Thực trạng kiến thức và nhu cầu đào tạo về một số bệnh không lây nhiễm của nhân viên y tế xã phường tại thành phố hòa bình tỉnh hòa bình năm 2021

Chuyên khảo phân tích Thực trạng kiến thức và nhu cầu đào tạo về một số bệnh không lây nhiễm của nhân viên y tế xã phường, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Quản lý y tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn chuyên khoa cấp II

2022

112
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm liên quan về bệnh không lây nhiễm

1.2. Kiến thức của NVYT xã về phòng chống bệnh không lây nhiễm

1.3. Trạm y tế xã và công tác khám chữa bệnh

1.4. Kiến thức của NVYT xã về điều trị bệnh không lây nhiễm

1.5. Đào tạo liên tục và nhu cầu đào tạo của NVYT xã về bệnh không lây nhiễm

1.6. Hoạt động đào tạo liên tục đối với NVYT

1.7. Nhu cầu đào tạo liên tục của NVYT về bệnh không lây nhiễm

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.2. Địa bàn nghiên cứu

2.3. Đối tượng nghiên cứu

2.4. Thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Thiết kế nghiên cứu

2.5.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.5.3. Biến số và chỉ số trong nghiên cứu

2.5.4. Phương pháp thu thập thông tin

2.5.5. Phương pháp xử lý số liệu

2.5.6. Sai số và các biện pháp khống chế sai số

2.6. Phạm vi của nghiên cứu. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kiến thức của đối tượng về chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp

3.1.1. Đặc điểm chung của đối tượng

3.1.2. Kiến thức về bệnh đái tháo đường

3.1.3. Kiến thức về bệnh tăng huyết áp

3.2. Nhu cầu đào tạo của đối tượng về bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp

3.2.1. Nhu cầu đào tạo về bệnh đái tháo đường

3.2.2. Nhu cầu đào tạo về bệnh tăng huyết áp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bệnh Không Lây Nhiễm Tại Hòa Bình Thực Trạng

Các bệnh không lây nhiễm (BKLN) như đái tháo đường (ĐTĐ) và tăng huyết áp (THA) đang trở thành gánh nặng y tế toàn cầu, đặc biệt ở các nước thu nhập thấp và trung bình, trong đó có Việt Nam. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc ĐTĐ và THA ngày càng gia tăng, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng và kinh tế xã hội. Chính phủ đã ban hành nhiều chiến lược quốc gia nhằm phòng chống các BKLN, trong đó nhấn mạnh vai trò của y tế cơ sở trong việc quản lý và điều trị bệnh. Tuy nhiên, công tác phát hiện, điều trị và quản lý BKLN ở nước ta còn nhiều hạn chế. Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Hòa Bình năm 2019-2020, tỷ lệ mắc THA và ĐTĐ ở người trên 40 tuổi lần lượt là 29,6% và 9,3%.

1.1. Khái niệm và phân loại bệnh không lây nhiễm

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh không lây nhiễm (BKLN) là các bệnh không lây truyền từ người sang người, thường là bệnh mạn tính, tiến triển chậm. Bốn nhóm bệnh chính được WHO tập trung là bệnh tim mạch (THA, đột quỵ), đái tháo đường (ĐTĐ), ung thư, và bệnh đường hô hấp mạn tính. Các bệnh này có chung các yếu tố nguy cơ và gây tàn tật, tử vong cao ở người trưởng thành. Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin hoặc hoạt động insulin. Bệnh tăng huyết áp (THA) là tình trạng máu lưu thông dưới áp suất cao lâu dài, với huyết áp tối đa ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tối thiểu ≥ 90 mmHg.

1.2. Gánh nặng bệnh tật do đái tháo đường và tăng huyết áp

Đái tháo đường là một trong bốn bệnh không lây gây tàn phế và tử vong cao nhất trên toàn cầu. Tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người trưởng thành đã tăng gấp đôi so với năm 1980. Tổ chức Y tế Thế giới và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ nhận định, tăng huyết áp đã và đang trở thành một vấn đề y tế công cộng chính hiện nay. Trên toàn cầu, bệnh tim mạch gây ra khoảng 17 triệu trường hợp tử vong mỗi năm, tức chiếm tới 1/3 tổng số tử vong, mà trong đó, có tới 9,4 triệu ca là từ biến chứng của THA. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc THA đang gia tăng nhanh chóng, ước tính đến năm 2025 tỷ lệ người THA sẽ trên 35%.

