Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây ngô (Zea mays L.) giữ vị trí là một trong ba cây lương thực thiết yếu trên phạm vi toàn cầu, đóng vai trò then chốt trong chuỗi cung ứng lương thực cho con người và thức ăn chăn nuôi. Theo số liệu tác giả trích dẫn từ Dương Văn Sơn và cộng sự (1997), khoảng 66% sản lượng ngô toàn cầu được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi (76% ở các nước phát triển và 57% ở các nước đang phát triển); 17% sản lượng ngô được sử dụng trực tiếp làm lương thực, đặc biệt chiếm tỷ lệ áp đảo tại một số quốc gia như Ấn Độ (90%) và Philippines (66%). Giai đoạn 1961–2013, diện tích ngô thế giới mở rộng từ 105,48 triệu hecta lên 184,2 triệu hecta, sản lượng tăng từ 205 triệu tấn lên 1.016,4 triệu tấn (FAOSTAT, 2014).

Tại Việt Nam, sản xuất ngô có sự gia tăng đáng kể từ khi đưa giống ngô lai vào cơ cấu canh tác. Năm 2013, diện tích ngô cả nước đạt 1.172,5 nghìn hecta với tỷ lệ ngô lai chiếm khoảng 95%, năng suất bình quân 44,3 tạ/ha và sản lượng đạt trên 5,19 triệu tấn (FAO, 2015). Dù vậy, năng suất ngô nước ta thời điểm này chỉ bằng khoảng 80,3% năng suất bình quân của thế giới. Trước nhu cầu tiêu thụ nông sản gia tăng và định hướng chiến lược của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhằm đạt sản lượng 9–10 triệu tấn ngô vào năm 2020, giải pháp cải tiến bộ giống được xác định là khâu kỹ thuật trọng tâm giúp tăng năng suất từ 20–25%.

Tỉnh Thái Nguyên thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích tự nhiên 3.820 km², sản xuất nông nghiệp gặp nhiều hạn chế do địa hình đồi núi chia cắt, đất đai xói mòn bạc màu, tưới tiêu khó khăn. Giai đoạn 2002–2013, diện tích ngô của tỉnh dao động từ 11,6 nghìn ha đến 20,6 nghìn ha; năng suất biến động không ổn định trong khoảng 32,6–43,2 tạ/ha và đạt 42,6 tạ/ha vào năm 2013 (Tổng cục Thống kê, 2015). Thực trạng trên bắt nguồn từ cơ cấu giống hạn chế, thiếu các giống ngô lai cho năng suất cao và thích nghi tốt với tiểu vùng sinh thái. Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là điểm nghiên cứu đại diện cho vùng miền núi phía Bắc, đảm nhận nhiệm vụ khảo nghiệm các tổ hợp lai có triển vọng trước khi đưa vào sản xuất diện rộng.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định được giống ngô lai có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt, thích nghi với điều kiện sinh thái tại tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở chọn giống cho vùng núi phía Bắc. Đề tài xác lập 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống ngô lai trong điều kiện vụ Xuân năm 2015 tại Thái Nguyên.
  2. Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh lý của các giống thí nghiệm.
  3. Nghiên cứu một số đặc tính chống chịu của các giống ngô lai thí nghiệm (chống chịu sâu bệnh, chống đổ...).
  4. So sánh và sơ bộ kết luận về khả năng sinh trưởng của các giống ngô lai thí nghiệm.

Đối tượng nghiên cứu gồm 07 giống ngô lai mới do Viện Nghiên cứu Ngô chọn tạo (ký hiệu: VN8, VN9, VN10, VN11, VN12, VN13, VN14) và 01 giống ngô lai đối chứng là NK7328 (giống ngô lai đơn của Công ty TNHH Syngenta Việt Nam có nguồn gốc từ Thái Lan, thời gian sinh trưởng 105–115 ngày). Thí nghiệm được bố trí trên đất cát pha chuyên trồng màu, vụ trước trồng ngô, tại phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên; thời gian nghiên cứu trong vụ Xuân 2015 (gieo hạt ngày 25/02/2015).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng lý thuyết di truyền học về hiện tượng ưu thế lai (heterosis) hình thành từ các nghiên cứu kinh điển của Charles Darwin (1871), W. J. Beal (1876), G. H. Shull (1904, 1908), D. F. Jones (1918) và các thành tựu khai thác dòng thuần, ưu thế lai từ Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT), Viện Nghiên cứu Ngô Việt Nam. Nghiên cứu tuân thủ Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô (QCVN 01-56:2011/BNNPTNT) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành.

