Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài: Đánh giá xác định học sinh có khó khăn học tập đặc thù về đọc, viết và toán trên địa bàn thành phố Hải Dương. Chương 2: Xây dựng bộ công cụ đánh giá học sinh khó khăn học tập đặc thù đọc, viết và toán ở các trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Hải Dương. Chương 3: Thực trạng học sinh có khó khăn học tập đặc thù về đọc, viết và toán ở các trường tiều học trên địa bàn Thành phố Hải Dương. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ XÁC ĐỊNH HỌC SINH CÓ KHÓ KHĂN HỌC TẬP ĐẶC THÙ VỀ ĐỌC, VIẾT VÀ TOÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về học sinh khuyết tật học tập Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà giáo dục đã gặp nhiều khó khăn trong việc lý giải tại sao có một bộ phận học sinh có thể làm tốt trong nghiên cứu học thuật, trong khi một bộ phận học sinh phải rất vất vả để đạt được thành công. Có một bộ phận học sinh cảm thấy bài tập ở trường rất dễ dàng để hoàn thành, trong khi những học sinh khác lại thấy việc học tập là một cơn ác mộng. Một số học sinh thành công ở cấp giáo dục tiểu học và trung học và tiến tới trình độ học vấn cao hơn; nhưng ngược lại cũng có những học sinh khác trở nên thất vọng về bản thân, cảm thấy thất bại với thành tích học tập của mình và bỏ học sớm.
Mặc dù, đã có nhiều nghiên cứu được đưa ra để giải thích về những vấn đề trên, nhưng khuyết tật học tập đặc thù hay còn được gọi là Learning Disabilities (LD) được coi là một trong những nguyên nhân chính khiến cho các em học sinh gặp nhiều khó khăn trong môi trường học đường. Các hình thức phổ biến nhất của LD đó là Khó khăn về đọc (dyslexia), khó khăn về viết (dysgraphia) và khó khăn về tính toán (Dyscalculia). Trường hợp LD được công nhận sớm nhất xảy ra vào năm 1802 được phát hiện bởi Franz Joseph Gall - một nhà giải phẫu học và nhà sinh lý học thần kinh người Đức và bác sĩ phẫu thuật của Napoleon khi họ nhận ra mối liên quan giữa chấn thương não ở binh sĩ và các rối loạn ngôn ngữ biểu cảm sau đó. Năm 1822, Gall đã xuất bản một cuốn sách có tựa đề Sur les Fonctions, trong đó, ông tin rằng bộ não được chia thành hai mươi bảy "cơ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan" riêng biệt, mỗi bộ phận tương ứng với một chức năng riêng trong cơ chế hoạt động của con người.
Do đó, bất kỳ sự không hoàn hảo nào trong cách thức, quy trình hoạt động, làm việc của mỗi cá nhân thì nguyên nhân đều bắt nguồn từ sự hoạt động không hoàn hảo của não bộ (Who, 2005). Năm 1877, Adolph Kassmaul - một bác sĩ người Đức - đã đặt ra cụm từ ―word blindness‖ - mù từ vì mất khả năng đọc Cụm từ, ngày nay vẫn được sử dụng để mô tả một dạng chứng khó đọc được gọi là Alexia, đề cập đến một rối loạn thần kinh đặc trưng bởi mất khả năng đọc hoặc hiểu từ viết. Chứng bệnh ―word blindness‖ cho phép cá nhân nhận ra các chữ cái, nhưng chỉ đọc được một số loại từ, cụm từ nhất định (Miller, 2002). Một bác sĩ nhãn khoa người Đức tên Rudolf Berlin đã là người đầu tiên khởi xướng việc sử dụng từ ―Dyslexia‖ khi nó liên quan đến khả năng đọc.
