Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Tỉnh Quảng Ninh giữ vị trí đỉnh tam giác tăng trưởng kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh). Địa phương sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn dồi dào, nổi bật là Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, bán đảo Tuần Châu cùng hệ thống di tích lịch sử và công trình văn hóa. Mặc dù lượng khách du lịch đến Quảng Ninh liên tục gia tăng theo mức sống của người dân, ngành du lịch địa phương phải đối mặt với bài toán phát triển mang tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào tài nguyên tự nhiên sẵn có mà thiếu các sản phẩm du lịch văn hóa kết hợp. Nhằm khắc phục hạn chế này và hướng tới mục tiêu phát triển du lịch quanh năm, chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã lựa chọn giải pháp tổ chức các sự kiện văn hóa quy mô lớn, trọng tâm là Lễ hội Carnaval Hạ Long thường niên nhằm khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch nhân văn phục vụ kinh doanh du lịch.
Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu bao gồm:
- Tìm hiểu về loại hình du lịch lễ hội và lễ hội du lịch, từ đó đưa ra các biện pháp tăng cường, khai thác giá trị của lễ hội phục vụ phát triển du lịch.
- Tìm hiểu về các kỳ Lễ hội Carnaval Hạ Long đã tổ chức qua các năm, đi sâu đánh giá kỳ lễ hội năm 2012, qua đó làm rõ thực trạng khai thác lễ hội phục vụ du lịch tại Quảng Ninh.
Để hoàn thành mục đích trên, nghiên cứu thực hiện ba nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến lễ hội du lịch và du lịch lễ hội.
- Nghiên cứu tổng quan về lễ hội Carnaval, đánh giá thực trạng tổ chức và khai thác Lễ hội Carnaval Hạ Long năm 2012 trên cả hai mặt tích cực và hạn chế.
- Đề xuất các nhóm kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác lễ hội phục vụ phát triển du lịch địa phương.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là cơ sở lý luận về lễ hội Carnaval, Carnaval Hạ Long, trọng tâm là Lễ hội Carnaval Hạ Long năm 2012. Phạm vi nghiên cứu về không gian diễn ra tại tuyến đường Hạ Long (từ chân cầu Bãi Cháy đến ngã ba khách sạn Bưu Điện), khu vực sân khấu bến phà Bãi Cháy và mặt nước Vịnh Hạ Long; phạm vi thời gian tập trung vào kỳ tổ chức năm 2012 gắn với Tuần Du lịch Hạ Long – Quảng Ninh (từ ngày 24/4 đến ngày 02/5/2012).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành văn hóa và du lịch:
- Khái niệm Lễ hội và cấu trúc lễ hội: Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao, cấu thành bởi hai bộ phận: phần "Lễ" (yếu tố chính, mang tính thiêng liêng, gắn với nghi thức, nhân vật được sùng bái) và phần "Hội" (yếu tố phát sinh, gồm các sinh hoạt vui chơi, diễn xướng, trò chơi dân gian).
- Quan điểm phân loại lễ hội: Tác giả trích dẫn cách phân loại của GS. Đinh Gia Khánh (phân biệt lễ hội có nguồn gốc tôn giáo và phi tôn giáo); tác giả Vĩnh Quang Lê (phân loại theo không gian: hội đền, hội đình, hội chùa); tác giả Tôn Thất Bình (phân chia lễ hội tại Thừa Thiên Huế thành 4 nhóm: tưởng nhớ vị khai canh/thành hoàng làng, tưởng niệm tổ sư nghề, tín ngưỡng tôn giáo, mùa vụ); và nhận định của GS. Ngô Đức Thịnh về tính đa chiều trong phân loại lễ hội (theo nội dung, phạm vi, thời gian tổ chức).
- Khung pháp lý điều chỉnh: Khóa luận viện dẫn Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT ngày 23/8/2001 của Bộ Văn hóa – Thông tin ban hành Quy chế tổ chức lễ hội (phân chia 4 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài) và Nghị định số 11/2006/NĐ-CP ngày 18/01/2006 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng (Điều 23 bổ sung loại hình "Lễ hội văn hóa du lịch").
