Luận văn thạc sĩ đánh giá khả năng sinh trưởng của giống gà cp707 nuôi tại xã phùng châu huyện chương mỹ hà nội

Luận văn thạc sĩ đánh giá khả năng sinh trưởng của giống gà CP707 nuôi tại xã Phùng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội, phân tích hiệu quả chăn nuôi và tiềm năng phát triển.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Chăn nuôi thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

57
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

1. MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa khoa học và Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2. Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của gia cầm

2.3. Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm

2.4. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền của các tính trạng ở gia cầm

3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUậN

4.1. Công tác phục vụ sản xuất

4.2. Nội dung, phƣơng pháp và kết quả phục vụ sản xuất

4.3. Kết luận về công tác phục vụ sản xuất

4.4. Kết quả nghiên cứu

4.5. Kết quả nuôi sống của gà thí nghiệm

4.6. Kết quả về sinh trƣởng của gà thí nghiệm

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Giới thiệu về giống gà CP707 và mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào giống gà CP707, một giống gà thịt có năng suất cao, được nuôi tại xã Phùng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá khả năng sinh trưởng của giống gà này, đồng thời hoàn thiện quy trình chăm sóc để phát huy tối đa tiềm năng của giống. Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà tại địa phương.

1.1. Đặc điểm của giống gà CP707

Giống gà CP707 là giống gà thịt được nhập khẩu từ nước ngoài, có khả năng sinh trưởng nhanh và chất lượng thịt tốt. Giống này thích hợp với điều kiện nuôi bán công nghiệp, đáp ứng nhu cầu thị trường về thực phẩm chất lượng cao. Nghiên cứu này nhằm xác định khả năng sinh trưởng và cho thịt của giống gà này trong điều kiện cụ thể tại Phùng Châu, Chương Mỹ, Hà Nội.

1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá khả năng sinh trưởng của gà CP707, từ đó đề xuất các biện pháp cải thiện quy trình chăn nuôi. Nghiên cứu cũng nhằm rèn luyện kỹ năng thực tế cho sinh viên và góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi gà tại địa phương. Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực nông nghiệp Hà Nội.

II. Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học về đặc điểm sinh lý tiêu hóasinh trưởng của gia cầm, đặc biệt là giống gà CP707. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà bao gồm di truyền, chế độ dinh dưỡng, môi trường và kỹ thuật nuôi gà. Phương pháp nghiên cứu được thực hiện thông qua thí nghiệm nuôi gà tại Phùng Châu, Chương Mỹ, Hà Nội, với các chỉ tiêu theo dõi cụ thể.

2.1. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của gà

Quá trình tiêu hóa ở gà diễn ra nhanh chóng, với sự tham gia của các cơ quan như diều, dạ dày tuyến, dạ dày cơ và ruột non. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của gà cho thấy khả năng hấp thụ dinh dưỡng cao, đặc biệt là ở giai đoạn non. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và phát triển của gà.

2.2. Yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà

Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh trưởng gà bao gồm di truyền, chế độ dinh dưỡng, môi trường và kỹ thuật nuôi gà. Chế độ dinh dưỡng đầy đủ protein, axit amin, vitamin và khoáng chất là yếu tố quan trọng giúp gà phát triển tối đa. Ngoài ra, điều kiện môi trường như nhiệt độ, độ ẩm và mật độ nuôi cũng ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi.

III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy giống gà CP707khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện nuôi tại Phùng Châu, Chương Mỹ, Hà Nội. Tỷ lệ nuôi sống của gà đạt cao, đồng thời tốc độ tăng trưởng và hiệu quả chuyển đổi thức ăn cũng ở mức khả quan. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc áp dụng kỹ thuật nuôi gà phù hợp có thể cải thiện đáng kể năng suất và chất lượng gà.

3.1. Tỷ lệ nuôi sống và sinh trưởng của gà

Kết quả cho thấy tỷ lệ nuôi sống của gà CP707 đạt trên 90%, với tốc độ tăng trưởng nhanh trong các tuần đầu. Sinh trưởng tích lũysinh trưởng tuyệt đối của gà đều đạt mức cao, chứng tỏ giống gà này có tiềm năng lớn trong chăn nuôi gà thịt.

3.2. Hiệu quả chăn nuôi và chất lượng gà

Nghiên cứu cũng đánh giá hiệu quả chăn nuôi thông qua chỉ số tiêu tốn thức ăn và chi phí sản xuất. Kết quả cho thấy gà CP707 có hiệu quả chuyển đổi thức ăn tốt, giúp giảm chi phí và tăng lợi nhuận cho người nuôi. Chất lượng gà cũng được đánh giá cao, đáp ứng nhu cầu thị trường về thực phẩm an toàn và chất lượng.