II. Thách Thức Kiến Thức Bệnh Không Lây Nhiễm Của NVYT

Nguồn nhân lực y tế cơ sở đóng vai trò quan trọng trong quản lý BKLN, nhưng năng lực của cán bộ y tế tuyến xã tại một số địa phương còn hạn chế. Theo báo cáo tổng quan chung ngành y tế Việt Nam 2014, dự án THA triển khai trên tất cả 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, trên 70 ngàn cán bộ y tế đã được đào tạo, tập huấn về phòng chống THA nhưng cho tới nay mới có 10% tổng số TYT xã, phường thực hiện được công tác quản lý điều trị THA. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao kiến thứckỹ năng cho nhân viên y tế (NVYT) tuyến cơ sở để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng của cộng đồng.

2.1. Vai trò của Trạm Y Tế Xã trong phòng chống bệnh không lây nhiễm

Trạm Y tế xã (TYT xã) là đơn vị y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện, có chức năng cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân. TYT xã đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm, phòng chống dịch bệnh, cung cấp thuốc thiết yếu và thực hiện các chương trình y tế quốc gia. Nghị định số 117/2014/NĐ-CP quy định chức năng của TYT xã về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, trong đó có quản lý BKLN, xử trí ĐTĐ và THA. Nghị quyết 20/NQ-TW đặt mục tiêu đến năm 2025 đạt 95% trạm y tế xã sẽ thực hiện dự phòng, quản lý và điều trị một số BKLN phổ biến.

2.2. Thực trạng nguồn nhân lực và cơ sở vật chất tại y tế cơ sở

Tuyến YTCS đóng vai trò quan trọng trong quản lý BKLN và nhân lực luôn là một yếu tố quyết định đến sự vận hành và hiệu quả của tất cả các hoạt động. Tuy nhiên, cán bộ y tế ở tuyến xã tại một số địa phương còn yếu, không đáp ứng được nhiệm vụ quản lý các BKLN, trong đó có bệnh ĐTĐ và THA. Thuốc và các dụng cụ, trang thiết bị là một phần không thể thiếu trong điều trị ĐTĐ và THA. Theo tác giả Hoàng Văn Minh và cộng sự trong nghiên cứu tại huyện Đông Hỷ, Thái Nguyên năm 2011 đã chỉ ra không phải tất cả các loại thuốc dành cho THA đều có sẵn và chỉ có 3 TYT xã có thuốc chẹn kênh Beta.

III. Đánh Giá Kiến Thức Về Đái Tháo Đường Của Nhân Viên Y Tế

Nghiên cứu tập trung vào đánh giá kiến thức của nhân viên y tế về bệnh đái tháo đường, một trong những BKLN phổ biến. Việc nắm vững kiến thức về chẩn đoán, điều trị và quản lý ĐTĐ là yếu tố then chốt để NVYT có thể cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cho người bệnh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát, phỏng vấn NVYT tại các trạm y tế xã, phường để thu thập thông tin về kiến thức của họ về các khía cạnh khác nhau của bệnh ĐTĐ.

3.1. Kiến thức về chẩn đoán bệnh đái tháo đường

Đánh giá kiến thức của nhân viên y tế về các triệu chứng lâm sàng thường gặp, các loại ĐTĐ, yêu cầu chẩn đoán bệnh tại trạm y tế, xét nghiệm có giá trị nhất giúp sàng lọc ĐTĐ, chỉ số định lượng đường huyết lúc đói để chẩn đoán bệnh, tổn thương cơ quan đích của ĐTĐ, biến chứng dễ xảy ra nhất ở ĐTĐ. Tỷ lệ đối tượng biết triệu chứng lâm sàng thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường. Tỷ lệ đối tượng biết các loại đái tháo đường. Tỷ lệ đối tượng biết yêu cầu chẩn đoán bệnh đái tháo đường tại trạm y tế.

