phần mở đầu ông đã nêu đến mối quan hệ giữa nhà cửa với tôn giáo tín ngưỡng, điều đó dẫn đến mối quan hệ vẻ việc lựa chon vị trí đất dai để xây dựng nhà, sự cần thiết của việc thờ ma, sự quan trọng vẻ việc chọn ngày tốt đẹp để tìm kiếm và chọn lọc vật liệu xây dựng. Năm 1974 - 1975, đã có hai nghiên cứu sinh nước Pháp: Sophie Clement- Charpentier va Pierre Clenment (SPC) quan tâm nghiên cứu nhà ở Lào trong hai khu vục cách xa nhau khoảng 425 km như: vùng Viêng Chăn (Thủ đô Viêng Chăn và tỉnh Viêng Chăn) và ving Luang Prabang. Trong quyén sách đã trình bày so sánh Nhà ở người dân Lào xưa trong khu vực Viêng chăn va Luang Prabang. Đầu tiên hai nghiên cứu sinh được minh họa mặt bằng tổng thể, mặt bằng, mặt cắt và mặt đứng của mọi ngôi nhà; sau đó họ phân tích được phân loại của nhà ở trong từng địa phương; tiếp theo họ phân tích về hệ thống sắp xếp diện tích của ngôi nhà va ban lang trong hai khu vực đó, về mặt phương pháp xây dựng nhà họ được quan tâm đặc biệt đến kỹ thuật và sự cúng lễ Tháng 8 năm 2006, Vira Anolac đã viết về đề tài "Đặc điểm kiến trúc nhà ở truyền thống của nước CHDCND Lào".Ì Ông đã sưu tầm trình bày về đặc điểm nhà ở của mỗi dân tộc của Lào.
Ngày 2 tháng 12 tháng 1995 ph cổ LPB được UNESCO công nhận là Di sản văn hoa thé giới. Đề quản lý LPB về công tác quản lý, bảo tồn và phát huy những giá trị nghệ thuật kiến trúc, lịch sử văn hóa, phong cảnh thiên nhiên của thành phó. Xuất phát từ nhu cầu cần thiết đã nêu ở trên và thực tế hiện nay, tôi đặt ra đề tài nghiên cứu luận văn: “ĐÁNH GIÁ ĐẶC DIEM KIEN TRUC NHA SÀN Ở PHÓ CÔ LUANG PRABANG”. ‘Van dé dat ra rit bức xúc, làm sao có được sự hòa nhập giữa cái mới và cái cũ.
Công tác bảo tồn tôn tại và phát triển trong xã hội đương đại đối với khu phố cổ Luang Prabang phải được tiến hành một cách nghiêm túc, khoa học trong đó phải xét đến yếu tố sử dụng khu phố này. Quay lại đánh giá những di sản kiến trúc nhất là nhà sàn ở khu phố cổ Luang Prabang; từ kiến trúc đến sử dụng bên trong, tìm hiểu phương thức sinh hoạt xưa và nhu cầu trong giai đoạn mới, qua công trình nghiên cứu này. 8 nin 206, 3951 en nbchine [3] Tapeh ME Kong (Mekong Jour hing LŨ} SPC-Hon Lo 13-4) Tome Voyage Mục tiêu nghiên cứu ~ Tổng kết đặc điểm nhà sản tại khu phố cổ Luang Prabang. ~ Đánh giá kiến trúc nhà sản tai khu phố cỏ Luang Prabang.
Đối tượngvà phạm vỉ nghiên cứu ~ Về không gian: Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu các công trình nhà sàn nằm trong khu vực bảo tồn (Zpp-Ua: Conservation Zone Urban central Area). ~ Về thời gian: tập trung sưu tầm các công trình kiến trúc nhà sàn đã được xây dựng từ năm 1900 đến năm 1999. $ Phương pháp nghiên cứu ~ Điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng của các ngôi nhà sản. ~ Qui nap biện chứng ~ §o sánh, đối Hình A.1: Nhà sàn truyền thông ở thành thi LPB ‘Nguén: SPC-L'Habitation Lao B.