IV. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu khẳng định giống gà CP707khả năng sinh trưởng tốt và phù hợp với điều kiện nuôi tại Phùng Châu, Chương Mỹ, Hà Nội. Để phát huy tối đa tiềm năng của giống gà này, cần áp dụng các kỹ thuật nuôi gà tiên tiến và chế độ dinh dư�ng hợp lý. Nghiên cứu cũng đề xuất các biện pháp cải thiện hiệu quả chăn nuôi và nâng cao chất lượng gà.

4.1. Kết luận chung

Giống gà CP707 là lựa chọn phù hợp cho chăn nuôi gà thịt tại Hà Nội, với khả năng sinh trưởng nhanh và hiệu quả chuyển đổi thức ăn cao. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để phát triển ngành nông nghiệp Hà Nội.

4.2. Kiến nghị

Để nâng cao hiệu quả chăn nuôi, cần đầu tư vào kỹ thuật nuôi gà hiện đại, cải thiện chế độ dinh dưỡng và quản lý môi trường nuôi. Ngoài ra, cần có các chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương để phát triển bền vững ngành chăn nuôi gà tại Phùng Châu, Chương Mỹ, Hà Nội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá khả năng sinh trưởng của giống gà cp707 nuôi tại xã phùng châu huyện chương mỹ hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp, ngoài trồng trọt, ngành chăn nuôi giữ vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế của đất nƣớc. Xu hƣớng phát triển nông nghiệp theo con đƣờng thâm canh công nghiệp hoá đang diễn ra mạnh mẽ. Đặc biệt là ngành chăn nuôi gia cầm đƣợc quan tâm hàng đầu vì nó có khả năng đáp ứng nhanh một lƣợng lớn thực phẩm có giá trị dinh dƣỡng cao cho nhu cầu xã hội trong thời gian ngắn. Xã hội phát triển, nhu cầu cuộc sống của ngƣời dân ngày một nâng cao, cho nên thực phẩm có chất lƣợng cao đang đƣợc quan tâm chú ý rất nhiều của ngƣời tiêu dùng.

Trƣớc tình hình đó, đòi hỏi ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng cần phải có những bƣớc phát triển mới về công tác giống, kỹ thuật chăm sóc nuôi dƣỡng mới có thể đáp ứng đƣợc yêu cầu về thực phẩm ngày càng khắt khe của ngƣời tiêu dùng. Trƣớc thực tế đó, từ những năm 1992 – 1997 nƣớc ta đã nhập một số giống gà có năng suất cao, chất lƣợng thịt, trứng tốt hợp thị hiếu ngƣời tiêu dùng và thích hợp với điều kiện nuôi bán công nghiệp nhƣ gà Kabir của Isarel, gà Tam Hoàng, Lƣơng Phƣợng của Trung Quốc. Bên cạnh đó ta còn nhập giống gà chuyên thịt: CP707 cho năng suất thịt cao chất lƣợng thịt tốt nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của ngƣời tiêu dùng. Vì vậy, để có thêm cơ sở khoa học cho việc đánh giá khả năng sinh trƣởng phát triển của gà thịt CP707, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá khả năng sinh trưởng của giống gà CP707 nuôi tại xã Phùng Châu Huyện Chương Mỹ Hà Nội” 1.

Mục đích của đề tài : - Xác định khả năng sinh trƣởng và cho thịt của gà thịt cp 707 e 2 - Từng bƣớc hoàn thiện quy trình chăm sóc nuôi dƣỡng để phát huy tiềm năng của con giống. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá đƣợc khả năng sinh trƣởng của gà thịt CP 707. Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế. Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lƣợng chăn nuôi.Ý nghĩa khoa học và Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đóng góp cho ngành chăn nuôi thú y những thông tin về thực trạng khả năng sinh trƣởng trên đàn gà thịt CP 707.

Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo e 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của gia cầm Tiêu hóa là một quá trình phân giải các chất dinh dƣỡng trong thức ăn từ những hợp chất hóa học phức tạp chuyển biến thành những hợp chất đơn giản mà cơ thể gia cầm có thể hấp thu và lợi dụng đƣợc. Theo Lê Hồng Mận và cs (2007) [6] sự trao đổi chất và năng lƣợng ở gia cầm cao hơn so với động vật có vú và đƣợc bồi bổ nhanh chính bởi quá trình tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dƣỡng.