- Lễ hội du lịch và Du lịch lễ hội: Sử dụng định nghĩa của tác giả Dương Văn Sáu (2004) xác định lễ hội du lịch là công cụ văn hóa đa năng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; kết hợp định nghĩa du lịch theo Luật Du lịch năm 2005 (Điều 4) và Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO). Khái niệm du lịch lễ hội được định vị là việc tổ chức tour đưa du khách đến thưởng thức các giá trị văn hóa trong thời gian diễn ra lễ hội.
- Lý luận về Carnaval: Khái quát từ nguyên thuật ngữ Latinh "Carne Levale" (ăn thịt thỏa thích) có nguồn gốc từ nghi thức trước Mùa Chay (Lent) của Kitô giáo, phân tích các đặc trưng biểu diễn đường phố, văn hóa hóa trang, mặt nạ và ý nghĩa xóa nhòa ranh giới giai tầng xã hội tại các quốc gia như Brazil, Đức, Puerto Rico.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp ba phương pháp nghiên cứu định tính và thực địa:
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ văn bản quản lý nhà nước, báo chí, mạng Internet, báo cáo của ngành du lịch và văn hóa địa phương.
- Phương pháp khảo sát thực tế: Trực tiếp tham dự kỳ Lễ hội Carnaval Hạ Long 2012, quan sát hiện trường và ghi nhận tư liệu hình ảnh về công tác tổ chức, diễu hành và các khối diễn.
- Phương pháp phân tích, so sánh: Phân tích thực trạng tổ chức Carnaval 2012 đặt trong mối tương quan so sánh với các kỳ Carnaval Hạ Long giai đoạn 2007 – 2011 và một số sự kiện văn hóa đường phố trong cả nước.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận gồm các văn bản quy phạm pháp luật, số liệu báo cáo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh, số liệu kinh tế - xã hội của thành phố Hạ Long và dữ liệu quan sát trực tiếp của tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về Lễ hội du lịch và du lịch Lễ hội
Chương 1 thiết lập khung khái niệm nền tảng, tập trung làm rõ ranh giới học thuật giữa "lễ hội du lịch" (sản phẩm sự kiện hiện đại do ngành văn hóa – du lịch kiến tạo) và "du lịch lễ hội" (hoạt động lữ hành đưa khách tiếp cận lễ hội truyền thống hoặc hiện đại). Tác giả phân tích quan hệ tương tác hai chiều:
- Tác động của du lịch tới lễ hội: Mặt tích cực là quảng bá văn hóa địa phương ra bình diện quốc tế, tạo sinh kế và nguồn thu cho cư dân bản địa qua các dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, trông giữ xe, đồng thời tái tạo nguồn vốn tu bổ di tích. Mặt tiêu cực là nguy cơ quá tải lượng khách, thương mại hóa làm xói mòn tính tôn nghiêm, biến dạng các khuôn mẫu truyền thống và gây áp lực ô nhiễm môi trường.
- Tác động của lễ hội tới du lịch: Lễ hội tạo tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc, kéo dài mùa vụ và gia tăng doanh thu lữ hành. Ngược lại, nếu khâu quản lý buông lỏng sẽ dẫn tới lộn xộn; việc tổ chức tràn lan (cả nước có khoảng 8.000 lễ hội mỗi năm theo thống kê tác giả trích dẫn) dễ gây bão hòa, làm giảm tính độc đáo của điểm đến.
- Bản chất của lễ hội Carnaval: Nghiên cứu phân tích lịch sử biến chuyển từ lễ hội tôn giáo phương Tây sang hình thái sự kiện đường phố đại chúng, nơi tính chất "hội" áp đảo tính "lễ", biểu hiện thông qua âm nhạc, khiêu vũ tập thể và hóa trang nghệ thuật.