Quy trình thực nghiệm đồng ruộng được thiết kế và triển khai cụ thể:

  • Phương pháp bố trí thí nghiệm: Áp dụng khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD - Randomized Complete Block Design) với 3 lần nhắc lại, 8 công thức (7 giống lai mới và 1 giống đối chứng), tổng số 24 ô thí nghiệm. Diện tích mỗi ô là 7,0 m² (dài 5,0 m × rộng 1,4 m), dải bảo vệ cách nhau 1,0 m. Mật độ gieo trồng 5,7 vạn cây/ha (khoảng cách 70 cm × 25 cm × 1 cây/hốc).
  • Quy trình phân bón và canh tác: Nền phân bón áp dụng gồm 2 tấn phân vi sinh/ha kết hợp lượng phân khoáng nguyên chất là 150 kg N : 90 kg P₂O₅ : 90 kg K₂O/ha, tương đương 326,09 kg đạm urê, 562,5 kg supe lân và 150 kg kaliclorua/ha. Kỹ thuật bón: bón lót toàn bộ phân vi sinh và phân lân; bón thúc lần 1 khi ngô đạt 3–5 lá (1/2 N + 1/2 K₂O, kết hợp xới xáo phá váng); bón thúc lần 2 khi cây đạt 7–9 lá (toàn bộ lượng phân còn lại, kết hợp vun cao chống đổ).
  • Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định:
    • Thời gian sinh trưởng: Ghi nhận số ngày từ gieo đến trỗ cờ (>50% số cây xuất hiện nhánh cuối bông cờ), tung phấn (>50% số cây nở hoa ở 1/3 trục chính bông cờ) và phun râu (>50% số cây xuất hiện râu dài 2–3 cm ngoài lá bi).
    • Hình thái và sinh lý: Chiều cao cây (đo từ mặt đất đến điểm phân nhánh bông cờ đầu tiên), chiều cao đóng bắp (từ mặt đất đến đốt mang bắp trên cùng), tổng số lá trên cây, đường kính gốc thân, số rễ chân kiềng. Diện tích lá được tính qua hệ số 0,75 (Chiều dài × Chiều rộng tối đa × 0,75); Chỉ số diện tích lá (CSDTL, m² lá/m² đất) = Diện tích lá/cây × Mật độ cây/m².
    • Tốc độ tăng trưởng: Đo chiều cao cây và đếm số lá ở 5 mốc thời gian (20, 30, 40, 50, 60 ngày sau gieo) trên 10 cây mẫu/ô để tính tốc độ tăng trưởng (cm/ngày và lá/ngày).
    • Khả năng chống chịu: Sâu đục thân (Chilo partellus) đánh giá ở giai đoạn chín sáp theo thang điểm từ cấp 1 (<5% cây bị hại) đến cấp 5 (35–50% cây bị hại). Đánh giá khả năng chống đổ rễ (tỷ lệ cây nghiêng ≥30° so với phương thẳng đứng) và gãy thân dưới bắp (phân cấp từ Tốt: <5% đến Rất kém: >50%).
    • Cấu thành năng suất và năng suất: Theo dõi số bắp hữu hiệu/cây, chiều dài bắp, đường kính bắp, số hàng hạt/bắp, số hạt/hàng, khối lượng 1000 hạt (M1000). Độ ẩm hạt khi thu hoạch (A₀) được đo bằng máy đo điện tử Kett 400 (Nhật Bản). Năng suất lý thuyết (NSLT, tạ/ha) tính theo mật độ, số bắp, số hạt và M1000. Năng suất thực thu (NSTT, tạ/ha) được tính từ khối lượng bắp thu hoạch 2 hàng giữa ô (S = 7 m²), quy đổi qua tỷ lệ hạt/bắp và hiệu chỉnh về độ ẩm bảo quản tiêu chuẩn 14%.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán trung bình, độ lệch chuẩn trên phần mềm Microsoft Excel 2010; phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa thống kê (LSD) ở mức xác suất P < 0,05 bằng phần mềm chuyên dụng IRRISTAT.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của cây ngô trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp thế giới và Việt Nam, nhấn mạnh nhu cầu chuyển dịch cơ cấu giống nhằm gia tăng năng suất trong bối cảnh diện tích đất canh tác khó mở rộng. Xác định rõ mục đích, 4 yêu cầu chuyên môn, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung nguồn gen ưu tú cho tỉnh Thái Nguyên và ý nghĩa thực hành nghiên cứu nông học đối với sinh viên chuyên ngành Trồng trọt.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện các nghiên cứu và số liệu thứ cấp:

