Tổng quan nghiên cứu

Ngành chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam giữ vị trí chiến lược trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đóng góp quan trọng vào nguồn cung cấp protein động vật cho xã hội. Trong cơ cấu chi phí sản xuất gia cầm, chi phí thức ăn thường chiếm tỷ trọng rất cao, dao động từ 70% đến 75% tổng giá thành sản phẩm. Những năm gần đây, thị hiếu người tiêu dùng có xu hướng chuyển mạnh sang sử dụng thịt và trứng từ các giống gà lông màu bản địa do hương vị thơm ngon và chất lượng thịt đặc trưng. Tuy nhiên, các giống gà nội thuần như gà Ri, gà Mía hay gà Hồ lại bộc lộ hạn chế lớn về năng suất sinh sản khi sản lượng trứng cả năm chỉ dao động khoảng 40 đến 70 quả/mái, không đáp ứng được quy mô chăn nuôi trang trại tập trung. Ngược lại, các giống gà ngoại nhập cao sản tuy có năng suất vượt trội nhưng khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của nước ta còn nhiều hạn chế.

Trước yêu cầu cấp thiết đó, công tác lai tạo và chọn lọc các tổ hợp lai gà lông màu vừa duy trì chất lượng thịt thơm ngon của gà nội, vừa tích hợp tiềm năng năng suất cao từ các giống nhập nội là hướng đi then chốt. Đề tài tập trung xác định và đánh giá toàn diện các chỉ tiêu sinh trưởng, tỷ lệ sống, khả năng tiêu thụ thức ăn và năng suất sinh sản của hai dòng gà mái lai VP4 và VP5 ở thế hệ thứ 4. Nghiên cứu được triển khai trên quy mô 600 cá thể gà mái tại Trại Thực nghiệm Liên Ninh, Thanh Trì, Hà Nội trong thời gian từ năm 2018 đến 2019, theo dõi liên tục từ 01 ngày tuổi đến 52 tuần tuổi. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống số liệu chuẩn xác để củng cố độ ổn định di truyền, nâng cao tỷ lệ nuôi sống đạt 92,33% đến 94,00% và năng suất trứng đạt 124,35 đến 128,61 quả/mái, tạo tiền đề vững chắc cho việc phát triển các tổ hợp lai gà thả vườn chất lượng cao tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết di truyền số lượng của các tính trạng sản xuất ở gia cầm. Về bản chất, các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ sinh trưởng, khối lượng cơ thể, sản lượng trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn đều là các tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ chi phối và chịu tác động mạnh mẽ của ngoại cảnh. Mô hình di truyền tổng quát được xác định theo công thức: giá trị kiểu hình bằng tổng của giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường (P = G + E). Trong đó, giá trị kiểu gen bao gồm giá trị cộng gộp (A), sai lệch trội (D) và sai lệch tương tác át gen (I); sai lệch môi trường gồm môi trường chung (Eg) và môi trường riêng (Es). Theo các công bố di truyền học, hệ số di truyền của sức sống ở gia cầm đạt khoảng 6%, sức kháng bệnh đạt 25%, năng suất trứng dao động từ 12% đến 30%, trong khi khối lượng trứng có hệ số di truyền rất cao, đạt từ 60% đến 74%.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng sâu sắc lý thuyết ưu thế lai trong lai kinh tế gia cầm. Phương pháp lai 3 máu được thực hiện bằng cách kết hợp dòng trống Dominant với dòng mái lai F1 giữa gà Ri vàng rơm và các dòng gà nhập nội (Lương Phượng hoặc Sasso). Sự kết hợp này nhằm tích hợp tối đa hiệu ứng sai lệch trội và tương tác gen không cộng tính, tạo ra ưu thế lai từ 5% đến 20% trên đàn con lai thương phẩm. Các khái niệm chính được sử dụng xuyên suốt bao gồm: sinh trưởng tích lũy (khối lượng tuyệt đối qua các mốc tuần tuổi), tuổi thành thục sinh dục (ngày tuổi đẻ quả trứng đầu và ngày tuổi đàn đạt tỷ lệ đẻ 5%), tỷ lệ đẻ đỉnh cao, và hiệu quả chuyển hóa thức ăn tính theo lượng thức ăn tiêu tốn cho 10 quả trứng tiêu chuẩn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu thực nghiệm gồm 600 gà mái hậu bị, chia đều thành 300 cá thể dòng VP4 và 300 cá thể dòng VP5 thế hệ thứ 4. Phương pháp chọn mẫu được thực hiện bằng kỹ thuật phân biệt giới tính qua lỗ huyệt ngay lúc 01 ngày tuổi nhằm chọn lọc những cá thể mái đạt tiêu chuẩn ngoại hình, lông tơ khô xốp và khối lượng đồng đều. Thí nghiệm được thiết kế theo mô hình một nhân tố ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD) với 2 công thức thí nghiệm tương ứng cho 2 dòng gà. Mỗi công thức được lặp lại 3 lần (3 lô nuôi, mỗi lô gồm 100 con) trong cùng một dãy chuồng nuôi thông thoáng tự nhiên có kiểm soát tiểu khí hậu.