Chương 2: Thực trạng khai thác Lễ hội Carnaval Hạ Long 2012
Chương 2 chiếm dung lượng trọng tâm, phân tích toàn diện môi trường hình thành và thực trạng tổ chức sự kiện:
- Môi trường tự nhiên và xã hội: Khảo sát các điều kiện địa lý của thành phố Hạ Long với địa hình 3 vùng rõ rệt (vùng núi chiếm 70% diện tích, vùng ven biển và vùng hải đảo); khí hậu nhiệt đới gió mùa biển (nhiệt độ trung bình 23,7°C, lượng mưa trung bình 1.832 mm/năm); tài nguyên khoáng sản lớn (>530 triệu tấn than đá, sét Giếng Đáy >39 triệu tấn, đá vôi >15 triệu tấn); Vịnh Hạ Long sở hữu 1.969 đảo trên diện tích 1.553 km2 (vùng di sản 434 km2 với 775 đảo); hệ sinh thái có 7 loài thực vật đặc hữu (Chirieta halongensis, Livisona halongensis, Chirieta hiepii...); hạ tầng giao thông gồm Quốc lộ 18, cụm cảng nước sâu Cái Lân, cảng B12; dân số Hạ Long năm 2010 là 221.580 người với 16 dân tộc anh em.
- Lược sử Carnaval Hạ Long giai đoạn 2007 – 2011:
- Carnaval 2007 ("Đêm Hạ Long huyền ảo"): Diễn ra từ 28/4 – 2/5/2007, huy động 50 tập đoàn, doanh nghiệp tài trợ xã hội hóa; khuyết điểm là kịch bản, đạo diễn và nhân sự mang nặng tính "nhập ngoại", người dân chưa tham gia với vai trò chủ thể.
- Carnaval 2008 ("Hạ Long kì quan thiên nhiên thế giới"): Kết hợp biểu diễn đường phố, trên biển và trình diễn máy bay trên vịnh; đón 4,2 triệu lượt khách toàn tỉnh; hạn chế là kịch bản biểu diễn lặp lại phong cách nước ngoài, rác thải sau lễ hội chưa được xử lý triệt để.
- Carnaval 2009 ("Kì quan Hạ Long – điểm hẹn"): Diễn ra ngày 25/4/2009 với 1.500 diễn viên, mang lại doanh thu khoảng 200 tỷ đồng trong dịp lễ; tồn tại tính chất sân khấu hóa nặng nề, công chúng chủ yếu thụ động đứng xem.
- Carnaval 2010 ("Hạ Long hướng về Thăng Long"): Tổ chức tối 01/5/2010 với khán đài 6.000 chỗ, giảm thiểu phần nghi lễ hành chính, không phát giấy mời đại biểu rộng rãi nhằm ưu tiên người dân, huy động 500 vũ công samba.
- Carnaval 2011 ("Kì quan Hạ Long lung linh sắc màu"): Tiếp tục duy trì quy mô diễu hành đường phố nhưng chưa khắc phục triệt để hiện tượng chen lấn, quá tải dịch vụ.
- Chi tiết kỳ Lễ hội Carnaval Hạ Long 2012:
- Chủ đề và thời gian: Chủ đề "Quảng Ninh – Hội tụ và Lan tỏa", diễn ra lúc 20h00 ngày 01/5/2012 trong khuôn khổ Tuần Du lịch Hạ Long – Quảng Ninh (24/4 – 02/5/2012), kết hợp sự kiện tổ chức New7Wonders trao biểu tượng Kỳ quan thiên nhiên thế giới cho Vịnh Hạ Long.
- Quy mô tổ chức: Huy động 3.800 diễn viên (đa số là nghệ nhân, nhân dân địa phương và sinh viên các trường văn hóa nghệ thuật), sân khấu biểu diễn rộng gần 1.200 m2, khán đài chia 3 khu với gần 7.000 chỗ ngồi. Tổng đạo diễn là NSND Lê Tiến Thọ, cố vấn thiết kế là NTK Minh Hạnh, phối hợp nhóm biên đạo Hà Nội và Quảng Ninh.