  • Cơ sở khoa học: Phân tích nguyên lý chọn tạo giống ngô lai, vai trò của việc khảo nghiệm nhằm chọn lọc kiểu hình thích ứng, loại bỏ các dòng có nhược điểm về sinh trưởng, chống đổ và sâu bệnh.
  • Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam: Hệ thống hóa số liệu diện tích, năng suất, sản lượng ngô toàn cầu giai đoạn 2001–2013 (năm 2013 thế giới đạt 184,19 triệu ha; 55,2 tạ/ha; 1.016,73 triệu tấn); phân tích vị thế sản xuất ngô của Mỹ (năng suất 99,7 tạ/ha), Trung Quốc (61,7 tạ/ha) và Israel (225,6 tạ/ha). Nêu rõ quá trình phát triển ngô tại Việt Nam qua 3 giai đoạn (1960–1980; 1981–1992; 1993 đến nay), chi tiết hóa số liệu các vùng sinh thái năm 2013 và thực trạng sản xuất tại Thái Nguyên giai đoạn 2002–2013.
  • Lịch sử nghiên cứu chọn tạo giống ngô: Điểm lại các mốc lịch sử từ John Lorain (1812), Charles Darwin (1871), W. J. Beal (1876), G. H. Shull (1904), D. F. Jones (1918) đến sự ra đời của CIMMYT (1960); lược khảo kết quả chọn tạo các giống ngô lai không quy ước (LS-5, LS-6, LS-7, LS-8) và ngô lai đơn (LVN4, LVN10, LVN20, HQ2000, VN8960, LCH9...) của Viện Nghiên cứu Ngô và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đặc điểm sinh học của 7 giống ngô lai thí nghiệm và giống đối chứng NK7328. Mô tả điều kiện đất đai tại địa bàn phường Quang Vinh (đất cát pha, chua nghèo dinh dưỡng), diễn biến khí hậu vụ Xuân 2015. Thiết lập quy trình bón phân chuẩn hóa theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Quy định sơ đồ bố trí 24 ô thí nghiệm theo mô hình RCBD, công thức tính toán chỉ tiêu hình thái, sinh lý, chống chịu, cấu thành năng suất và quy trình thống kê sai khác bằng IRRISTAT.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 cung cấp toàn bộ các số liệu thực nghiệm thu thập được qua 5 nhóm chỉ tiêu:

  1. Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển: Thời gian từ gieo đến trỗ cờ của các giống dao động trong khoảng 65–69 ngày, tung phấn từ 66–70 ngày và phun râu từ 66–70 ngày. Tất cả 7 giống lai mới đều đạt các mốc trỗ cờ, tung phấn và phun râu sớm hơn giống đối chứng NK7328 có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất P < 0,05.
Giống thí nghiệm Thời gian gieo - trỗ cờ (ngày) Thời gian gieo - tung phấn (ngày) Thời gian gieo - phun râu (ngày)
VN8 65 66 66
VN9 67 67 67
VN10 66 67 67
VN11 67 68 68
VN12 67 67 66
VN13 66 67 67
VN14 67 68 69
NK7328 (đ/c) 69 70 70
LSD₀₅ 0,87 1,00 0,80
CV (%) 0,7 0,8 0,7
  1. Đặc điểm hình thái và sinh lý: Chiều cao cây dao động từ 207,97 cm (VN12) đến 225,47 cm (VN14). Giống VN14 cao hơn đối chứng (213,93 cm) ở mức P < 0,05, trong khi các giống khác tương đương đối chứng. Chiều cao đóng bắp dao động từ 103,20 cm (VN13) đến 119,06 cm (VN14); các giống VN8 (108,30 cm), VN12 (106,86 cm) và VN13 (103,20 cm) có chiều cao đóng bắp thấp hơn đối chứng NK7328 (116,53 cm) ở mức LSD₀₅ = 6,59 cm. Tỷ lệ chiều cao đóng bắp/chiều cao cây nằm trong giới hạn cân đối 48,5–54,5%. Số lá trên cây ổn định từ 19,13–19,97 lá (sai khác không có ý nghĩa thống kê, P > 0,05). Chỉ số diện tích lá (CSDTL) biến động từ 3,49–4,13 m² lá/m² đất ở các giống mới, thấp hơn đối chứng NK7328 (4,91 m² lá/m² đất) ở mức P < 0,05. Đường kính gốc đạt từ 1,86 cm (VN12) đến 2,28 cm (VN14); số rễ chân kiềng dao động từ 12,06–14,93 cái/cây và không có sự sai khác thống kê so với đối chứng (12,13 cái/cây).