Quy trình nuôi dưỡng chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn gà con từ 1 đến 8 tuần tuổi cho ăn tự do với khẩu phần chứa 18% protein thô và 2900 kcal năng lượng trao đổi/kg; giai đoạn hậu bị từ 9 đến 19 tuần tuổi cho ăn hạn chế nghiêm ngặt ở mức 6048 gam thức ăn/con với khẩu phần 14-15% protein thô; giai đoạn gà đẻ từ 20 đến 52 tuần tuổi sử dụng thức ăn có 15-16% protein thô và 2750 kcal năng lượng trao đổi/kg. Các chỉ tiêu sinh trưởng được theo dõi bằng cách kẹp số cánh và cân cá thể cố định 30 con/lô vào buổi sáng hàng tuần trước khi cho ăn. Chất lượng trứng được khảo sát ở 38 tuần tuổi với dung lượng mẫu 30 quả/dòng trên hệ thống thiết bị đo FHK Nhật Bản và quạt so màu Roche. Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý bằng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) trên phần mềm chuyên dụng Minitab 16 và Microsoft Excel 2010. Lý do lựa chọn mô hình ANOVA là để kiểm định chính xác mức độ sai khác có ý nghĩa thống kê ở ngưỡng xác suất P < 0,05 giữa hai dòng gà và đánh giá độ ổn định di truyền qua các thế hệ chọn lọc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình theo dõi và đánh giá hai dòng gà mái VP4 và VP5 thế hệ 4 đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

  • Độ ổn định cao về đặc điểm ngoại hình: Lúc 01 ngày tuổi, màu lông vàng sọc lưng chiếm tỷ lệ áp đảo với 67,33% ở dòng VP4 và 69,33% ở dòng VP5. Đến 20 tuần tuổi, đàn gà phân hóa rõ nét thành 2 nhóm màu lông chính, trong đó nhóm màu nâu vàng đốm đen (cánh sẻ) chiếm đa số với 83,03% ở dòng VP4 và 86,64% ở dòng VP5, các cá thể đều có mào cờ đỏ tươi, da chân và da thân màu vàng nhạt, dái tai màu phấn trắng đặc trưng.
  • Khả năng sinh trưởng và sức sống vượt trội: Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 1 - 20 tuần tuổi của dòng VP4 đạt 94,00%, cao hơn dòng VP5 đạt 92,33%. Khối lượng cơ thể lúc 20 tuần tuổi của gà VP4 đạt 1648,67 gam, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với gà VP5 đạt 1566,33 gam (chênh lệch 82,34 gam; P < 0,05).
  • Mức tiêu thụ thức ăn giai đoạn hậu bị hợp lý: Tổng lượng thức ăn tiêu thụ cả giai đoạn 1 - 20 tuần tuổi ở dòng VP4 là 8129,73 gam/con và dòng VP5 là 8057,89 gam/con. Mức tiêu thụ này thấp hơn từ 688 đến 706 gam so với các dòng gà Ri cải tiến trước đây (8748 - 8764 gam/con), giúp tiết kiệm đáng kể chi phí nuôi hậu bị.
  • Năng suất sinh sản và phẩm chất trứng ưu việt: Dòng VP4 bắt đầu đẻ trứng đầu lúc 141 ngày tuổi, đạt tỷ lệ đẻ đỉnh cao 70,75% ở tuần tuổi 29 và cho năng suất 124,35 quả/mái/52 tuần tuổi. Dòng VP5 đẻ quả đầu lúc 144 ngày tuổi, đạt đỉnh cao 75,68% ở tuần tuổi 30 và đạt năng suất 128,61 quả/mái/52 tuần tuổi (cao hơn VP4 4,26 quả). Mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng của dòng VP5 là 2,03 kg, thấp hơn dòng VP4 là 2,20 kg (tiết kiệm 7,73% chi phí thức ăn). Tỷ lệ phôi đạt 92,73% ở VP4 và 93,42% ở VP5; tỷ lệ gà loại I/tổng trứng ấp đạt 80,53% ở VP4 và 83,70% ở VP5.

Thảo luận kết quả

Khả năng sinh trưởng của hai dòng gà phản ánh đúng quy luật sinh học tự nhiên của gia cầm. Động thái tăng trọng được mô tả trực quan qua đồ thị đường cong sinh trưởng tích lũy dạng hàm Sigmoid. Trong đó, giai đoạn 1 - 4 tuần tuổi có độ dốc thấp do chức năng tiêu hóa và điều tiết thân nhiệt chưa hoàn thiện; từ tuần thứ 5 đến tuần thứ 16, độ dốc đồ thị tăng nhanh tương ứng với giai đoạn phát triển khung xương và cơ bắp; sau 17 tuần tuổi, tốc độ tăng trọng chậm dần và đạt trạng thái ổn định khi bước vào giai đoạn thành thục sinh dục.

