Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây hoa hiên (Hemerocallis sp.), thuộc họ Hemerocallidaceae, là loài thực vật nhiệt đới và ôn đới có nguồn gốc bản địa châu Á. Bên cạnh các giá trị truyền thống như làm rau ăn và vị thuốc Đông y (chữa vàng da, bổ máu, an thần, cầm máu), hoa hiên có tiềm năng sử dụng trong kiến trúc cảnh quan đô thị. Cây có khả năng chịu hạn nhờ hệ rễ củ tích trữ nước kết hợp rễ sợi ăn sâu, đồng thời thời gian ra hoa kéo dài 3–4 tháng trong mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 6 hoặc tháng 8) – thời điểm khan hiếm các chủng loại hoa trang trí tại miền Bắc Việt Nam.
Tại Việt Nam, hoa hiên được trồng chủ yếu ở các vùng khí hậu mát mẻ như Sa Pa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Đà Lạt (Lâm Đồng) và một số khu vực đồng bằng. Tuy nhiên, nguồn giống trong nước còn đơn điệu, chủ yếu gồm hai dạng hoa đơn sắc là hoa vàng cam (Hemerocallis fulva L.) và hoa vàng chanh/vàng nhạt (Hemerocallis lilioasphodelus L.). Nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt giống và phát huy ứng dụng cảnh quan, Bộ môn Rau Hoa Quả & Cảnh quan thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành thu thập giống nhập nội, lai tạo các tổ hợp mới và nhân giống in vitro. Để phục vụ công tác tuyển chọn và hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất cây giống, đề tài khóa luận được xác lập với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
-
Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của tập đoàn hoa hiên lai nhằm xác định nguồn vật liệu khởi đầu và đề xuất hướng sử dụng cảnh quan cho các dòng lai có triển vọng.
- Xác định công thức phối trộn giá thể phù hợp nhất cho sự thích nghi và sinh trưởng của cây hoa hiên giống Kwanso nuôi cấy mô (in vitro) trong giai đoạn ra ngôi tại vườn ươm.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định các chỉ tiêu nông sinh học (chiều cao cây, số lá/thân, chiều dài và chiều rộng lá) của 52 dòng hoa hiên lai 3 năm tuổi.
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số dòng hiên lai nhân giống bằng phương pháp chẻ thân.
- Khảo sát khả năng nảy mầm và chất lượng cây con của 28 tổ hợp lai (THL) gieo bằng hạt thu thập năm 2021.
- Khảo nghiệm ảnh hưởng của 5 công thức giá thể đến tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng của cây hoa hiên Kwanso in vitro sau khi ra ngôi.
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: 52 dòng hoa hiên lai 3 năm tuổi; hạt giống của 28 tổ hợp lai thu năm 2021 (ký hiệu từ US1 đến US28); 360 cây giống hoa hiên Kwanso in vitro đạt tiêu chuẩn xuất vườn (chiều cao 5–7 cm, 4–6 lá non, 4–8 rễ dài 1–10 cm).
- Phạm vi không gian: Nhà lưới số 1 và khu thí nghiệm đồng ruộng của Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam (Gia Lâm, Hà Nội).
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 8/2021 đến tháng 3/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và cơ sở khoa học
Nghiên cứu dựa trên các cơ sở phân loại học và nông sinh học của chi Hemerocallis:
- Đặc điểm phân loại và hình thái: Dựa trên các công trình của Stout (1932), Shiu-Ying-Hu (1968), Dahlgren (1985), Erhardt (1992) và Nguyễn Thị Đỏ (2007). Cây không có thân thật trên mặt đất mà tạo thân giả từ các bẹ lá mọc ốp vào nhau thành hình rẻ quạt; thân rễ ngầm ngắn chứa mô phân sinh đỉnh. Rễ củ sống lưu niên dự trữ nước và dinh dưỡng.
- Phân nhóm sinh trưởng: Hoa hiên được chia thành 3 nhóm phản ứng với ngoại cảnh: ngủ nghỉ (lụi lá vào mùa đông khi nhiệt độ thấp), thường xanh (duy trì bộ lá quanh năm ở vùng khí hậu ấm), và bán thường xanh (trung gian giữa ngủ nghỉ và thường xanh tùy diễn biến thời tiết).
- Kỹ thuật nhân giống và ra ngôi: Kế thừa kết quả nghiên cứu nhân giống vô tính bằng chẻ thân của Nguyễn Thị Tố Giang (2014) và nhân giống in vitro hoa hiên của Nguyễn Thị Lâm Hải, Phạm Thị Minh Phượng, Trịnh Thị Mai Dung (2015). Giai đoạn ra ngôi cây mô đòi hỏi giá thể tơi xốp, giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt và giữ ẩm ổn định để rễ in vitro chuyển tiếp sang tự dưỡng.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Các thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp thực nghiệm nông học tiêu chuẩn:
| Thí nghiệm |
Đối tượng khảo nghiệm |
Phương pháp bố trí |
Quy mô & Mật độ |
Chế độ chăm sóc & Chỉ tiêu theo dõi |
| Thí nghiệm 1: Đánh giá tập đoàn dòng lai |
52 dòng hoa hiên lai 3 năm tuổi |
Tuần tự không nhắc lại |
3 cây/dòng; luống cao 20–25 cm; mật độ 20 cây/m² (khoảng cách 20 x 25 cm) |
Lót 1 kg phân chuồng hoai + 20g NPK (13-13-13+TE)/m² bón định kỳ 30 ngày/lần. Theo dõi chiều cao cây, số lá, kích thước lá (đo hàng tuần và hàng tháng). |
| Thí nghiệm 2: Thử nghiệm nảy mầm hạt lai |
28 tổ hợp lai (US1 đến US28) |
Thử nghiệm gieo hạt khay nhựa PVC |
Khay PVC 540x280 mm, lỗ 40x40x45 mm; giá thể Đất + trấu hun + phân chuồng + perlite (2:1:1:1) |
Xử lý nấm hạt bằng Daconil 75WP (20g/10L trong 10 phút). Theo dõi thời gian nảy mầm, thời gian ra lá thật, tỷ lệ nảy mầm, tỷ lệ sống, kích thước cây con. |
| Thí nghiệm 3: Khảo nghiệm giá thể ra ngôi |
Cây Kwanso in vitro (chuẩn xuất vườn) |
Khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) |
5 công thức, 3 lần nhắc lại; 9 cây theo dõi/công thức (tổng quy mô 360 cây) |
Điều tiết ẩm độ 80–90% (3 ngày đầu), sau đó duy trì 65–70%. Phun Đầu trâu MK 501 (1g/L) 3 ngày/lần và NPK 1 tháng/lần. Theo dõi tỷ lệ sống, chiều cao cây, số lá, kích thước lá. |
Chi tiết 5 công thức giá thể phối trộn (tính theo tỷ lệ thể tích):
- CT1 (Đối chứng): 100% Cát sạch.