  2. Động thái tăng trưởng chiều cao và tốc độ ra lá: Tốc độ tăng trưởng chiều cao của các giống tăng dần từ sau gieo 20 ngày (0,95–1,09 cm/ngày) đến 40 ngày (đạt đỉnh từ 6,70–8,26 cm/ngày). Ở mốc 50 ngày sau gieo, tốc độ tăng trưởng chiều cao giảm xuống còn 3,63–4,53 cm/ngày do nhiệt độ môi trường giảm, sau đó tăng trở lại ở mốc 60 ngày (5,76–7,67 cm/ngày). Tốc độ ra lá tăng dần và đạt cao nhất ở giai đoạn 40 ngày sau gieo (0,36–0,40 lá/ngày); ở mốc 50 ngày, giống VN12 duy trì tốc độ ra lá 0,24 lá/ngày, cao hơn giống đối chứng (0,19 lá/ngày).

  3. Khả năng chống chịu sâu bệnh và đổ ngã: Sâu đục thân (Chilo partellus) gây hại ở mức độ nhẹ, dao động từ điểm 1 đến 3. Trong đó, giống VN13 đạt điểm 1 (tỷ lệ hại <5%), tương đương đối chứng NK7328; các giống VN8, VN9, VN10, VN12 đạt điểm 2; VN11 và VN14 đạt điểm 3. Về chống đổ, các giống VN8, VN10, VN11, VN12, VN14 đạt điểm 1 (chống đổ tốt, gãy thân <5%), tương đương đối chứng NK7328; riêng VN9 và VN13 đạt điểm 2 (khá, tỷ lệ gãy thân từ 5–15%).

Giống thí nghiệm Sâu đục thân (Điểm 1 - 5) Đổ thân/Gãy thân (Điểm 1 - 5)
VN8 2 1
VN9 2 2
VN10 2 1
VN11 3 1
VN12 2 1
VN13 1 2
VN14 3 1
NK7328 (đ/c) 1 1
  1. Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: Số bắp hữu hiệu/cây không có sai khác thống kê giữa các giống, đạt 0,90–1,10 bắp/cây. Chiều dài bắp dao động từ 15,93–18,45 cm, trong đó VN12 và VN13 có chiều dài bắp vượt đối chứng ở mức P < 0,05. Đường kính bắp biến động từ 4,2–5,1 cm; VN8 (5,1 cm) và VN12 (4,9 cm) lớn hơn đối chứng có ý nghĩa. Số hàng hạt/bắp đạt 12,5–16,7 hàng (VN8 cao nhất: 16,7 hàng). Số hạt/hàng biến động từ 32,2–38,4 hạt; các giống VN9, VN10, VN13 cao hơn đối chứng ở mức P < 0,05. Khối lượng 1000 hạt dao động từ 268,95 g (VN10) đến 384,19 g.

Về năng suất: Năng suất lý thuyết dao động từ 73,92 đến 109,16 tạ/ha, sai khác giữa các giống không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05, LSD₀₅ = 22,4 tạ/ha). Năng suất thực thu đạt từ 67,20 đến 98,34 tạ/ha, thể hiện sai khác rõ rệt ở mức ý nghĩa P < 0,05 (LSD₀₅ = 11,7 tạ/ha).

Giống thí nghiệm Chiều dài bắp (cm) Đường kính bắp (cm) Số hàng hạt/bắp Số hạt/hàng M1000 (g) NSLT (tạ/ha) NSTT (tạ/ha)
VN8 16,7 5,1 16,7 32,2 345,12 98,26 97,66
VN9 17,2 4,6 13,8 38,4 340,50 95,55 82,41
VN10 16,8 4,7 15,2 37,1 268,95 83,04 74,47
VN11 16,2 4,2 12,5 34,6 325,40 85,36 78,01
VN12 18,4 4,9 15,6 35,5 384,19 109,16 98,34
VN13 18,2 4,5 13,2 36,8 338,20 93,30 81,53
VN14 16,5 4,5 13,4 33,5 332,60 84,14 74,73
NK7328 (đ/c) 16,4 4,5 14,8 33,2 335,10 73,92 67,20
LSD₀₅ - - - - - 22,4 11,7
P - - - - - >0,05 <0,05

