mở đầu thập kỷ 80 mới chỉ có 49% dân sô' được cấp nước sạch, đến cu ối th ập k ỷ tãng lên 69%.[65] Tại các nước đang phát triển ở khu vực Tây Thái Bình dương, qua thập kỷ nước đã có thêm 88 triệu dân đô thị và 301 triệu dân nòng thôn đ ược c ấp n ước s ạch. Như vậy số dân trong khu vực được cấp nước sạch đã tãng từ 15-100%.[68] Năm 1989 có 57% dân số Trung Quốc được cấp nước sạch, Lào là 42%, Malaixya 100% ở thành thị và 69% ở nông thôn, Tonga là 100%. [63] 4 Theo thống kê của WHO và quỹ nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF) năm 1993 có 61% dân số sống ở nông thôn và 26% dân số sống ở thành th ị của các n ước đang phát triển không được cung cấp nước sạch. Điểu đó gây nguy cơ nghiêm trọng cho s ức kho ẻ con người.
Ban đầu ch ủ y ếu dân s ử d ụng nước sông, suối không đảm bảo vệ sinh. Sau khi dự án tiến hành đã có 14,1% dân chúng được cung cấp nước sạch bằng hệ thống đường ống dẫn nước. Đến tháng 12 năm 1986 tăng lên 38,2% và tại 150 làng trọng điểm của dự án ở quận Mohale’s Hoek có 43,4% dân được cung cấp nước sạch.[58] Việt Nam là một nước đang phát triển, 80% dân số sống ở nông thôn nên vi ệc cung cấp nước sạch còn gặp nhiều khó khăn. Tại hội ngh ị VSMT các t ỉnh phía b ắc năm 1987 đã tổng kết tình hình cung cấp nước qua các năm như sau: năm 1945 có 9,2 h ộ /Igiêhg nước, năm 1975 trung bình 3 hộ/lgiêhg nước, năm 1985 là 2,5 h ộ/gi ếng n ước.972 triệu giếng (kể cả loại qui đổi), nếu tính bình quân nhân khẩu trong gia đình nông thôn là 6,5 người/hộ thì ở thời điểm đó bình quân 2 hộ/giêhg nước.
Tuy nhiên một số vùng có nhiều giếng hơn, tính bình quân là 1,1 h ộ/gi ếng n ước, Lê Ngọc Bảo, 1989.[4] Chính phủ Việt Nam đề ra chương trình cung cấp nước sạch nông thôn với mục tiêu phấn đấu đến năm 2.000 có 80% dân số nông thôn đ ược cung c ấp nước sạch.[18] Trong thập kỷ cung cấp nước, Việt Nam được sự giúp đỡ của UNICEF, chương trình nước sạch nông thôn đã khoan được trên 50.000 giếng n ước ph ục v ụ khoảng 7,5 triệu dân nông thôn. Theo Hoàng Đình Hồi, tính đến năm 1990 có 60% dân số nông thôn được cung cấp nước giếng các loại. [21] Ó khu vực đô thị, tính đến năm 1990 số đô thị có n ước máy là 119 trên t ổng s ố 251 điểm đò thị trong cả nước. Tính trên tổng số dân đô thị được cấp nước máy thì toàn quốc mới đạt 58,5% vào năm 1992.
[1] Theo qui định, một 5 ngày một dân đô thị tối thiêủ phải được cung cấp 60 lít nước cho sinh hoạt, Khu đô thị Việt Nam bình quân được cung cấp 50 lít một ngày cho một người. Tuy nhiên tại một số thành phố lớn điều kiện cấp nước khá hơn. Hà Nội bình quân cung cấp được 100 lít nước/ngày/người, tại thành phố Hồ Chí Minh bình quân đạt mức 200 lít nước/ngày/người, Nguyễn Huy Nga, 1993. [31] Theo Nguyễn Đức Khiển, Nguyễn Đình Sơn, cs tại thời điểm xảy ra vụ dịch t ả tháng 5 năm 1992 tại Thừa Thiên Huế, tình hình cung cấp n ước c ủa nhà máy n ước cho dân thành Huế chỉ đạt 30% ở mức 40 lít/người/ngày.