- Tổ chức không gian biểu diễn:
- Không gian 1 (Sân khấu trung tâm, 60 phút): Phần lễ 12 phút (múa hát "Rồng thiêng hội tụ", phát biểu khai mạc, bấm nút pháo hoa điện); phần trình diễn nghệ thuật 48 phút với 11 tiết mục (7 tiết mục trong nước, 4 tiết mục quốc tế của Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippines, Lào) với 263 diễn viên trong nước gồm NSND Quang Thọ, Hồ Quỳnh Hương, Ngọc Anh...
- Không gian 2 (Diễu diễn đường phố, 55 phút): Gồm 8 xe hoa, 26 nhóm diễn với âm nhạc 14 số, phối hợp 500 hoạt náo viên thanh niên.
- Không gian 3 (Mặt biển Vịnh Hạ Long): 100 tàu du lịch sơn trắng (9 tàu rồng) di chuyển đội hình kết hợp chiếu sáng nghệ thuật; bắn pháo hoa 15 phút từ phút thứ 53 kết nối sang 60 phút vũ hội đường phố.
| Chủ đề diễu diễn |
Thời lượng âm nhạc |
Lực lượng nhân sự |
Thành phần khối diễn chính |
Nét văn hóa bản địa tái hiện |
| Chủ đề 1: Rồng thiêng hội tụ |
06 phút |
496 người |
15 người mẫu/hoa hậu, nhóm múa rồng (100 người), nhóm công chức (100 người), nhóm cờ trống chiêng (100 người), nhóm diễn chèo (180 người) |
Hội xuân làng Chèo vùng Đông Triều |
| Chủ đề 2: Kỳ quan Rồng hạ |
07 phút |
313 người |
12 người mẫu, nhóm Tiên nữ Hạ Long (100 người), nhóm Cư dân biển cả (200 người) |
Huyền thoại Hạ Long, nhân cách hóa sinh vật biển |
| Chủ đề 3: Du lịch miền di tích - Lễ hội |
07 phút |
403 người |
18 người mẫu, nhóm mặt nạ (100 người), nhóm rước Tiên Công (100 người), nhóm rước đền Trần Quốc Nghiễn (100 người), nhóm đánh vật (100 người) |
Lễ hội Đền Trần Quốc Nghiễn, lễ rước Cụ Thượng Tiên Công (Quảng Yên), trò chơi đánh vật |
| Chủ đề 4: Du lịch biển đảo |
07 phút |
341 người |
18 người mẫu, nhóm gõ phàng (120 người), nhóm đua tài (80 người), nhóm chải sào (80 người), nhóm đón dâu (60 người) |
Hát gõ phàng ngư dân, đua chải dầm Quan Lạn (Vân Đồn), chải sào đảo Hà Nam, đón dâu vùng chài |
| Chủ đề 5: Du lịch miền "vàng đen" |
05 phút |
363 người |
18 người mẫu, nhóm Ngọn lửa hồng (120 người), nhóm Những ngôi sao đêm (120 người), nhóm Suối than (120 người) |
Lao động sản xuất của công nhân ngành than |
| Chủ đề 6: Sắc màu văn hóa – du lịch |
08 phút |
541 người |
18 người mẫu, nhóm sơn nữ (80 người), nhóm dân tộc Dao (180 người), nhóm Sán Chay (80 người), nhóm Tày (80 người), nhóm Sán Dìu (120 người) |
Nhảy Phùn Voòng, múa Chuông (người Dao); múa Tắc xình (Sán Chay); diễn xướng Tày; múa Hành Quang, Lễ Đại Phan (Sán Dìu) |
| Chủ đề 7: Du lịch văn hóa tâm linh |
08 phút |
603 người |
18 người mẫu, nhóm nhà sư (300 người), nhóm múa dâng hoa/tống thần (120 người), nhóm trẩy hội (180 phật tử) |
Hát Nhà tơ (hát Cửa đình), múa Bông vùng Đầm Hà, Móng Cái; văn hóa Phật giáo Trúc Lâm |
| Chủ đề 8: Hội tụ và lan tỏa |
07 phút |
301 người |
Khối nghệ thuật Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippines, Lào, Thái Lan (100 người); du khách quốc tế (100 người); nhóm múa cờ (100 người) |
Giao lưu nghệ thuật quốc tế |
- Đánh giá thực trạng khai thác năm 2012:
- Mặt tích cực: Tỉnh ủy và UBND tỉnh trực tiếp chỉ đạo; công tác xã hội hóa thu hút trên 20 tỷ đồng tài trợ; an ninh trật tự được giữ vững; bản sắc văn hóa địa phương được khai thác sâu sắc thông qua việc đưa chính người dân, nghệ nhân vào biểu diễn; lượng khách và doanh thu tăng trưởng đột biến.