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về khả năng sinh trưởng, tính chống chịu và xếp hạng năng suất thực thu của các giống. Tác giả kiến nghị tiếp tục khảo nghiệm các tổ hợp lai có triển vọng ở các mùa vụ tiếp theo.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống dẫn liệu thực nghiệm đầy đủ về đặc tính nông sinh học và năng suất của 7 giống ngô lai mới được chọn tạo trong nước khi canh tác tại vùng đất màu Thái Nguyên trong vụ Xuân 2015:

  • Hiệu quả năng suất vượt trội: Bốn giống ngô lai VN12, VN8, VN9 và VN13 cho năng suất thực thu vượt giống đối chứng NK7328 (67,20 tạ/ha) ở mức ý nghĩa thống kê 95% (LSD₀₅ = 11,7 tạ/ha). Nổi bật nhất là giống VN12 đạt năng suất thực thu 98,34 tạ/ha (cao hơn đối chứng 31,14 tạ/ha) và giống VN8 đạt 97,66 tạ/ha (cao hơn đối chứng 30,46 tạ/ha). Hai giống VN9 và VN13 lần lượt đạt 82,41 tạ/ha và 81,53 tạ/ha. Các giống còn lại gồm VN11 (78,01 tạ/ha), VN14 (74,73 tạ/ha) và VN10 (74,47 tạ/ha) cho năng suất tương đương giống đối chứng.
  • Tính trạng hình thái và khả năng chống chịu: Các giống tham gia khảo nghiệm có thời gian trỗ cờ (65–67 ngày) và phun râu (66–69 ngày) sớm hơn đối chứng NK7328 từ 1 đến 4 ngày, giúp rút ngắn thời gian sinh trưởng sinh dưỡng. Tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao cây dao động hợp lý (48,5–52,8%), giúp cây đứng vững. Hầu hết các giống đạt khả năng chống gãy thân ở điểm 1 (<5% cây gãy). Về mức độ hại của sâu đục thân, giống VN13 đạt điểm 1 (<5% cây bị hại), tương đương giống đối chứng nhập nội NK7328.
  • Giải pháp và đề xuất của tác giả: Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, tác giả đề nghị tiếp tục bố trí nghiên cứu, khảo nghiệm bộ giống này ở các vụ tiếp theo nhằm kiểm chứng độ ổn định di truyền và mức độ thích ứng trước khi hoàn thiện hồ sơ công nhận bổ sung vào cơ cấu cây trồng vụ Xuân tại địa phương.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn: Công trình xác lập cơ sở dữ liệu định lượng so sánh giữa các giống ngô lai mới của Viện Nghiên cứu Ngô với giống thương mại nhập khẩu đang phổ biến (NK7328), khẳng định tiềm năng năng suất của giống ngô lai nội địa trong điều kiện canh tác cụ thể của tỉnh Thái Nguyên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận: Thí nghiệm mới được triển khai trong phạm vi 01 vụ canh tác duy nhất (vụ Xuân năm 2015) và tại 01 địa bàn cụ thể (phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên) trên chân đất cát pha bằng phẳng. Do đó, các kết luận về tính ổn định năng suất và khả năng chống chịu thời tiết bất thuận (như khô hạn, rét muộn) chưa được kiểm chứng qua chu kỳ nhiều năm và chưa đại diện cho các tiểu vùng địa hình đồi dốc phức tạp khác của tỉnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả đề nghị thực hiện khảo nghiệm lặp lại ở các vụ tiếp theo (đặc biệt là vụ Thu Đông hoặc vụ Đông trên đất hai vụ lúa) và mở rộng địa bàn khảo nghiệm trên các loại đất đồi dốc nhằm đánh giá toàn diện tính thích ứng sinh thái và khả năng chống đổ ngã trong các điều kiện canh tác khắc nghiệt.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Bản khóa luận là tài liệu học thuật hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Nông học, Trồng trọt, Khoa học cây trồng; cán bộ kỹ thuật tại các Trung tâm Khuyến nông, Trạm Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật khu vực Trung du và miền núi phía Bắc; các nhóm nghiên cứu chọn tạo và khảo nghiệm giống cây lương thực.
  • Nội dung giá trị:
    • Quy trình thực hành khảo nghiệm giống ngô tuân thủ tiêu chuẩn QCVN 01-56:2011/BNNPTNT.
    • Phương pháp bố trí khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) trên quy mô ô thực nghiệm 7,0 m², cách tính toán các chỉ số hình thái, CSDTL, quy đổi năng suất hạt về độ ẩm tiêu chuẩn 14% qua máy đo Kett 400.
    • Ứng dụng phần mềm IRRISTAT trong xử lý phương sai ANOVA và kiểm định sai khác LSD trong nghiên cứu nông nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Giống ngô lai nào đạt năng suất thực thu cao nhất trong thí nghiệm và mức độ chênh lệch so với giống đối chứng ra sao?
Giống ngô lai VN12 đạt năng suất thực thu cao nhất với 98,34 tạ/ha, tiếp theo là giống VN8 đạt 97,66 tạ/ha. Cả hai giống này đều vượt trội so với giống đối chứng NK7328 (67,20 tạ/ha) ở mức ý nghĩa thống kê 95% (với LSD₀₅ = 11,7 tạ/ha), lần lượt vượt 31,14 tạ/ha và 30,46 tạ/ha.

