CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Chất lượng vệ sình nước sính hoạt và tình hình cung cấp nước ở một sô' nước trên thế giới và Việt Nam: Vấn đề cung cấp nước sạch cho ăn uống và sinh hoạt cũng là vấn đề bức xúc trên thế giới với mục tiêu cán đạt được là phục vụ cho nhiều người nhất và dựa vào nguyên tắc cùa Liên Hợp Quốc và WHO là: Tất cả mọi dân tộc, bất kỳ ở mức độ phát triển và tình hình kinh tế- xã hội như thê' nào đều có quyền được cung câ'p nguồn nước đủ số lượng và đảm bảo chất lượng đáp ứng mọi nhu cầu sinh hoạt của mình [54]. Nước là một tài nguyên đặc biệt, theo thời gian nước không tăng lên về số lượng và không mất dẩn đi, vì thế người ta nói rằng không nên bỏ phí một giọt nước nào rơi xuống đất và chảy ra biển mà chưa được sử dụng vì lợi ích của con người [51]. Maklev khi đang là Tổng giám đốc WHO đã nói : " Số các vòi nước và máy bơm nước trong một quốc gia là chỉ sô' về tình trạng phục vụ y tế chính xác hơn là sô' giường bệnh" [I I], đây là ý kiên cho đến nay vẫn có giá trị thực tiễn.
ở vùng Đông Nam Á mục tiêu cung cấp nước nông thôn cho toàn vùng là 80% dân sớ. An Độ là nước đạt cao nhất tới 88% dân sô' được cung cấp nước sạch, thấp là Myanma và Srilanca chỉ có 50%. Một sô' nước vùng Tây Thái Bình Dương như Brunei, Kiribati đạt 100%, Malayxia đạt 97%, Philipin 91%, Việt Nam 58%, thấp nhất là Lào với 33% được cung cấp nước sạch, nếu tính chung cho toàn cầu còn 38% dân sô' chưa được cung cấp nước sạch [ I 1,47]. 5 Do đặc điểm về địa hình, việc cung cấp nước ăn uống và sinh hoạt cho nhân dân còn rất sơ khai : nguổn nước chủ yếu là sông suối, với tập quán lạc hâu, vê sinh môi trường kém nên nguồn nước dù có đủ nhưng bị ô nhiễm bởi chất thải của người và đông vật.
Một số khu vực có giếng khơi, tuy nhiên hầu hết không đạt tiêu chuẩn vệ sinh vì không có kỹ thuật xây, đặc biệt là không có kiến thức giữ gìn vê sinh trong quá trình sử dụng [20]. Những điều nêu trên đã ảnh hưởng rất nhiều đến tới sức khoẻ, bệnh tật của đồng bào khu vực miền núi. Theo Nguyễn Mạnh Liên nhu cầu tối thiểu về nước sinh hoạt bình quân mỗi ngày cần cho mỗi người dân đô thị là 60 lít, nhưng hiện nay đô thị toàn quốc mới chỉ đạt 50 lít trên ngày [22]. Trong khi điều tra tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam của Phạm Nguyễn cẩm Thạch cho biết tình trạng thiếu nước rất nghiêm trọng một giếng nước cho 27,5 hộ gia đình [34].
Về nguyên tắc nước mưa là nguồn nước sạch nhưng nếu sử dụng nước mưa để ăn uống trong thời gian dài có thể dẫn đến nguy cơ thiếu ỉode và Fluor ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ thể đặc biệt đối với trẻ em, nhất là những vùng xa biển. Mặt khác, sử dụng nước mưa phải sử dụng mái hứng và vật chứa đủ lớn để dự trữ. Nguồn nước bề mặt của nước ta rất giàu có, nhưng nạn ô nhiễm môi trường đang xảy ra tìmg ngày từng giờ do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nguổn tài nguyên nước ngầm rất quan trọng tuy nhiên giá thành khai thác đắt hơn, chất lượng nước và mức độ thuận tiện trong khai thác cũng rất khác nhau đối với mỗi víing.