3.2. Kiến thức về điều trị và quản lý bệnh đái tháo đường

Đánh giá kiến thức của nhân viên y tế về nguyên tắc xây dựng chế độ ăn cho bệnh nhân ĐTĐ, thuốc uống ưu tiên lựa chọn khởi đầu ĐTĐ, chế độ sinh hoạt của người ĐTĐ, nguyên tắc điều trị bệnh ĐTĐ, quy định trường hợp điều trị ĐTĐ tại TYT xã. Tỷ lệ đối tượng biết nguyên tắc xây dựng chế độ ăn cho bệnh nhân đái tháo đường. Tỷ lệ đối tượng biết thuốc uống ưu tiên lựa chọn khởi đầu đái tháo đường. Tỷ lệ đối tượng biết chế độ sinh hoạt của người đái tháo đường.

IV. Đánh Giá Kiến Thức Về Tăng Huyết Áp Của Nhân Viên Y Tế

Tương tự như ĐTĐ, tăng huyết áp (THA) là một BKLN phổ biến và nguy hiểm. Nghiên cứu cũng tập trung vào đánh giá kiến thức của nhân viên y tế về THA, bao gồm các khía cạnh về chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh. Việc đánh giá kiến thức này giúp xác định những lỗ hổng trong kiến thức của NVYT và đề xuất các giải pháp đào tạo phù hợp.

4.1. Kiến thức về chẩn đoán bệnh tăng huyết áp

Đánh giá kiến thức của nhân viên y tế về tiêu chuẩn chẩn đoán THA, biện pháp chẩn đoán THA, yếu tố tiên lượng THA. Tỷ lệ đối tượng biết tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp. Tỷ lệ đối tượng biết biện pháp chẩn đoán tăng huyết áp. Tỷ lệ đối tượng biết yếu tố tiên lượng tăng huyết áp.

4.2. Kiến thức về điều trị và quản lý bệnh tăng huyết áp

Đánh giá kiến thức của nhân viên y tế về yêu cầu tuân thủ điều trị, dự phòng về thay đổi lối sống, lý do cần chuyển người bệnh THA lên tuyến trên, nguyên tắc quan trọng nhất của điều trị THA, đích điều trị huyết áp tối ưu. Tỷ lệ đối tượng biết yêu cầu tuân thủ điều trị. Tỷ lệ đối tượng biết dự phòng về thay đổi lối sống. Tỷ lệ đối tượng biết lý do nào cần chuyển người bệnh tăng huyết áp lên tuyến trên.

V. Nhu Cầu Đào Tạo Về Bệnh Không Lây Nhiễm Của NVYT

Sau khi đánh giá kiến thức, nghiên cứu tiến hành xác định nhu cầu đào tạo của nhân viên y tế về bệnh không lây nhiễm, đặc biệt là ĐTĐ và THA. Việc xác định nhu cầu đào tạo giúp xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp, đáp ứng nhu cầu thực tế của NVYT và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người bệnh.

5.1. Nhu cầu đào tạo về chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường

Đánh giá nhu cầu đào tạo của nhân viên y tế về nội dung chủ yếu chẩn đoán bệnh ĐTĐ của TYT xã, mức độ nhu cầu đào tạo thêm về chẩn đoán bệnh ĐTĐ, nội dung cần thiết nhất trong việc tập huấn về chẩn đoán bệnh ĐTĐ, năng lực điều trị bệnh ĐTĐ, nhu cầu đào tạo thêm về điều trị bệnh ĐTĐ. Tỷ lệ đối tượng cho biêt nội dung chủ yếu chẩn đoán bệnh đái tháo đường của TYT xã. Tỷ lệ đối tượng cho biết mức độ nhu cầu đào tạo thêm về chẩn đoán bệnh đái tháo đường.

5.2. Nhu cầu đào tạo về chẩn đoán và điều trị bệnh tăng huyết áp

Đánh giá nhu cầu đào tạo của nhân viên y tế về mức độ nhu cầu đào tạo thêm về chẩn đoán bệnh THA, năng lực điều trị bệnh THA, nhu cầu đào tạo thêm về điều trị bệnh THA, nội dung cần thiết nhất trong tập huấn về điều trị bệnh THA. Tỷ lệ đối tượng cho biết mức độ nhu cầu đào tạo thêm về chẩn đoán bệnh tăng huyết áp. Tỷ lệ đối tượng tự đánh giá năng lực điều trị bệnh tăng huyết áp.