2. Khả năng chống chịu sâu đục thân (Chilo partellus) của các giống thí nghiệm được phân cấp thế nào?
Mức độ nhiễm sâu đục thân của các giống dao động từ điểm 1 đến điểm 3. Giống VN13 có mức nhiễm thấp nhất đạt điểm 1 (tỷ lệ hại dưới 5%), tương đương với giống đối chứng NK7328. Các giống VN8, VN9, VN10, VN12 đạt điểm 2 (tỷ lệ hại 5 đến dưới 15%); giống VN11 và VN14 đạt điểm 3 (tỷ lệ hại 15 đến dưới 25%).

3. Thời gian sinh trưởng từ gieo đến trỗ cờ, phun râu của các giống ngô lai mới có khác biệt gì so với giống đối chứng?
Thời gian từ gieo đến trỗ cờ của các giống mới dao động từ 65 đến 67 ngày, thời gian gieo đến phun râu dao động từ 66 đến 69 ngày. Tất cả 7 giống lai mới (VN8 đến VN14) đều trỗ cờ và phun râu sớm hơn giống đối chứng NK7328 (trỗ cờ 69 ngày, phun râu 70 ngày) có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 95% (LSD₀₅ trỗ cờ = 0,87 ngày; LSD₀₅ phun râu = 0,80 ngày).

4. Mật độ gieo trồng và công thức phân bón chuẩn hóa được áp dụng trong mô hình thí nghiệm là bao nhiêu?
Thí nghiệm áp dụng mật độ 5,7 vạn cây/ha (khoảng cách 70 cm × 25 cm × 1 cây). Lượng phân bón tính trên 1 ha gồm: 2 tấn phân vi sinh kết hợp 150 kg N : 90 kg P₂O₅ : 90 kg K₂O (tương đương 326,09 kg phân đạm urê, 562,5 kg supe lân và 150 kg phân kaliclorua).

5. Chỉ số diện tích lá (CSDTL) của các giống lai mới biến động trong khoảng nào và có mối tương quan thế nào với giống đối chứng?
Chỉ số diện tích lá đo ở giai đoạn chín sữa của 7 giống ngô lai mới dao động từ 3,49 m² lá/m² đất (giống VN9) đến 4,13 m² lá/m² đất (giống VN12). Tất cả các giống thí nghiệm đều có CSDTL thấp hơn giống đối chứng NK7328 (đạt 4,91 m² lá/m² đất) ở mức sai khác có ý nghĩa thống kê P < 0,05 (LSD₀₅ = 0,49 m² lá/m² đất).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Yến đã hoàn thành việc khảo nghiệm, so sánh 07 giống ngô lai mới do Viện Nghiên cứu Ngô chọn tạo với giống đối chứng NK7328 trong vụ Xuân 2015 tại thành phố Thái Nguyên theo đúng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Nghiên cứu xác định các giống VN12 và VN8 thể hiện ưu thế vượt trội về sinh trưởng, khả năng chống đổ và cho năng suất thực thu đạt trên 97 tạ/ha, vượt đối chứng ở mức tin cậy 95%. Hệ thống dữ liệu thực nghiệm thu được là căn cứ khoa học cụ thể phục vụ định hướng tuyển chọn giống ngô lai năng suất cao, bổ sung vào cơ cấu cây lương thực của tỉnh Thái Nguyên và vùng Trung du miền núi phía Bắc.