Khối lƣợng rất lớn các chất tiêu hóa đi qua ống tiêu hóa thể hiện tốc độ và cƣờng độ của các quá trình tiêu hóa ở gà, vịt, ở gà còn non tốc độ là 30 – 39 cm/giờ, gà con lớn hơn là 32 – 40 cm/giờ, và ở gà trƣởng thành là 40 – 42 cm/giờ, chất tiêu hóa đƣợc giữ lại trong ống tiêu hóa không quá 2 – 4 giờ. Cơ quan tiêu hóa gia cầm bao gồm: khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dƣới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng và lỗ huyệt, đồng thời có sự tham gia của gan và tuyến tụy. Sự hình thành cơ quan tiêu hóa ở dạng nếp gấp của phôi gà bắt đầu từ ngày ấp thứ 2 (tức sau 24h), ở ngỗng và vịt bắt đầu sau khi ấp 30-60 giờ. * Tiêu hóa ở miệng Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 - 240 lần, lúc đói mổ nhanh, mỏ mở rộng.

Mặt trên lƣỡi có răng rất nhỏ hóa sừng, hƣớng về cổ họng để đƣa thức ăn về phía thực quản - thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp nhận thức ăn, còn vị giác và khứu giác kém hơn. Tuyến nƣớc bọt kém phát triển, thành phần chủ yếu là dịch nhầy. Nƣớc bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt. Trong nƣớc bọt có chứa một số ít men amylaza nên có ít tác dụng đối với tiêu hóa.

Gà mái có thể e 4 tiết 7 - 25ml nƣớc bọt trong một ngày đêm (bình quân khoảng 12ml) (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1998 [4]). Thức ăn vào diều, khi đói theo ống diều vào thẳng dạ dày, không giữ lại lâu ở diều. * Tiêu hóa ở diều Diều gà hình túi ở thực quản chứa đƣợc 100 - 120mg thức ăn. Giữa các cơ thắt lại có ống diều để khi gà đói, thức ăn đi thẳng vào phần dƣới của thực quản và dạ dầy không qua túi diều.

Ở diều thức ăn đƣợc làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các men và vi khuẩn có trong thức ăn thực vật. Thức ăn cứng lƣu lại trong diều lâu hơn. Khi thức ăn và nƣớc có tỉ lệ 1:1 thì đƣợc giữ lại ở diều 5 - 6 giờ. Độ pH trong diều gia cầm là 4,5 - 5,8.

Sau khi ăn từ 1- 2 giờ diều co bóp theo dạng dãy với khoảng cách 15 - 20 phút, sau khi ăn từ 5 - 12 giờ là 10 - 12 phút. Ở diều nhờ men amylaza của nƣớc bọt chuyển xuống, tinh bột đƣợc phân giải thành đƣờng đa rồi một phần chuyển thành đƣờng glucoza. * Tiêu hoá ở dạ dày Dạ dày chia ra: Dạ dày tuyến và dạ dày cơ - Dạ dày tuyến: Cấu tạo từ cơ trơn là dạng ống ngắn, có vách dày, khối lƣợng khoảng từ 3,5 - 6 gam. Vách gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết Dịch có chứa chlohydric, pepsin và musin.

Sự tiết dịch diễn ra liên tục, sau khi ăn càng đƣợc tăng cƣờng. Thức ăn không giữ lâu ở dạ dày tuyến, khi đƣợc dịch dạ dày làm ƣớt, thức ăn chuyển xuống dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ (không quá một lần/phút). e 5 - Dạ dày cơ: Cấu tạo từ cơ vân, có dạng hình đĩa hơi bóp ở phía cạnh. Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hóa mà dịch này từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ.

Thức ăn đƣợc nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hóa dƣới tác dụng của men dịch dạ dày, enzyme và các vi khuẩn. Acid Chlohydric tác động làm cho các pepton và một phần thành các acid amin. Từ dạ dày cơ, các chất dinh dƣỡng đƣợc truyền vào tá tràng có các men của dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trƣờng kiềm hóa tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giả protein và glucid. Sỏi và các dị vật trong dạ dày làm tăng tác động nghiền của vách dạ dày.