VI. Giải Pháp Đào Tạo Liên Tục Nâng Cao Năng Lực NVYT

Để nâng cao năng lực cho nhân viên y tế trong việc phòng chống bệnh không lây nhiễm, cần có các chương trình đào tạo liên tục hiệu quả. Các chương trình này cần được thiết kế dựa trên kết quả đánh giá kiến thứcnhu cầu đào tạo của NVYT, đồng thời cập nhật những kiến thức và kỹ năng mới nhất trong lĩnh vực phòng chống BKLN.

6.1. Hình thức và nội dung đào tạo liên tục phù hợp

Đề xuất các hình thức đào tạo liên tục phù hợp với điều kiện thực tế của các trạm y tế xã, phường, như đào tạo trực tuyến, đào tạo tại chỗ, hội thảo khoa học, tập huấn ngắn hạn. Nội dung đào tạo cần tập trung vào các kiến thức và kỹ năng thực hành về chẩn đoán, điều trị và quản lý ĐTĐ và THA, cũng như các kỹ năng tư vấn, truyền thông sức khỏe.

6.2. Đề xuất về thời gian và địa điểm đào tạo

Đề xuất thời gian tập huấn phù hợp cho một lớp, địa điểm tập huấn phù hợp. Tỷ lệ đối tượng đề xuất thời gian tập huấn phù hợp cho một lớp. Tỷ lệ đối tượng đề xuất địa điểm tập huấn phù hợp.

05/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong số các bệnh không lây nhiễm, đái tháo đường (ĐTĐ) và tăng huyết áp (THA) là hai trong những bệnh không lây nhiễm đang có những diễn biến rất phức tạp. Trên toàn cầu có khoảng 40% người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên được chẩn đoán mắc tăng huyết áp năm 2008. Hiện nay trên thế giới, tỷ lệ tăng huyết áp chiếm 8-18% dân số [1], [2], là một trong 10 yếu tố nguy cơ hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật và tử vong trên toàn cầu [3]. Đái tháo đường có những tác động đáng kể đến tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần của người bệnh [4], [5].

Ngoài việc điều trị, chăm sóc của nhân viên y tế, việc hỗ trợ chăm sóc của những người không phải là nhân viên y tế cho người bệnh ĐTĐ típ 2 có tầm quan trọng đối với sức khỏe của họ. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới vào năm 2030 ước tính sẽ tăng lên 552 triệu người, và hầu hết ở các nước có thu nhập thấp và trung bình trong đó có Việt Nam [6], [7]. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ngày càng gia tăng, hiện có khoảng 5,76 triệu người mắc và tỷ lệ mắc bệnh trong dân số hiện khoảng 6% vào năm 2017 [8]. Hỗ trợ chăm sóc tại nhà cho người bệnh nói chung, người mắc ĐTĐ nói riêng thường là vợ hoặc chồng, con, hoặc anh chị em ruột hay những người thân khác của họ đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh [9], [10].

Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 376/QĐ- TTg về việc - Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, ĐTĐ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh KLN khác, giai đoạn 2015- 2025. Chiến lược đặc biệt nhấn mạnh rằng quản lý tại cơ sở chăm sóc sức khoẻ ban đầu là yếu tố quyết định hiệu quả trong phòng chống các bệnh không lây nhiễm nói chung và bệnh THA, ĐTĐ nói riêng. Tuy nhiên công tác phát hiện, điều trị và quản lý bệnh KLN ở nước ta còn hạn chế. Vì vậy có gần 60% người bệnh THA và gần 70% người ĐTĐ chưa được phát hiện bệnh, chỉ có 14% người bệnh THA, 29% người bệnh ĐTĐ và gần 30% người 2 có nguy cơ tim mạch được quản lý, dự phòng và dùng thuốc theo quy định [11].

Đây cũng chính là vấn đề hai bệnh THA và ĐTĐ đang được sự quan tâm của ngành Y tế nói riêng, của xã hội nói chung. Tại Hòa Bình, theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh năm 2019-2020 về hoạt động phòng chống bệnh KLN: tỷ lệ mắc THA ở người trên 40 tuổi là 29,6%, người cao tuổi-trên 60 tuổi là 35%; tỷ lệ mắc đái tháo đường ở người trên 40 tuổi là 9,3%; số người bệnh được phát hiện quản lý và theo dõi điều trị: THA: 86%, ĐTĐ: 84,4%. Sở Y tế tỉnh đã ban hành Kế hoạch phòng chống bệnh không lây nhiễm, trong đó có nhiệm vụ đào tạo, đào tạo liên tục, nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ y tế các tuyến, bao gồm y tế cơ sở. Tuy nhiên, hoạt động đào tạo liên tục của nhân viên y tế (NVYT) trên địa bàn Thành phố vẫn còn một số tồn tại.

