. Việc đo lường CLDV theo mô hình SERVPERF được coi là phương pháp thuận tiện và rõ ràng bằng cách yêu cầu KH đánh giá cảm nhận của họ về dịch vụ đã trải qua. Mô hình SERVPERF đơn giản, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian và chi phí khi thực hiện khảo sát. Theo Cronin và Taylor (1992), mô hình SERVQUAL có thể gây nhầm lẫn giữa sự hài lòng và thái độ của khách hàng.