Tốt nhất nên cho gà ăn sỏi thạch anh vì không bị phân hủy bởi Acid Chlohydric. * Tiêu hoá ở ruột Ruột non của gia cầm có đầu trên giáp với dạ dày cơ, đầu dƣới giáp với manh tràng. Ruột già của gia cầm không phát triển, nó do trực tràng thô ngắn và hai manh tràng đổ vào đoạn đầu trực tràng tạo thành. Quá trình cơ bản phân tích men từng bƣớc các chất dinh dƣỡng đều đƣợc tiến hành chủ yếu ở ruột non.

Thành ruột cũng có lớp nhung mao nhăn nheo. Các tuyến tiêu hóa phân bố dọc thành niêm mạc ruột. Dịch ruột gà lỏng, đục, kiềm tính, pH = 7,42 với độ đặc 1.0076 và chứa các men proteolyse, amonlitic, lypolitic và enterokinaza. Dịch tuyến tụy - pancreatic - lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc kiềm (pH = 6 ở gà, pH = 7,2 -7,5 ở gia cầm khác).

Dịch này có men tripsin, carboxi peptidaza, mantaza và lipaza. Trong các chất khô của dịch này có các acid amin, lipid và các chất khoáng CaCl2, NaCl, NaHCO3… Gà một năm tuổi, lúc bình thƣờng tuyến tụy tiết ra 0,4 - 0,8ml/giờ, sau khi 5 - 10 phút lƣợng tiết tăng gấp 3-4 lần, giữ cho đến giờ thứ 3, rồi giảm dần. Thành phần thức ăn có ảnh hƣởng đến quá trình tiết dịch men của tụy: e 6 thức ăn giàu protein nâng hoạt tình proteolyse lên 60%, giàu lipid tăng hoạt tính của lypolitic,…. Mật của gia cầm đƣợc tiết liên tục từ túi mật vào đƣờng ruột, lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, tính kiềm, pH =7,3 - 8,5.

Mật có vai trò đa dạng trong quá trình tiêu hóa của gia cầm, gây nên nhũ tƣơng mỡ, hoạt hóa các enzym tiêu hóa của dịch tụy, kích thích làm tăng nhu động ruột, tạo điều kiện hấp thu các chất dinh dƣỡng đã đƣợc tiêu hóa, đặc biệt là các acid béo mà chúng tạo thành các hợp chất dễ hòa tan. Mật ngăn cản việc gây nên vết loét trên màng nhầy của dạ dày cơ và có tính diệt khuẩn. Ở ruột gluxit đƣợc phân giải thành các monosaccarit do men amylaza của dịch tụy, một phần của dich ruột. Phần dƣỡng chất không đƣợc hấp thu ở ruột non chuyển xuống manh tràng và van hồi manh tràng của ruột già.

Ruột già không có tuyến tiết dịch tiêu hóa, chỉ có tế bào chén của màng nhầy tiết ra dịch nhầy. Quá trình tiêu hóa trong ruột già phụ thuộc vào enzyme của ruột non đi xuống, các enzyme này chỉ hoạt động ở phần đầu ruột già. Ở đây cũng diễn ra quá trình tiêu hóa nhƣ ở ruột trong ruột non. Trong ruột già còn có hệ vi sinh vật cƣ trú, về số lƣợng và chủng loại giống nhƣ trong dạ cỏ của động vật nhai lại.

Các vi sinh vật này hoạt động chủ yếu ở manh tràng, phân giải cellulose, bột đƣờng, protein. Quá trình tiêu hóa trong ruột già một phần do tác dụng của emzyme ở ruột non đi xuống còn chủ yếu nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật. Quá trình tiêu hóa cellulose và tiêu hóa protein tạo ra các acid béo bay hơi và các amino acid sẽ đƣợc hấp thu ở đây. Một số vi khuẩn lại sử dụng một số chất trong ruột già để tổng hợp nên vitamin K, vitamin B12, và phức hợp vitamin B.

Trong ruột già còn có quá trình viên phân, tạo phân (Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2005 [11]).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá Khả Năng Sinh Trưởng Của Gà CP707 Tại Phùng Châu, Chương Mỹ, Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của giống gà CP707 trong điều kiện nuôi trồng tại khu vực Phùng Châu. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà mà còn đưa ra những khuyến nghị hữu ích cho người chăn nuôi nhằm tối ưu hóa quy trình nuôi. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin giá trị về cách cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm từ việc áp dụng các phương pháp nuôi trồng khoa học.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến chất lượng nước và môi trường, hãy tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của chất lượng nước trong nông nghiệp.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình, nơi cung cấp thông tin về chất lượng nguồn nước và ảnh hưởng của nó đến sản xuất nông nghiệp.

Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển của vật nuôi, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về ngành chăn nuôi.