Nước được xem là ô nhiễm khi thành phần của nước bị biến đổi gổm tính chất lý học, hoá học, sinh học với sự có mặt của các chất ở thể lỏng, thể rắn, thể khí làm cho nước trở nôn nguy hại đối với sức khoẻ [29]. Loài người đang một mặt tích cực khai thác để tự cung cấp nhu cầu nước sinh hoạt, mặt khác chính hoạt động của con người Lại gây ô nhiễm cho nguổn nước hiên có đang được khai thác và sử dụng, do vây việc kiểm tra, giám sát, đánh giá chất 6 hrợng vệ sinh nguồn nước dùng trong ăn uống và sinh hoạt rất quan trọng. Hiên nay có nhiều phương pháp dể đánh giá nguồn nước theo khuyến cáo của WHO về chất lượng nước uống và sinh hoạt cho biết có nhiều chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng nước, nhưng nhìn chung được chia làm bốn nhóm cơ bản là [55, 56, 57]. - Nhóm chỉ tiêu vật lý cảm quan gồm: màu, mùi, vị, độ trong cũng như nhiệt độ của nước.
- Nhóm chỉ tiêu hóa học đánh giá vệ sinh nước gổm các chỉ tiêu vệ sinh gián tiếp đánh giá mức độ ô nhiễm nước, các chỉ tiêu về các chất gây cản trở về sinh hoạt và gây khó khãn cho việc cải tạo, nâng cao chất lượng nguồn nước. - Nhóm chỉ tiêu gây độc và tác hại đến sức khoẻ. - Nhóm chỉ tiêu sinh học như vi khuẩn, ký sinh trùng. Vệ sinh nguồn nước và ảnh hương của nước ô nhiễm tói sức khơẻ cơn người: Theo WHO năm 1990 việc lựa chọn bảo vệ nguổn nước là vấn để quan trọng hàng đầu trong việc cung cốp nước hợp vệ sinh, bảo vệ nguổn nước khỏi ô nhiễm luôn tốt hơn là xử lý nó khi bị ô nhiễm [58], Tiêu chuẩn vệ sinh đối với giếng đào được Bộ Y tê' quy định : - Địa điểm đào giếng phải xa nơi bãi rác, hô' xí, chuồng gia súc.
tối thiểu là 10m, vách giêng phải xây và trát kín, thành giêng cao hơn mặt đất 60 - 70 cm, sân giếng rộng 1’1.5 m có rãnh thoát nước, không để nước ứ đọng quanh giếng, gầu không để xuống đất, xuống sân giếng [3]. Trong nghiên cứu của Lê Đình Minh năm 1996 tại cẩm Sơn - cẩm Bình - Hải Hưng cho biết có 42% nguồn nước cách hố xí dưới 10m đây là nguy cơ gây ô nhiễm nước bề mặt [24]. Theo Nguyễn Văn Nhiên năm 1998 đã nhận xét là: gịêhg khơi ở xã Eayông - Krông pách ’Đắc Lắc có nguy cơ ô nhiễm tương đối cao với các chỉ SỐ nguy cơ vể vệ sinh của nguồn nước như sau [26]: 7 Cầu tiêu và nguổn ô nhiễm khác cách giếng dưới 10m chiếm 8,5%. Nước đọng vũng trên nền xi măng 80,6%.
Nền xi mùng bị nứt 72,4%. Gầu múc để trên sàn giếng 53,3%. Theo các tác giả Nguyễn Thị Lê, Hà Duy Ngọ và cộng sự, điều tra tại xã Đa Tốn - Gia Lâm - Hà Nội năm 1994 xét nghiệm 10 mẫu giếng khơi, giếng khoan đang dùng tại cấc hộ gia đình đều không sạch do bị nhiễm bẩn phân và nước tiểu, khi quan sát thấy nhiều gia đình có giếng khoan và giếng khơi nằm gần hố xí, chuồng lợn tác giả cho rằng đâý là nguyên nhân gây ô nhiễm và nhiễm bẩn nguồn nước [17]. Ngô Thị Nhu, nAm 1997 điều tra khoảng cách từ nguồn ô nhiễm tại nông thôn Thái Bình một tỉnh thuộc đổng bằng bắc bộ cho thấy rằng khoảng cách của giếng làng, giếng khơi tới nguồn ô nhiễm dưới 10m có ảnh hưởng rõ rệt tới các chỉ tiêu chất lượng vệ sinh của nguồn nước.