PHAN NOI DUNG CHUONG 1 TONG QUAN VE NGHIEN CUU KIEN TRUC NHA SAN PHO CO LUANG PRABANG 1. Khái quát chung về phố cổ và kiến trúc nhà san Luang Prabang a— Đặc điểm vị trí địa lý Phó cô LPB cách thủ đô Viêng Chăn khoảng 425 km vẻ phía Bắc, nếu đi bằng ô tô sẽ mất thời gian khoảng 7 - 8 tiếng đồng hồ theo quốc lộ 13 hướng Bắc và qua các huyện như: Vãng Viêng, Ka Sỉ (tinh Viêng Chăn); sau đó đến ngã ba Phu Khun (huyện Phu Khun) từ ngã ba Phu Khun rễ tay trái khoáng 120 km đến noi tinh Luang Prabang. Tinh Luang Prabang nim 6 phia Bic mién Trung Lao, von là kinh đô của vương quốc Lan Xang, vương quốc đầu tiên của đắt nước Lào; là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội và du lịch của 6 tỉnh miền bắc của Lào. Có đường biên giới như: phía Bắc giáp tỉnh Phong Xa Ly va nước Việt Nam (tinh Điện Biên và Sơn La), phía Nam giáp tỉnh Viêng Chăn, phía Đông giáp tỉnh Hua Phan vi Xigng Khoảng và còn phía Tây giáp tỉnh U Đôm Xay và Xay Nha Bu Ly (Hình: 1.) Địa hình của thành phố LPB là một vùng đồi núi có sông Mê Kông chạy qua giữa tỉnh, là nơi gặp nhau của hai con sông Nam Khan và sông Mê Kông, hai dòng sông như một bức tường thành nước để bảo vệ thành phố cỗ nay.
LPB có những ngọn đồi có rừng che phú và những rặng núi nhấp nhô bám xung quanh như: núi Thạo (Phu Thạo), núi Nang (Phu Nang), núi Xạng (Phu Nang), núi Xoang (Phu Nang) và còn có những đồng bằng ven sông, như (hung lũng bằng phẳng có thể cấy cày. Chúng có vai trò quan trọng trong việc sản xuất lương thực cho tinh nay. Địa hình LPB nỗi bật với vùng núi hùng vĩ ở phía Bắc, với núi Phu Si 6 trung tim LPB đặt trên đinh núi là tháp Chom Si, đã trở thành biểu tượng đạo Phật của nhân dân LPB nói riêng và nhân dân Lào nói chung (Hình: 1.2) LPB có diện tích tự nhiên là 16 875 kmỶ, trong đó núi chiếm hơn 80%, bao gồm I1 huyén nhu: Luang Prabang, Chom Phét, Pac Ú, Nam Bạc, Ngoi, Nan, Phu Khun, Phôn Xay, Xiêng ngân, Pạc Xeng, Viêng Khăm và bao gồm 852 Bản làng, với dân số khoảng 463,485người, với bình quan là 28 người/1 km b. — Đặcđiểm dinew Trước đây hàng ngàn năm trên lãnh thổ Lào đã có người cỗ sơ sinh sống.
Mặc dù công tác khảo cô chưa được tiến hành một địa bàn có hệ thống đây đủ nhưng qua một số hiện vật đã khai quật được có thể khẳng định Lào là một địa bàn có con người tồn tại và phát triển qua các thời kỳ đồ đá, đồng, sắt. Phố cổ LPB một thời là kinh đô của Vương quốc Lan Xang (Triệu voi). Thành cỗ 1200 năm này đã từng chứng kiến 63 triều vua, từ Khủn Lo đến Sỉ Sạ Vang Vặt Tha Na. LPB là một vùng đất có những tộc người Lào đã sinh sống từ rất sớm, chủ yếu là nhóm.
người Lào Lùm, Lào Thơng, Lào Xủng và một số người kiều. Những tộc người đã cùng sinh sống hòa hợp với nhau từ lâu đời. Điều đó có thẻ nhận biết được qua những kết quả về công trình kiến trúc nhà ở, di tích chùa chiền, lồi sống và văn hóa của con người ở nơi đây. 'Nhóm tộc người Lào Lùm gồm các tộc sinh sóng ở các vùng thấp thuộc ngôn ngữ hệ Lao - Tay (Thái), chiếm số lượng lớn nhất ở nước Lào nói chung và ở LPB nói riêng.