Còn lại chủ yếu dân sử dụng nước bề mặt trong đó có cả nguồn nước sông Hương bị ô nhiễm nặng để ăn uống, tắm rửa. [23] Lê Thê' Thự, nghiên cứu tình hình cung cấp nước tại khu vực đổng bằng sồng Cửu Long (ĐBSCL) cho thấy năm 1986 có 6,2% hộ dùng nước an toàn, năm 1991 tăng lên 27,71%. Tại thời điểm năm 1992 có 13-15% số dân vùng đô thị được cung cấp nước máy, 9-12% số dân nông thôn được cung cấp nước giêhg, 75-80% số dân còn lại sử dụng các nguồn nước khác, chủ yếu là nước bề mặt (ao hồ, sông ngòi, kênh rạch và nước mưa) [45, 46] Thái Bình là một tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng, năm 1994, qua điều tra việc sử dụng nước của dân, các tác giả Đỗ Quốc Thái, Khổng Thị Hơn đã có kết quả là 16% hộ gia đình dùng nước mưa; 42,6% hộ dùng nước giếng;, 39,4% hộ dùng nước ao hổ sông; 2% hộ dùng nước máy. [41] Cũng tại Thái Bình, năm 1997, Ngô Thị Nhu cho biết ở khu vực nông thôn có 50% hô dùng nước mưa; 20,4% hộ dùng nước giếng khơi; 11,3% hộ dùng nước giếng khoan; 17,32% hộ dùng nước giếng làng [33] Các tác giả Đặng Phương Kiệt, Nguyễn Thị Hoài Đức, cs (1992) nghiên cứu nguồn nước ăn uống, tắm rửa của nhân dân hai huyện Kiêh Xương (Thái Bình) và Cai Lây (Tiền Giang) kết quả như sau: Huyên Kiến Xương nguồn nước ăn gổm 35,2% hộ dùng nước mưa; 20,4% hộ dùng nước giếng; 44,4% hộ dùng nước ao và sông.
Nguồn nước tắm rửa có 41% hộ dùng nước giếng; 59% hộ dùng nước ao và sông - Huyện Cai Lậy, nguồn nước ăn có 31% 6 hộ dùng nước mưa; 2,8% hộ dùng nước giếng; 65% hộ dùng nước ao và nước sông. Nước tắm rửa gồm có 4,7% nước giếng; 95,3% nước ao và sông. [24] Nguyễn Văn Bình, năm 1992, nghiên cứu tại ba xã đại diện cho vùng nông thôn tỉnh Hà Tây về nguồn nước sinh hoạt thấy 33% dùng giếng khơi; 37,5% dùng giếng làng; 26,2% dùng nước mưa; 1,3% dùng giếng khơi và 1,5% dùng nước ao. [6] Thị xã Yên Bái thuộc khu vực miền núi phía bắc, theo điều tra tháng 23/1993 của Lưu Văn Luyện và Đỗ Huy Hoàng, nhân dân thị xã có 66,07% hộ dùng n ước gi ếng kh ơi; 33,62% hộ dùng nước máy; 0,29% hộ dùng nước sông Hổng.
Các tác giả cho rằng ở tỉnh lỵ số hộ được cung cấp nước máy ít và tỷ lệ giêhg khơi cao là điều không hợp lý so v ới khu vực đô thị. [27] Tại khu vực miền trung, Nguyễn cẩm Thạch, 1987 cho biết tại bốn huyện miền núi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẩng, tình trạng thiếu nước rất nghiêm trọng do số lượng giếng quá ít, bình quân 27 hộ/1 giếng. [39] Nguyễn Duy Quyền, Lê Minh Ngọc, cs năm 1994 điều tra nguồn nước sinh hoạt ở 4 đảo đông bắc Quảng Ninh cho biết hầu hết dân cư ở đây sử dụng nước bề mặt bao gồm giếng đào nông chiếm 43,5% và ao hồ sông suối là 52,9%. [36] Các tác giả Trịnh Quân Huấn, Nguyễn Văn Biền, cs (1996) điều tra tại 4 huyện Phụng Hiệp (Cẩn Thơ), Hưng Nguyên (Nghệ An), Thanh Miện (Hải Hưng), Phú Xuyên (Hà Tây) cho kết quả chung có 36,2%-76,4% hộ dùng nước giếng khơi và giếng khoan.