- Mặt tiêu cực: Áp lực quá tải cơ sở hạ tầng lưu trú tại khu du lịch Bãi Cháy; tình trạng tắc nghẽn giao thông cục bộ; vấn đề thu gom rác thải sau lễ hội tại các tuyến đường trung tâm.
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp khai thác Lễ hội Carnaval Hạ Long phục vụ phát triển du lịch
Tác giả đề xuất các nhóm kiến nghị và giải pháp có cấu trúc phân định theo ba nhóm chủ thể quản lý:
- Đối với ngành du lịch Quảng Ninh: Xây dựng đề án quy hoạch tổng thể sản phẩm du lịch Vịnh Hạ Long; tham mưu hoàn thiện văn bản quản lý phương tiện thủy chở khách; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ nhân lực du lịch; mở rộng các tuyến tham quan mới gắn kết với không gian lễ hội.
- Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước về lễ hội; thẩm định chất lượng nghệ thuật kịch bản biểu diễn; giám sát chặt chẽ hoạt động thu phí, kiểm soát giá dịch vụ du lịch trên địa bàn trong tuần cao điểm.
- Đối với Ban tổ chức Lễ hội:
- Tăng cường quản lý và tổ chức an ninh trật tự: Bố trí các chốt phân luồng giao thông từ xa trên Quốc lộ 18, đảm bảo an toàn phòng chống cháy nổ và kiểm soát khán đài.
- Quy hoạch không gian tổ chức: Tách bạch rõ ràng luồng di chuyển của các khối diễu hành và luồng khán giả theo dõi trên đường Hạ Long nhằm giảm thiểu ùn tắc.
- Nâng cao tính chuyên nghiệp: Chuẩn hóa công tác phối hợp giữa các nhóm biên đạo Hà Nội và Quảng Ninh; đầu tư đồng bộ hệ thống âm thanh, ánh sáng trên toàn tuyến diễu hành đường phố.
- Tuyên truyền, vận động cộng đồng: Nâng cao ý thức ứng xử văn minh du lịch cho cư dân bản địa; khuyến khích nhân dân tham gia lễ hội với tinh thần chủ thể giao lưu văn hóa.
- Tăng cường bảo vệ môi trường: Bố trí bổ sung các thùng rác lưu động dọc tuyến đường Hạ Long và khu vực bãi biển Bãi Cháy; huy động lực lượng thanh niên tình nguyện thu dọn vệ sinh ngay sau khi kết thúc chương trình.