Cũng tại thời điểm đó, một bác sĩ nhãn khoa khác tên John Hinshelwood và Bác sĩ đa khoa W. Pringle Morgan cũng đã phát triển nghiên cứu về LD một cách chuyên sâu hơn. Năm 1896, Hinshelwood đã chỉ ra sự khác biệt giữa alexia - mù từ hoàn toàn - và dyslexia - vẫn có thể đọc được nhưng chỉ nhận diện được một số từ (Christenson, Griffin, & DeLand, 1988). Cả hai đều suy đoán rằng những khó khăn với việc đọc và viết là do mù từ bẩm sinh.
Và điều đó đã trở thành quan điểm chủ đạo xuyên suốt trong vài năm sau với việc nhấn mạnh rằng những khó khăn mà người khuyết tật học tập đặc thù gặp phải là do thiếu sót trong xử lý hình ảnh. Hinshelwood tiếp tục quan tâm đến vai trò của các yếu tố thị giác trong nguyên nhân của chứng khó đọc, đặc biệt là ở mức độ suy yếu dần của hệ thống thị giác. Vào đầu thế XX, các nhà tâm lý học và nhà nghiên cứu người Mỹ bắt đầu chú ý đến công việc nghiên cứu về LD được thực hiện bởi các đối tác châu Âu. Họ tập trung vào các mối quan hệ hành vi của não bộ ảnh hưởng tới kết quả học tập được thể hiện bởi cả trẻ em và người trưởng thành (Hallahan 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Hiện tượng khuyết tật học tập, sau đó được gọi là khuyết tật vô hình, lần đầu tiên được ghi nhận bởi Tiến sĩ Kurt Goldstein vào cuối những năm 1920. Tiếp bước Kurt Goldstein, những nhà nghiên cứu về LD cùng thời kỳ đó Samuel Orton, Grace Fernald, Marion Monroe và Samuel Kirk đã có những bước tiến đáng kể về việc nghiên cứu chỉ ra nhiều dạng khuyết tật học tập dặc thù. Samuel Orton đã hợp tác với vợ của mình, June Orton, để nghiên cứu về lĩnh vực khuyết tật ngôn ngữ. Họ cùng nhau tiến hành nghiên cứu, đào tạo các nhà giáo dục, nhà trị liệu, và can thiệp, trị liệu với các cá nhân gặp khó khăn trong việc đọc, viết.
Các nhà nghiên cứu về lich sử giáo dục nhận đinh rằng Orton và vợ của mình là hai trong số những cá nhân quan trọng nhất trong lịch sử nghiên cứu về chứng khó đọc dyslexia (Columbia, 2003). Orton theo học tại Đại học bang Ohio, Đại học y học Pennsylvania và Đại học Harvard. Cùng với Anna Gillingham, ông đã nghiên cứu tại khoa tâm bệnh tại Bệnh viện thành phố Boston vào năm 1905-1906. Ông đồng thời khởi xướng một chương trình hệ thống đào tạo, cải thiện chứng khó đọc dựa trên các mối liên kết thị giác - thính giác - động học.
Năm 1925, Orton đã xuất bản một bài báo chi tiết trình bày những nghiên cứu về chứng khó đọc của mình (Lloyd, 2005). Marion Monroe là cựu trợ lý nghiên cứu của Orton, trước khi chuyển đến Chicago, nơi cô làm việc tại Viện nghiên cứu vị thành niên. Trong công việc của mình, cô nhấn mạnh cách tiếp cận ngữ âm đối với việc đọc và tầm quan trọng của việc cung cấp cho học sinh thể hiện những khó khăn khi đọc với hướng dẫn chuyên sâu. Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, cô đã phân tích các nhóm học sinh gặp khó khăn về ngôn ngữ và đưa ra các kỹ thuật giáo dục mới.