Đường cong tỷ lệ đẻ từ tuần 21 đến 52 được minh họa tối ưu qua biểu đồ dạng Parabol lệch. Tỷ lệ đẻ tăng vọt sau khi đạt mốc 5% để chạm đỉnh ở tuần 29 (70,75% đối với VP4) và tuần 30 (75,68% đối với VP5), sau đó giảm dần đều theo quy luật sinh lý buồng trứng. Dữ liệu chất lượng trứng và tỷ lệ ấp nở khi được tổng hợp qua bảng phân tích tần số cho thấy các chỉ tiêu lòng đỏ, lòng trắng và đơn vị Haugh đều đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. So với các giống gà nội thuần như gà Ri chỉ đẻ 80 - 90 quả/năm hay các giống gà ngoại như Sasso bố mẹ tiêu tốn 2,98 kg thức ăn/10 trứng, hai dòng VP4 và VP5 thể hiện khả năng thích nghi và hiệu quả kinh tế vượt trội trong điều kiện chăn nuôi tại Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả thực nghiệm đạt được, bốn giải pháp trọng tâm được đề xuất nhằm khai thác tối đa tiềm năng di truyền của hai dòng gà:

  • Tuyển chọn và củng cố độ thuần màu lông ngoại hình: Các nhà tạo giống tại Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi cần tiến hành chọn lọc cá thể nghiêm ngặt ở thế hệ thứ 5, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ gà mái có màu lông nâu vàng đốm đen đạt trên 90% (tăng từ 3% đến 7% so với thế hệ 4) trong lộ trình 12 tháng tới.
  • Chuẩn hóa định mức dinh dưỡng giai đoạn gà hậu bị: Cán bộ kỹ thuật trại thực nghiệm cần duy trì nghiêm ngặt chế độ cho ăn hạn chế từ tuần tuổi thứ 9 đến tuần thứ 20 với định mức 6048 gam thức ăn/con, khống chế khối lượng cơ thể gà VP4 ở mức 1640 - 1660 gam và gà VP5 ở mức 1550 - 1580 gam trước khi vào đẻ nhằm đảm bảo tỷ lệ đẻ đỉnh cao đạt trên 75%.
  • Chuyển giao và nhân rộng mô hình chăn nuôi thương phẩm: Trung tâm Khuyến nông quốc gia phối hợp cùng các doanh nghiệp chăn nuôi triển khai mô hình nuôi gà bố mẹ dòng VP5 tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc, hướng tới mục tiêu cung ứng 500.000 gà giống thương phẩm lông màu/năm trong giai đoạn 2020 - 2025 với mức tiêu tốn thức ăn duy trì dưới 2,05 kg cho 10 quả trứng.
  • Tối ưu hóa quy trình kỹ thuật ấp nở công nghiệp: Bộ phận kỹ thuật máy ấp tại các trạm giống cần kiểm soát chặt chẽ nhiệt độ và ẩm độ buồng ấp theo từng giai đoạn phát triển của phôi trứng, phấn đấu nâng tỷ lệ trứng có phôi đạt trên 93,5% và tỷ lệ gà con loại I/tổng trứng ấp đạt trên 85% trong toàn bộ các đợt ấp hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Nhà nghiên cứu và chuyên gia di truyền giống vật nuôi: Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị về các tham số di truyền số lượng, quy luật phân ly màu lông và hiệu ứng ưu thế lai của công thức lai 3 máu qua 4 thế hệ, làm cơ sở khoa học để thiết kế các chương trình chọn giống gia cầm lông màu tiếp theo.
  • Cán bộ kỹ thuật và quản lý trang trại chăn nuôi gia cầm: Cung cấp bộ quy chuẩn kỹ thuật chi tiết về lộ trình tăng trọng từ 40 gam lúc 01 ngày tuổi đến 1648 gam lúc 20 tuần tuổi, định mức khẩu phần ăn và lịch chiếu sáng tối ưu, giúp vận hành hiệu quả đàn gà giống bố mẹ đạt năng suất trên 124 quả/mái.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y: Nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực phục vụ học phần Chọn giống gia súc gia cầm và Kỹ thuật chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là phương pháp bố trí thí nghiệm CRD và kỹ thuật phân tích phương sai ANOVA trên Minitab 16.
  • Doanh nghiệp sản xuất giống và trang trại thương phẩm: Cung cấp cơ sở thực chứng để đầu tư phát triển dòng gà mái VP5 có chỉ số tiêu tốn thức ăn thấp (2,03 kg/10 trứng) và tỷ lệ gà con loại I cao (83,70%), giúp hạ giá thành sản xuất con giống từ 5% đến 8% so với phương thức truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt cơ bản về nguồn gốc di truyền giữa hai dòng gà mái VP4 và VP5 là gì?