- Quảng bá, xúc tiến: Phối hợp với các cơ quan báo chí trong và ngoài nước; đẩy mạnh quảng bá hình ảnh di sản - kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long ra thị trường quốc tế.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế - du lịch đạt được trong đợt tổ chức Tuần Du lịch Hạ Long – Quảng Ninh 2012 và 6 tháng đầu năm 2012:
| Chỉ tiêu thống kê |
Đơn vị tính |
Kết quả 6 tháng đầu năm 2012 |
Tỷ lệ tăng trưởng so với cùng kỳ 2011 |
| Tổng lượt khách du lịch |
Triệu lượt khách |
4,20 |
+12% |
| Trong đó: Khách quốc tế |
Triệu lượt khách |
1,30 |
+8% |
| Khách lưu trú |
Triệu lượt khách |
1,60 |
+18% |
| Khách lữ hành |
Lượt khách |
174.600 |
+11% |
| Khách tham quan di tích lịch sử |
Lượt khách |
>2,00 |
+21% |
| Tổng doanh thu du lịch |
Tỷ đồng |
2.224 |
+10% |
Trong tuần lễ du lịch (24/4 đến 02/5/2012), toàn tỉnh ghi nhận 133.545 lượt khách tham quan Vịnh Hạ Long với 4.263 chuyến tàu xuất bến (khách quốc tế đạt 39.032 lượt). Ngày 29/4/2012 có trên 24.000 lượt khách, trong đó hơn 5.000 khách quốc tế với 800 chuyến tàu thăm vịnh. Ngày 30/4/2012 xác lập mức kỷ lục với 25.102 lượt khách tham quan vịnh (hơn 5.000 khách quốc tế) và 800 lượt tàu xuất bến; công suất phòng tại các khách sạn, nhà nghỉ tại Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả đạt 100%.
Khóa luận tự xác định các đóng góp chính:
- Hệ thống hóa toàn diện quá trình chuyển biến về phương thức tổ chức Carnaval Hạ Long từ năm 2007 đến năm 2012.
- Chứng minh bước chuyển căn bản trong tư duy tổ chức sự kiện năm 2012: chuyển từ mô hình "sân khấu hóa nhập ngoại" sang mô hình "lễ hội đường phố mang bản sắc văn hóa dân tộc", biến tài nguyên văn hóa các dân tộc Dao, Tày, Sán Chay, Sán Dìu, Kinh thành sản phẩm du lịch độc đáo.
- Đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức mang tính thực tế cho các cơ quan quản lý nhà nước và ban tổ chức lễ hội tại Quảng Ninh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Tác giả chủ yếu tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ khảo sát thực tế và phân tích tài liệu thứ cấp; chưa triển khai các kỹ thuật điều tra xã hội học bằng bảng hỏi chọn mẫu quy mô lớn để lượng hóa mức độ thỏa mãn của du khách.
- Dữ liệu tập trung chuyên sâu vào diễn biến sự kiện năm 2012, chưa có điều kiện khảo sát dài hạn sự biến động về hành vi tiêu dùng du lịch của du khách trong các chu kỳ sau khi Vịnh Hạ Long đón nhận danh hiệu kỳ quan.
Hướng mở nghiên cứu tiếp theo được xác định là:
- Mở rộng khảo sát định lượng cơ cấu chi tiêu và mức độ hài lòng của du khách quốc tế đối với các sản phẩm dịch vụ phụ trợ trong lễ hội.
- Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế hợp tác công - tư trong quản lý và tái đầu tư kinh phí xã hội hóa cho các sự kiện du lịch lễ hội quy mô cấp vùng.
Giá trị tham khảo
Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Người học ngành Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản lý Văn hóa: Cung cấp tư liệu chi tiết về quy trình tổ chức, phân luồng nhân sự và thiết kế kịch bản cho một sự kiện lễ hội đường phố cấp tỉnh kết hợp ba không gian (sân khấu, đường phố, mặt nước).
- Cán bộ quản lý sự kiện và xúc tiến du lịch địa phương: Tham khảo phương thức huy động xã hội hóa kinh phí (thu hút trên 20 tỷ đồng tài trợ năm 2012) và kinh nghiệm đưa nghệ nhân, đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp tham gia trình diễn di sản sống tại không gian công cộng.
Câu hỏi thường gặp
1. Lễ hội Carnaval Hạ Long 2012 mang chủ đề gì và được tổ chức tại những không gian nào?
Sự kiện mang chủ đề “Quảng Ninh – Hội tụ và Lan tỏa”, chính thức diễn ra vào 20h00 ngày 01/5/2012. Lễ hội được dàn dựng đồng bộ trên 3 không gian: Không gian 1 tại sân khấu trung tâm bến phà Bãi Cháy; Không gian 2 diễu diễn trên tuyến đường Hạ Long (từ chân cầu Bãi Cháy đến ngã ba khách sạn Bưu Điện); và Không gian 3 trên mặt nước Vịnh Hạ Long.