Câu hỏi đặt ra hiện nay là kiến thức của cán bộ y tế xã, phường về xử trí một số bệnh không lây nhiễm hiện nay ra sao? Cán bộ y tế xã, phường có nhu cầu đào tạo về xử trí một số bệnh không lây nhiễm tại trạm y tế xã như thế nào nhất là hai bệnh phổ biến hiện nay là bệnh THA và ĐTĐ? Do vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Thực trạng kiến thức và nhu cầu đào tạo về một số bệnh không lây nhiễm của nhân viên y tế xã, phường tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình năm 2021” với các mục tiêu sau: Mục tiêu nghiên cứu: 1. Mô tả thực trạng kiến thức chẩn đoán và điều trị về bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp của nhân viên y tế tại các trạm y tế xã của thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình năm 2021. Xác định nhu cầu đào tạo liên tục về xử trí bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp của nhân viên y tế các trạm y tế xã trên địa bàn nghiên cứu năm 2021. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Một số khái niệm liên quan về bệnh không lây nhiễm Bệnh không lây nhiễm: Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): bệnh không lây nhiễm (BKLN) là các bệnh không lây truyền từ người sang người. Bệnh được coi là bệnh mạn tính, bệnh tiến triển trong thời gian dài và chậm”. Có nhiều loại BKLN khác nhau, tuy nhiên hiện nay nhiều chính sách của Liên Hợp Quốc và WHO tập trung vào 4 nhóm bệnh chính, gồm bệnh tim mạch (tăng huyết áp (THA), đột quỵ (tai biến mạch máu não - TBMMN), suy tim, bệnh mạch vành,…), đái tháo đường (ĐTĐ), ung thư, bệnh đường hô hấp mạn tính (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và hen phế quản (HPQ)), do những BKLN này ngoài việc có tỉ lệ mắc lớn và là nguyên nhân chủ yếu gây tàn tật và tử vong ở người trưởng thành, chúng còn có chung các yếu tố nguy cơ (các yếu tố góp phần làm bệnh phát triển). Bệnh đái tháo đường: Theo Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ 2010: - Đái tháo đường (ĐTĐ) là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin hoặc cả hai.

Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu. Bệnh tăng huyết áp: Tăng huyết áp (THA) là một trạng thái trong đó máu lưu thông dưới một áp suất tăng cao lâu dài. Máu được mang từ tim đến tất cả các bộ phận của cơ thể qua các động mạch và tĩnh mạch. Mỗi lần tim đập, tim sẽ bơm máu đi khắp cơ thể.

Huyết áp được tạo ra bằng lực của máu tác động lên thành trong của mạch máu khi máu được tim bơm đi khắp cơ thể. Tổ chức Y tế Thế giới và Hội 4 THA quốc tế đã thống nhất định nghĩa THA khi huyết áp tối đa ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu ≥ 90 mmHg [12], [13]. Gánh nặng bệnh tật do đái tháo đƣờng và tăng huyết áp: Trên thế giới: Đái tháo đường là một trong bốn bệnh không lây gây tàn phế và tử vong cao nhất (tim mạch, ĐTĐ, ung thư và bệnh đường hô hấp mạn tính) [19]. Tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người trưởng thành đã tăng gấp đôi so với năm 1980, tăng từ 4,7% lên 8,5% [20].

Tỷ lệ này cao nhất ở khu vực Đông Địa Trung Hải và Châu Mỹ (11%) và thấp nhất ở khu vực Châu Âu và Tây Thái Bình Dương (9%) [21], [22]. ĐTĐ dẫn đến thiệt hại kinh tế không nhỏ. Dựa trên những ước tính chi phí y tế từ những tổng quan nghiên cứu gần đây, người ta ước tính chi phí trực tiếp do điều trị ĐTĐ là trên 827 tỉ đô la [23]. Tổ chức Y tế Thế giới và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ nhận định, THA đã và đang trở thành một vấn đề y tế công cộng chính hiện nay.