Dòng VP4 được tạo ra từ công thức lai giữa gà trống Dominant với đàn mái lai F1 giữa gà Ri vàng rơm và gà Lương Phượng. Trong khi đó, dòng VP5 là kết quả lai giữa trống Dominant với đàn mái lai F1 giữa gà Ri vàng rơm và gà Sasso. Cả hai dòng đều mang 50% máu Dominant, 25% máu Ri và 25% máu của giống nhập nội tương ứng.

Tại sao cần áp dụng chế độ ăn hạn chế nghiêm ngặt cho gà hậu bị từ 9 đến 20 tuần tuổi?

Việc khống chế lượng thức ăn ở mức định mức 6048 gam/con trong giai đoạn 9 đến 20 tuần tuổi giúp kiểm soát khối lượng cơ thể gà không bị quá béo, tránh hiện tượng tích mỡ vùng bụng làm thoái hóa ống dẫn trứng. Điều này giúp bộ khung xương hoàn thiện cân đối, đưa khối lượng vào đẻ đạt chuẩn từ 1566 đến 1648 gam để đàn gà đạt tỷ lệ đẻ đỉnh cao trên 70%.

Dòng gà nào thể hiện hiệu quả sản xuất trứng và tiết kiệm chi phí thức ăn vượt trội hơn?

Dòng gà mái VP5 thể hiện tiềm năng sinh sản vượt trội hơn với năng suất trứng đạt 128,61 quả/mái/52 tuần tuổi (cao hơn dòng VP4 4,26 quả). Đồng thời, mức tiêu tốn thức ăn để sản xuất 10 quả trứng của dòng VP5 chỉ là 2,03 kg, tiết kiệm hơn 0,17 kg thức ăn so với dòng VP4 (2,20 kg), mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn trong sản xuất giống.

Đặc điểm ngoại hình của hai dòng gà ở thế hệ thứ 4 đã đạt độ ổn định chưa?

Đặc điểm ngoại hình của cả hai dòng gà ở thế hệ 4 đã đạt độ đồng nhất rất cao. Ở 20 tuần tuổi, nhóm màu lông nâu vàng đốm đen chiếm tỷ lệ chủ yếu với 83,03% ở dòng VP4 và 86,64% ở dòng VP5. Các đặc trưng ngoại hình thương phẩm như chân vàng, mào cờ đỏ tươi và da vàng nhạt đều biểu hiện rất đồng đều trên toàn đàn.

Kết quả ấp nở của trứng giống từ hai dòng gà đạt mức độ như thế nào?

Kết quả ấp nở của cả hai dòng đều đạt mức rất cao trong thực nghiệm. Dòng gà VP4 đạt tỷ lệ trứng có phôi 92,73% và tỷ lệ gà loại I/tổng trứng ấp là 80,53%. Dòng gà VP5 đạt kết quả cao hơn với tỷ lệ trứng có phôi đạt 93,42% và tỷ lệ gà con loại I/tổng trứng ấp đạt 83,70%.

Kết luận

  • Khẳng định độ ổn định di truyền cao về ngoại hình ở thế hệ 4 với trên 83% gà mái mang màu lông nâu vàng đốm đen và các đặc tính ngoại hình được thị trường ưa chuộng.
  • Xác định tỷ lệ nuôi sống vượt trội trong suốt giai đoạn 1 - 20 tuần tuổi, đạt 94,00% ở dòng VP4 và 92,33% ở dòng VP5.
  • Chứng minh tiềm năng năng suất trứng cao đạt 124,35 quả ở VP4 và 128,61 quả ở VP5 sau 52 tuần tuổi, với tỷ lệ đẻ đỉnh cao đạt từ 70,75% đến 75,68%.
  • Ghi nhận hiệu quả kinh tế rõ rệt qua chỉ số tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng chỉ từ 2,03 kg đến 2,20 kg cùng tỷ lệ gà con loại I đạt trên 80%.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực chứng để đưa hai dòng gà mái VP4 và VP5 vào hệ thống giống quốc gia phục vụ phát triển chăn nuôi bền vững.

Trong giai đoạn 2020 - 2021, công tác nghiên cứu cần tiếp tục theo dõi thế hệ thứ 5 để củng cố độ đồng đều ngoại hình lên trên 90%. Các đơn vị nghiên cứu, cơ sở sản xuất giống và người chăn nuôi hãy ứng dụng ngay các kết quả và công thức lai của luận văn nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng đàn gia cầm thương phẩm.