2. Quy mô nhân sự và cơ sở vật chất phục vụ biểu diễn Carnaval 2012 được bố trí ra sao?
Chương trình huy động 3.800 diễn viên (lực lượng nòng cốt là nghệ nhân, nhân dân các địa phương trong tỉnh, học sinh sinh viên trường văn hóa nghệ thuật và 3 đoàn quốc tế Hàn Quốc, Trung Quốc, Lào). Sân khấu trung tâm có diện tích gần 1.200 m2; khán đài gần 7.000 chỗ ngồi chia làm 3 khu; đoàn diễu hành đường phố gồm 8 xe hoa phối hợp 26 khối diễn và 500 hoạt náo viên; trên biển có 100 tàu du lịch sơn trắng phối diễn ánh sáng.
3. Khối diễu diễn đường phố tại Carnaval Hạ Long 2012 đã tái hiện những nét văn hóa bản địa đặc trưng nào?
Khối đường phố gồm 8 chủ đề tái hiện: Hội xuân làng Chèo Đông Triều; Lễ hội Đền Trần Quốc Nghiễn; Lễ hội Tiên Công (Quảng Yên); hát Nhà tơ (hát Cửa đình) vùng Đầm Hà, Móng Cái; tục đua chải dầm Quan Lạn (Vân Đồn); chải sào đảo Hà Nam; cảnh đón dâu vùng chài; sản xuất của thợ mỏ ngành than; sinh hoạt dân tộc Dao (nhảy Phùn Voòng, múa Chuông), dân tộc Sán Chay (múa Tắc xình), dân tộc Tày và Lễ Đại Phan của người Sán Dìu.
4. Chỉ số tăng trưởng của du lịch Quảng Ninh trong 6 tháng đầu năm 2012 đạt mức độ nào?
Trong 6 tháng đầu năm 2012, tổng lượt khách du lịch đạt trên 4,2 triệu lượt (tăng 12% so với cùng kỳ 2011), trong đó khách quốc tế đạt 1,3 triệu lượt (tăng 8%), khách lưu trú đạt 1,6 triệu lượt (tăng 18%), khách lữ hành đạt 174.600 lượt (tăng 11%), khách tham quan di tích đạt trên 2 triệu lượt (tăng 21%). Tổng doanh thu du lịch đạt 2.224 tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2011.
5. Sự khác biệt căn bản trong ý tưởng dàn dựng của Carnaval 2012 so với kỳ đầu tiên năm 2007 là gì?
Nếu như kỳ Carnaval 2007 mang tính chất "nhập ngoại" gần như toàn bộ từ đạo diễn, kịch bản, trang trí đến con người và còn nặng tính sân khấu hóa xa cách công chúng, thì kỳ Carnaval 2012 dưới sự chỉ đạo của Tổng đạo diễn NSND Lê Tiến Thọ đã chủ động tự chủ ý tưởng, lấy việc tôn vinh bản sắc văn hóa các dân tộc bản địa Quảng Ninh làm hạt nhân và huy động tối đa nhân dân địa phương trực tiếp làm chủ thể biểu diễn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Nga đã phân tích có hệ thống thực trạng tổ chức và khai thác kinh doanh Lễ hội Carnaval Hạ Long năm 2012 gắn với bối cảnh Vịnh Hạ Long đón nhận danh hiệu Kỳ quan thiên nhiên thế giới. Công trình cung cấp số liệu thực tế về quy mô 3.800 diễn viên, 8 chủ đề diễu hành và các chỉ tiêu tăng trưởng khách du lịch trong 6 tháng đầu năm 2012. Đây là tài liệu phản ánh bước chuyển biến thực tiễn trong công tác bản địa hóa lễ hội du nhập, phục vụ phát triển sản phẩm du lịch văn hóa bền vững cho tỉnh Quảng Ninh.