ĐẶT VẤN ĐỀ Trong số các bệnh không lây nhiễm, đái tháo đường (ĐTĐ) và tăng huyết áp (THA) là hai trong những bệnh không lây nhiễm đang có những diễn biến rất phức tạp. Trên toàn cầu có khoảng 40% người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên được chẩn đoán mắc tăng huyết áp năm 2008. Hiện nay trên thế giới, tỷ lệ tăng huyết áp chiếm 8-18% dân số [1], [2], là một trong 10 yếu tố nguy cơ hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật và tử vong trên toàn cầu [3]. Đái tháo đường có những tác động đáng kể đến tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần của người bệnh [4], [5].
Ngoài việc điều trị, chăm sóc của nhân viên y tế, việc hỗ trợ chăm sóc của những người không phải là nhân viên y tế cho người bệnh ĐTĐ típ 2 có tầm quan trọng đối với sức khỏe của họ. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới vào năm 2030 ước tính sẽ tăng lên 552 triệu người, và hầu hết ở các nước có thu nhập thấp và trung bình trong đó có Việt Nam [6], [7]. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ngày càng gia tăng, hiện có khoảng 5,76 triệu người mắc và tỷ lệ mắc bệnh trong dân số hiện khoảng 6% vào năm 2017 [8]. Hỗ trợ chăm sóc tại nhà cho người bệnh nói chung, người mắc ĐTĐ nói riêng thường là vợ hoặc chồng, con, hoặc anh chị em ruột hay những người thân khác của họ đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh [9], [10].
Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 376/QĐ- TTg về việc - Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, ĐTĐ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh KLN khác, giai đoạn 2015- 2025. Chiến lược đặc biệt nhấn mạnh rằng quản lý tại cơ sở chăm sóc sức khoẻ ban đầu là yếu tố quyết định hiệu quả trong phòng chống các bệnh không lây nhiễm nói chung và bệnh THA, ĐTĐ nói riêng. Tuy nhiên công tác phát hiện, điều trị và quản lý bệnh KLN ở nước ta còn hạn chế. Vì vậy có gần 60% người bệnh THA và gần 70% người ĐTĐ chưa được phát hiện bệnh, chỉ có 14% người bệnh THA, 29% người bệnh ĐTĐ và gần 30% người 2 có nguy cơ tim mạch được quản lý, dự phòng và dùng thuốc theo quy định [11].
Đây cũng chính là vấn đề hai bệnh THA và ĐTĐ đang được sự quan tâm của ngành Y tế nói riêng, của xã hội nói chung. Tại Hòa Bình, theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh năm 2019-2020 về hoạt động phòng chống bệnh KLN: tỷ lệ mắc THA ở người trên 40 tuổi là 29,6%, người cao tuổi-trên 60 tuổi là 35%; tỷ lệ mắc đái tháo đường ở người trên 40 tuổi là 9,3%; số người bệnh được phát hiện quản lý và theo dõi điều trị: THA: 86%, ĐTĐ: 84,4%. Sở Y tế tỉnh đã ban hành Kế hoạch phòng chống bệnh không lây nhiễm, trong đó có nhiệm vụ đào tạo, đào tạo liên tục, nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ y tế các tuyến, bao gồm y tế cơ sở. Tuy nhiên, hoạt động đào tạo liên tục của nhân viên y tế (NVYT) trên địa bàn Thành phố vẫn còn một số tồn tại.
Câu hỏi đặt ra hiện nay là kiến thức của cán bộ y tế xã, phường về xử trí một số bệnh không lây nhiễm hiện nay ra sao? Cán bộ y tế xã, phường có nhu cầu đào tạo về xử trí một số bệnh không lây nhiễm tại trạm y tế xã như thế nào nhất là hai bệnh phổ biến hiện nay là bệnh THA và ĐTĐ? Do vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Thực trạng kiến thức và nhu cầu đào tạo về một số bệnh không lây nhiễm của nhân viên y tế xã, phường tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình năm 2021” với các mục tiêu sau: Mục tiêu nghiên cứu: 1. Mô tả thực trạng kiến thức chẩn đoán và điều trị về bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp của nhân viên y tế tại các trạm y tế xã của thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình năm 2021. Xác định nhu cầu đào tạo liên tục về xử trí bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp của nhân viên y tế các trạm y tế xã trên địa bàn nghiên cứu năm 2021. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm liên quan về bệnh không lây nhiễm Bệnh không lây nhiễm: Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): bệnh không lây nhiễm (BKLN) là các bệnh không lây truyền từ người sang người. Bệnh được coi là bệnh mạn tính, bệnh tiến triển trong thời gian dài và chậm”. Có nhiều loại BKLN khác nhau, tuy nhiên hiện nay nhiều chính sách của Liên Hợp Quốc và WHO tập trung vào 4 nhóm bệnh chính, gồm bệnh tim mạch (tăng huyết áp (THA), đột quỵ (tai biến mạch máu não - TBMMN), suy tim, bệnh mạch vành,…), đái tháo đường (ĐTĐ), ung thư, bệnh đường hô hấp mạn tính (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và hen phế quản (HPQ)), do những BKLN này ngoài việc có tỉ lệ mắc lớn và là nguyên nhân chủ yếu gây tàn tật và tử vong ở người trưởng thành, chúng còn có chung các yếu tố nguy cơ (các yếu tố góp phần làm bệnh phát triển). Bệnh đái tháo đường: Theo Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ 2010: - Đái tháo đường (ĐTĐ) là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin hoặc cả hai.
Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu. Bệnh tăng huyết áp: Tăng huyết áp (THA) là một trạng thái trong đó máu lưu thông dưới một áp suất tăng cao lâu dài. Máu được mang từ tim đến tất cả các bộ phận của cơ thể qua các động mạch và tĩnh mạch. Mỗi lần tim đập, tim sẽ bơm máu đi khắp cơ thể.
Huyết áp được tạo ra bằng lực của máu tác động lên thành trong của mạch máu khi máu được tim bơm đi khắp cơ thể. Tổ chức Y tế Thế giới và Hội 4 THA quốc tế đã thống nhất định nghĩa THA khi huyết áp tối đa ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu ≥ 90 mmHg [12], [13]. Gánh nặng bệnh tật do đái tháo đƣờng và tăng huyết áp: Trên thế giới: Đái tháo đường là một trong bốn bệnh không lây gây tàn phế và tử vong cao nhất (tim mạch, ĐTĐ, ung thư và bệnh đường hô hấp mạn tính) [19]. Tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người trưởng thành đã tăng gấp đôi so với năm 1980, tăng từ 4,7% lên 8,5% [20].
Tỷ lệ này cao nhất ở khu vực Đông Địa Trung Hải và Châu Mỹ (11%) và thấp nhất ở khu vực Châu Âu và Tây Thái Bình Dương (9%) [21], [22]. ĐTĐ dẫn đến thiệt hại kinh tế không nhỏ. Dựa trên những ước tính chi phí y tế từ những tổng quan nghiên cứu gần đây, người ta ước tính chi phí trực tiếp do điều trị ĐTĐ là trên 827 tỉ đô la [23]. Tổ chức Y tế Thế giới và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ nhận định, THA đã và đang trở thành một vấn đề y tế công cộng chính hiện nay.
Trên toàn cầu, bệnh tim mạch gây ra khoảng 17 triệu trường hợp tử vong mỗi năm, tức chiếm tới 1/3 tổng số tử vong, mà trong đó, có tới 9,4 triệu ca là từ biến chứng của THA. THA là nguyên nhân gây ra ít nhất khoảng 45% ca tử vong do bệnh tim và 51% do đột quỵ [14]. Trong năm 2008, trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 40% người từ 25 tuổi trở lên được chẩn đoán mắc THA, tức số người mắc bệnh này đã tăng từ 600 triệu người vào năm 1980 lên thành 1 tỷ người vào năm 2008 [15]. Theo Tổ chức y tế thế giới (2014) trên thế giới tỷ lệ THA 8-18% dân số thay đổi từ các nước Châu Á như Indonesia 6-15%, Malaysia 10-11%, Đài Loan 28%, tới các nước Âu - Mỹ như Hà Lan 37%, Pháp 10-24%, Hoa Kỳ 24%.
Tỷ lệ THA ở người già tại Brazil (2013) là 46,9% [16], khu vực châu Phi là 46% [1]. THA là vấn đề ảnh hưởng đến 26% dân số trưởng thành trên thế giới. Năm 2000, có 972 triệu người mắc THA. Các nhà nghiên cứu đã ước tính rằng THA hiện đang giết chết 9 triệu người mỗi năm [1].
Số lượng người lớn bị 5 THA được dự đoán sẽ tăng lên khoảng 60%, con số đó vào khoảng 1,6 tỷ người vào năm 2025 [17]. Có tới 10% chi phí chăm sóc sức khỏe liên quan đến THA, chi phí hàng năm cho THA là 370 tỷ đô [18]. Một nghiên cứu [25] cho thấy, trong số người tử vong, tỷ trọng do BKLN tăng từ 56% năm 1990 lên 72% năm 2010, trong đó bệnh tim mạch chiếm 30%, ung thư 21%, bệnh đường hô hấp mạn tính 6%, tâm thần – kinh 2% và ĐTĐ 3%, tuy nhiên tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng của nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu. Riêng chi phí cho điều trị ĐTĐ đã chiếm khoảng 3 - 6% ngân sách dành cho y tế hàng năm.
Tại Việt Nam: Tại Việt Nam, trong những năm gần đây tỷ lệ mắc THA đang gia tăng một cách nhanh chóng: Theo điều tra của Viện Tim mạch Trung ương, tỷ lệ mắc THA ở người trưởng thành là 25,1% [21]. Trung bình giai đoạn 2002- 2008 mỗi năm tăng 1,3%, ước tính nếu tăng tương tự như giai đoạn trước, đến năm 2025 tỷ lệ người THA sẽ trên 35% [24]. Tóm lại, hiện nay ở Việt Nam, những nghiên cứu nêu trên góp phần củng cố và chứng minh rằng ĐTĐ và THA đã và đang có xu hướng tăng, diễn biến khó lường cùng những hậu quả nặng nề. Do đó, công tác phòng chống các bệnh này rất cần được quan tâm triển khai thực hiện.
Kiến thức của NVYT xã về phòng chống bệnh không lây nhiễm. Trạm y tế xã và công tác khám chữa bệnh. Trạm Y tế xã/phường/thị trấn (gọi chung là Trạm Y tế xã) là đơn vị y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Trung tâm Y tế huyện), được thành lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã). TYT xã có chức năng cung cấp, thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn xã [26], [27].