Họ hàng của họ gồm các tộc: Lào, Thay hoặc Phou Thay (Thái đen, Thái đỏ, Thái trắng), Phuôn, Lự, Nhuôn v.Tuy có nÏ tộc với tên gọi khác nhau nhưng nhìn chung nhóm Lào Lùm có nhi đặc điểm giống nhau. Hầu hết các tộc thuộc nhóm Lào Lùm đều lập bản mường ở vùng đồng bằng, dọc sông Mê Kông, các phụ lưu, thung lũng, nhing ving tring trên cao nguyên.1: Ban đồ tỉnh LPB & nước CHDCND Lào Ngudn: PSMV Hinh 1.2: Phối cảnh tổng thẻ phé co LPB Nguan: PSMV Nhóm tộc người Lao Thong (Kho Mu) thuộc ngữ hệ Mon - Khme, sinh sống trên những vúng sườn đồi, núi, cao nguyên. Gồm có các tộc: Khơ Mụ (Khơ Mụ Khoen, Khơ Mụ Lu), Khơ Bít, Phoong, Puộc, Ka Tang, Pa C6, Ta Oi, La Vén, La Ve, Xec, Kạ Tu v. Các tộc thuộc nhóm Lào Thơng cư trú rai rác trên địa bàn rộng lớn suốt từ Bắc xuống Nam tại các miễn rừng, triền núi, cao nguyên dọc theo các con sông suối nhỏ.
Người Lào Thơng cũng ở nhà sản, cột gỗ thưng phên tre nứa hoặc gỗ thưng thấp hơn nhà sàn người Lào Lim. Nhóm tộc Lào Xing (Hì tông) gồm những tộc cư trú trên những rẻo cao, đỉnh núi, thuộc ngữ hệ Mẹo - Dao, Tạng - Miễt gdm có các tộc: Hmông, Dao, Lô Lô, Hà Nhì, Mu Sơ. Tuy đã cư trú trên địa bản bản Lào hàng thể kỷ nhưng theo lịch sử Lào thì nhóm Lào Xủng xuất hiện sau nhóm Lào Lùm và Lào Thơng. Người Lào Xủng thường sống trên những ngọn núi cao từ 1.000 m trở lên, nơi khí hậu mát mẻ về mùa nóng, giá rét về mùa khô, nguồn nước tuy không sẵn nhưng có đất đai rộng lớn đẻ khai, phá.
Do ở trên những ngọn núi cao nên người Lào Xủng làm nhà ở thấp trên mặt đất, bốn bề thưng ván để che gió. Bản làng được xây dựng trên những mỏm núi cheo leo Dân cư LPB gồm có Lào Lùm khoảng 148.696 người, Lào Thơng có thể nói họ chiếm số lượng lớn nhất tới 183.910 người và Lào Xủng gồm có 69.758 người, còn người ngoại kiều có khoảng 305 người 5Ì œ— Đặcđiểm kinhtế Sự phong phú về địa hình cùng với điều kiện khác biệt về tự nhiên và vị trí địa lý khiến cho cơ cấu kinh tế LPB cũng phong phú da dạng. Tinh LPB có thể làm cho kinh tế cho sự phat triển liên tục với mức trung bình là 7,6%/năm, so với mục tiêu chung trong cả nước đã đạt được theo kế hoạch, tổng bình quân của sản phẩm trong nước (GDP) đạt được 1,642 tỷ kíp, bình quân đầu người la 3558. Trong đó tông bình quân của nông phẩm và lâm sản dat 789 ty kíp, chiếm 48% ciia GDP, tăng 4.
Tổng bình quân của sản phẩm công nghiệp đạt được 279 ty kíp, chiếm 17% của GDP, tăng 7%. Tổng bình quân từ các hàng hóa dich vụ đạt 575 tỷ kíp, chiếm 35% của GDP, tăng 10%. Tổng đầu tư 1,047 tỷ kíp 1 ~ Nông nghiệp- Lâm nghiệp Tinh LPB la mt tinh có diện tích ruộng nước hạn chế, nhưng cũng đã phán đấu sản xuất lương thực để đạt được theo mục tiêu đề ra, mở rộng diện tích ruộng nơi nào mà có điều kiện, song song với việc giảm phá rừng làm nương. Việc sản xuất gạo mỗi năm đạt được mức trung bình 70% của tiêu dùng trong tỉnh, và còn 30% đã trồng cây nông sản khác và còn lại phải nhập từ các vùng khác.
Tinh LPB diy mạnh việc sản xuất hàng hóa khác như: nông sản, rau xanh, hoa quả và cây công nghiệp v. để phục vụ cho việc tiêu dùng trong tỉnh và xuất khẩu, làm cho việc sản xuất hàng hóa của các gia đình nhân dân trở thành phong trào buôn bán. Chính quyền tỉnh LPB đã ủng hộ nhân dân nuôi các loại con vật, làm cho trang trại vật nuôi có sự phát triển và được xuất khẩu.