[22] Nguyễn Văn Nhiên , năm 1998, điều tra tại xã Eayông-Krông Pách-Đắc Lắc về nguồn nước đang được dân sử dụng như sau: 97,2% hộ dùng nước giếng đào; 2,8% hộ dùng các nguồn nước khác. [32] Lê Đình Minh điều tra 476 hộ gia đình tại xã cẩm Sơn huyện cẩm Bình tỉnh Hài Hưng năm 1996 có kết quả các hộ sử dụng nguồn nước như sau: giếng khơi 81,5%; giếng khoan 46,8%; giếng làng 4,2%; ao hổ 10%; sông 0,8%. Tình trạng vệ sinh nguồn nước và ảnh hưởng của nước ô nhiễm tới sức khoẻ con người: WHO, 1990, đã khuyên cáo rằng lựa chọn và bảo vệ nguồn nước là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp nước hợp vệ sinh. Bảo vệ nguồn nước khỏi ô nhiễm luôn luôn tốt hơn là xử lý nó khi đã bị ô nhiễm.
[65] Hiện tại ở Việt Nam chưa có cơ quan nào nắm vững được hiện trạng các giếng nước. Nhưng trên thực tế có nhiều giếng đã hỏng, nhiều giếng có chất lượng nước không tốt, chủ yếu nhiều sắt, có những giếng không đủ nước, Lê Quí An, 1992. [1] Tiêu chuẩn vệ sinh đối với giếng đào được Bộ Y tế qui định theo những nguyên tắc sau: địa điểm đào giếng phải xa nơi ô uế, bãi rác, hố xí, chuồng gia súc. tối thiểu là 10m, vách giếng phải xây và trát kín, thành giếng cao hơn mặt đất 60-70cm, sân giếng rộng l-l,5m và có rãnh thoát nước, không để nước bẩn ứ đọng quanh giếng, gầu không để xuống đất hay sân giếng.
[7] Trong nghiên cứu của Lê Đình Minh, năm 1996, tại cẩm Sơn huyện Câm Bình tỉnh Hải Hưng cho biết có 42% nguồn nước cách hố xí <10m và 58% cách >10m. Theo nhân xét của tác gi ả ngu ồn nước giếng bị ô nhiễm còn do giếng xây dựng đã lâu mà 8 không có tu bổ và sửa chữa, sân giếng hỏng, ứ đọng ở rãnh thoát n ước, gi ếng n ước không thau rửa định kỳ. [33] Nguyễn Văn Nhiên, năm 1998, đã đưa ra nhận xét là giêhg khơi ở xã Eayông- Krông pách- Đắc Lắc có nguy cơ ô nhiễm tương đối cao với các chỉ số nguy cơ về vệ sinh của nguồn nước như sau: [32] Cầu tiêu cách giếng <10m 8,5% Nguồn ô nhiễm khác <10m 47,6% Nước đọng vũng trên nền xi mãng 80,6% Nền xi mãng bị nứt 72,4% Gầu múc để trên sàn 53,3% Nguyễn Đức Phúc , năm 1997, đã cho rằng nguyên nhân chất lượng nguồn nước giếng khơi ở học viện Lục Quân và học viện Hâu Cần tại khu vực Sơn Tây không đảm bảo yêu cầu vệ sinh là do các chỉ tiêu vệ sinh của giếng khơi rất thấp như: số giếng có rãnh thoát nước chiếm 44,22%; tình trạng nền giếng xấu 76,14%; không giếng nào có giá để gầu hay cẩn vọt.[34] Khảo sát tại Long An về chỉ tiêu vệ sinh nguồn nước bề mặt, năm 1994, các tác giả Lê Thế Thự, Nguyễn Văn Ba, cs đã nhân xét nguy cơ ô nhiễm là cao, cụ thể nh ư sau: [44] - 90% ô nhiễm do dân cư sống dọc kênh lấy nước - 32% trại chăn nuôi ở thượng nguồn - 74% nguồn ô nhiễm do sản xuất nông nghiệp - 2% có nguy cơ đất lở hoặc bùn tràn vào nơi lấy nước - 88% không có hàng rào bảo vê điểm lấy nước - 58% có đập ngăn để giữ độ cao của mực nước - 62% có nắp đậy bể lọc chậm Nguyễn Thị Lê, Hà Duy Ngọ, cs, nãm 1994, điều tra tại xã Đa Tốn huyện Gia Lâm Hà Nội thấy 10 mẫu xét nghiệm nước giếng khơi và giếng khoan đang dùng tại các hộ gia đình đều không sạch, bị nhiễm bẩn do phân và nước tiểu, khi quan sát th ấy nhi ều gia đình có giêhg khoan hoặc giếng khơi 9 nằm gần hố xí, chuồng lợn. Tác giả cho rằng đó là nguyên nhân làm nguồn nước bị nhiễm bẩn.