Trên toàn cầu, bệnh tim mạch gây ra khoảng 17 triệu trường hợp tử vong mỗi năm, tức chiếm tới 1/3 tổng số tử vong, mà trong đó, có tới 9,4 triệu ca là từ biến chứng của THA. THA là nguyên nhân gây ra ít nhất khoảng 45% ca tử vong do bệnh tim và 51% do đột quỵ [14]. Trong năm 2008, trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 40% người từ 25 tuổi trở lên được chẩn đoán mắc THA, tức số người mắc bệnh này đã tăng từ 600 triệu người vào năm 1980 lên thành 1 tỷ người vào năm 2008 [15]. Theo Tổ chức y tế thế giới (2014) trên thế giới tỷ lệ THA 8-18% dân số thay đổi từ các nước Châu Á như Indonesia 6-15%, Malaysia 10-11%, Đài Loan 28%, tới các nước Âu - Mỹ như Hà Lan 37%, Pháp 10-24%, Hoa Kỳ 24%.

Tỷ lệ THA ở người già tại Brazil (2013) là 46,9% [16], khu vực châu Phi là 46% [1]. THA là vấn đề ảnh hưởng đến 26% dân số trưởng thành trên thế giới. Năm 2000, có 972 triệu người mắc THA. Các nhà nghiên cứu đã ước tính rằng THA hiện đang giết chết 9 triệu người mỗi năm [1].

Số lượng người lớn bị 5 THA được dự đoán sẽ tăng lên khoảng 60%, con số đó vào khoảng 1,6 tỷ người vào năm 2025 [17]. Có tới 10% chi phí chăm sóc sức khỏe liên quan đến THA, chi phí hàng năm cho THA là 370 tỷ đô [18]. Một nghiên cứu [25] cho thấy, trong số người tử vong, tỷ trọng do BKLN tăng từ 56% năm 1990 lên 72% năm 2010, trong đó bệnh tim mạch chiếm 30%, ung thư 21%, bệnh đường hô hấp mạn tính 6%, tâm thần – kinh 2% và ĐTĐ 3%, tuy nhiên tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng của nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu. Riêng chi phí cho điều trị ĐTĐ đã chiếm khoảng 3 - 6% ngân sách dành cho y tế hàng năm.

Tại Việt Nam: Tại Việt Nam, trong những năm gần đây tỷ lệ mắc THA đang gia tăng một cách nhanh chóng: Theo điều tra của Viện Tim mạch Trung ương, tỷ lệ mắc THA ở người trưởng thành là 25,1% [21]. Trung bình giai đoạn 2002- 2008 mỗi năm tăng 1,3%, ước tính nếu tăng tương tự như giai đoạn trước, đến năm 2025 tỷ lệ người THA sẽ trên 35% [24]. Tóm lại, hiện nay ở Việt Nam, những nghiên cứu nêu trên góp phần củng cố và chứng minh rằng ĐTĐ và THA đã và đang có xu hướng tăng, diễn biến khó lường cùng những hậu quả nặng nề. Do đó, công tác phòng chống các bệnh này rất cần được quan tâm triển khai thực hiện.

Kiến thức của NVYT xã về phòng chống bệnh không lây nhiễm. Trạm y tế xã và công tác khám chữa bệnh. Trạm Y tế xã/phường/thị trấn (gọi chung là Trạm Y tế xã) là đơn vị y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Trung tâm Y tế huyện), được thành lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã). TYT xã có chức năng cung cấp, thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn xã [26], [27].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Đánh Giá Kiến Thức và Nhu Cầu Đào Tạo Về Bệnh Không Lây Nhiễm Của Nhân Viên Y Tế Tại Hòa Bình cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình kiến thức và nhu cầu đào tạo liên quan đến các bệnh không lây nhiễm trong đội ngũ nhân viên y tế tại tỉnh Hòa Bình. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và kỹ năng cho nhân viên y tế, nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc đào tạo không chỉ giúp nhân viên y tế nắm vững kiến thức mà còn góp phần giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm trong cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Thực trạng nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ từ 18 49 tuổi có chồng một số yếu tố liên quan và kết quả can thiệp cộng đồng tại thành phố cần thơ. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản và các biện pháp can thiệp hiệu quả trong cộng đồng. Mỗi tài liệu đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của sức khỏe cộng đồng và bệnh không lây nhiễm.