Cô cũng giới thiệu khái niệm về sự khác biệt giữa học sinh bình thường và học sinh gặp khó khăn với ngôn ngữ như một cách xác định học sinh bị khuyết tật về đọc (Hallahan & Mercer, 2001). 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Samuel Kirk đã làm việc với Monroe tại Đại học Chicago, nơi ông có bằng thạc sĩ, và bị ảnh hưởng rất nhiều bởi công việc trị liệu phát âm của Monroe. Trong thời gian này, ông làm quen với một cậu bé, được nhà trường nhận định là mù chữ. Sau một thời gian làm việc với cậu bé, ông đã phát triển và cải tiến phương pháp đánh giá để xác định chính xác khuyết tật học tập ở trẻ em.
Ông chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc tạo ra Bài kiểm tra khả năng tâm lý học (ITPA) của Illinois để đánh giá các khả năng và khuyết tật về tâm lý học cụ thể ở trẻ nhỏ (Hallahan & Mercer, 2001). Bài kiểm tra này cũng tạo điều kiện đánh giá khả năng của một đứa trẻ trong các mục đích khắc phục và đánh giá khả năng nhận thức của trẻ trong giao tiếp. Năm 1936, ông là đồng tác giả cuốn sách Remedial Reading Drills cùng với T. Trong cùng khung thời gian này, một số nhà nghiên cứu châu Âu đã di cư đến Hoa Kỳ tiếp tục công việc của họ vì bất ổn chính trị ở quê nhà.
Họ đã tiến hành nghiên cứu về nhận thức, vận động tri giác và khuyết tật chú ý của người lớn bị chấn thương não (Hallahan & Mercer, 2001). Kurt Goldstein, Alfred Strauss, Laura Lehtinen và Newell Kephart đóng vai trò chính trong lĩnh vự nghiên cứu này. Strauss, cùng với Lehtinen và Kephart đã tạo ra loại chẩn đoán tổn thương não tối thiểu ở trẻ em. Ông cho rằng những đứa trẻ bị LD vốn là những người không bị chậm phát triển trí tuệ, khiếm thính hoặc rối loạn cảm xúc mà họ bị tổn thương não tối thiểu (Duchan, 2001).
Năm 1943, ông đã công bố kết luận nghiên cứu của mình với tiêu đề Chẩn đoán và giáo dục đứa trẻ bị khiếm khuyết, thiếu sót trong Tạp chí Exceptional Children. Việc nghiên cứu xác đinh hành vi của Strauss được nghiên cứu dựa trên những đứa trẻ bị tổn thương não tối thiểu, được gọi là Hội chứng Strauss. Laura Lehtinen làm việc với Strauss tại trường Wayne County tại Northville Michigan vào giữa những năm 1940 (Audiblox, 2000). Cả hai cùng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tin rằng kỹ năng học tập bình thường của học sinh sẽ được cải thiện nếu kỹ năng nhận thức của họ có thể được phát triển.
Năm 1947, Lehtinen cùng với Strauss đã xuất bản cuốn Psychopathology and education of the brain- injured child trong đó họ đề xuất phương pháp giảng dạy cụ thể liên quan đến nhận thức. Cô cũng đề nghị tránh tham chiếu quá nhiều đến các chữ cái b và d, bởi vì việc sử dụng liên tục các chữ cái đó gây nhầm lẫn cho học sinh (Friend, 2005). Kephart làm việc với Strauss tại Trường Cove vào cuối những năm l940 và l950. Tại thời điểm này, họ đã mở rộng phạm vi nghiên cứu về chấn thương não trong đó bao gồm cả những đứa trẻ có trí thông minh bình thường.
Họ lập luận rằng các vấn đề về nhận thức và vận động, nhận thức và hành vi được tìm thấy ở trẻ em bị tổn thương não cũng có thể được tìm thấy tương tự ở trẻ có trí thông minh bình thường. Vì vậy, họ kết luận rằng những đứa trẻ có trí thông minh bình thường cũng có thể gặp những vấn đề liên quan đến tổn thương não bộ; điều này khiến Kephart và Strauss lạc lối vì một lỗi trong suy luận và lỗi đó sẽ ảnh hưởng đến công việc của họ trong một thời gian dài (Hallahan & Mercer, 2001).