Theo nhận xét của tác giả nguổn nước bị ô nhiễm còn do giếng xây dựng đã lâu mà không có tu bổ sửa chữa, sân giếng hỏng, nước ứ đọng ở rãnh thoát nước, giếng nước không được vê sinh thường xuyên [27]. Nguyễn Đức Phúc, năm 1997, đã cho rằng nguyên nhân chất lượng nước giếng khơi ở Học viện lục quân và Học viện hâu cần ở Sơn Tây không đảm bảo yêu cầu vệ sinh là do các các chỉ tiêu vệ sinh của giếng khơi rất thấp: số rãnh thoát nước chỉ có 44,2%, tình trạng nền giếng xấu 76,1%, không giếng nào có chỗ để gầu hay cổn vọt. Khảo sát tại Long An về chỉ tiêu vệ sinh nước bể mặt, năm 1994, các tác giả Lê Thế Thự, Nguyễn Văn Ba và cộng sự đã nhận xét là nguy cơ ô nhiễm rất cao [37] : - 90% ô nhiễm do dân cư sống dọc kênh lấy nước. - 32% trại chăn nuôi ở thượng nguồn.
- 74% nguồn ô nhiễm do sản xuâì nông nghiệp. - 20% có nguy cơ đất lở hoặc tràn vào nơi lâ'y nước. - 88% không có hàng rào bâo vệ điểm lấy nước. - 58% không có đập ngăn để giữ độ cao của mực nước.
8 Năm 1980 Tổ chức Y tế Thế giới thông báo 80% bệnh tật của con người có liên quan tới nước, 1/2 số giường bệnh trên toàn thế giới là các bệnh có liên quan với nước và 25.000 chết hàng ngày do các bệnh liên quan đến nước. Nước là môi trường làm lây lan và gây ra các đại dịch từ nhiều khu vực khác nhau trên thế giới 1461. Nước mang đến sự sống cho con người nhưng chính nước là môi trường reo rắc bệnh tật khi nó bị ô nhiễm. Cung cấp nước an toàn có thể cứu được rất nhiều người thoát khỏi các bệnh lan truyển qua nước như tả, tiêu chảy.
chỉ cải thiện chất lượng nước đã làm giảm bệnh tiêu chảy xuống 16%, nếu cải thiện cả số lượng nước thì giảm bệnh tới 37% theo WHO -1990 [59]. Theo Wang Zeng Sui cho rằng sử dụng nguồn nước ngổm bảo đảm bảo chất lượng Vê sinh giảm được 36,8% bệnh nhiễm trùng đường ruột [52]. Theo Nguyễn Đình Sơn nghiên cứu tại Thừa Thiên Huế là tỉnh duyên hải miền trung, dân cư chủ yếu dùng nước bề mặt để ăn uống, sinh hoạt, do tình trạng nước bị ô nhiễm nên trong khoảng 10 năm (1980 -1992) dã xảy ra 5 vụ dịch tả với 3 vụ dịch lởn có trên 1000 người mắc: 1980 có 1122 người, 1990 có 1078 người và năm 1992 có 1621 người mắc [32]. Nước có ý nghĩa rất quan trọng trong mọi mặt đời sống nhân dân như trong sinh hoạt trong sản xuất.nhưng nước sinh hoạt bị nhiễm bẩn lại gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của những người phải dùng nước mà chưa được xử lý hợp vệ sinh [461.
Phần lớn nước sinh hoạt tại các nước nghèo đang bị ô nhiễm bởi các chất thải sinh hoạt của chính con người như phân, nước tiểu, rác sinh hoạt và còn do hoạt động của người, động vật gây ra. Các mầm bênh truyền từ người bệnh đến người lành qua nước ăn uống, thực phẩm bị nhiễm bẩn, người ta gọi đó là con đường truyền bệnh từ phân đến miệng [11, 45], con đường truyền bệnh này được mô tả theo sơ đồ sau (Hình 1). Các bệnh liên quan tới chất lượng nước, số lượng nước, vộ sinh cá nhân được khái quát bởi: 9 Bệnh lây qua nước (Water borne diseases) như viêm gan A, lỵ, thương hàn, tiêu chảy. Bệnh liên quan đến nước (Water related diseases) như các bệnh ngoài da, viêm da, bệnh mắt như mắt hột .