- CT2: Đất + Cát + Trấu hun (tỷ lệ 1:1:1).
- CT3: Đất + Cát + Trấu hun + Phân chuồng hoai mục (tỷ lệ 1:1:0,5:0,5).
- CT4: Mùn hữu cơ Klasmann + Đất + Trấu hun (tỷ lệ 1:1:1).
- CT5: Mùn hữu cơ Klasmann + Đất + Trấu hun (tỷ lệ 2:1:1).
Nguồn dữ liệu và xử lý số liệu: Số liệu đo đạc thực địa được tổng hợp và phân tích thống kê nông học trên các phần mềm Microsoft Excel 2010 và IRISTAR 5.0.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần I: Mở đầu
Tác giả nêu bối cảnh phát triển của hoa cây cảnh đô thị, phân tích tiềm năng của hoa hiên trong việc bổ sung hoa trang trí mùa hè tại Hà Nội và miền Bắc. Xác lập mục tiêu tuyển chọn tập đoàn lai triển vọng phục vụ thiết kế cảnh quan và hoàn thiện kỹ thuật giá thể ra ngôi cho giống Kwanso nuôi cấy mô.
Phần II: Tổng quan tài liệu
Tổng hợp nguồn gốc lịch sử của hoa hiên từ Trung Quốc (2697 TCN) qua châu Âu và châu Mỹ; phân tích hệ thống phân loại học của chi Hemerocallis. Trình bày chi tiết đặc điểm thực vật học các bộ phận (rễ củ, thân giả, lá rẻ quạt, ngồng hoa, bao hoa 6 mảnh xếp 2 lớp, quả nang) và các nhóm sinh lý sinh trưởng (ngủ nghỉ, thường xanh, bán thường xanh). Tổng quan giá trị ẩm thực, hoạt tính y học (chứa protein, vitamin A, C; dịch chiết giúp tăng prothrombin, tiểu cầu, hồng cầu) và giá trị cảnh quan. Điểm luận các nghiên cứu nhân giống (chẻ thân, in vitro, gieo hạt), đột biến tứ bội bằng colchicine và tình hình nghiên cứu hoa hiên tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam từ năm 2014 đến năm 2021.
Phần III: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết danh mục 52 dòng lai 3 năm tuổi, hạt giống của 28 tổ hợp lai (US1 đến US28) và tiêu chuẩn cây giống mô Kwanso. Trình bày quy cách thiết kế luống thí nghiệm, khay ươm PVC, các loại phân bón (NPK Đầu trâu 13-13-13+TE, Đầu trâu MK 501, 502), thuốc bảo vệ thực vật (Ridomil Gold 68WP, Daconil 75WP) cùng công thức tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng và tỷ lệ sống.
Phần IV: Kết quả và thảo luận
Nội dung chương trình bày dữ liệu đo đạc thực nghiệm trên 3 nhóm nội dung:
- Đặc điểm sinh trưởng của 52 dòng lai: Chiều cao cây tăng trưởng mạnh từ tháng 9 và đạt đỉnh vào tháng 11 (sau thời kỳ ra hoa). Từ tháng 12 đến tháng 1, chiều cao cây và số lá suy giảm mạnh do nhiệt độ mùa đông xuống thấp (<8°C) kèm sương muối gây hiện tượng lụi lá. Đến tháng 2–3, khi thời tiết ấm lên, có 24/52 dòng bắt đầu phục hồi và tăng trưởng chiều cao trở lại. Chiều cao cây ở thời điểm cực đại dao động từ 49,13 cm đến 86,93 cm; số lá đạt 4–21 lá/thân; chiều dài lá dao động 28,5–85,1 cm; chiều rộng lá đạt 1,2–2,9 cm.
- Khả năng nhân giống bằng chẻ thân và gieo hạt: Cây con nhân giống bằng chẻ thân đạt tỷ lệ sống 50%–100%, chiều cao 22,6–32,3 cm. Đối với phương pháp gieo hạt, trong 28 tổ hợp lai chỉ có 10 tổ hợp nảy mầm (tổng số 43/377 hạt nảy mầm), số cây sống đạt 39 cây (tỷ lệ sống 90,7%). Thời gian từ gieo đến nảy mầm dao động 4–76 ngày; thời gian kết thúc nảy mầm 11–77 ngày; thời gian ra lá thật từ 10–84 ngày. Chiều cao cây con đạt 8,1–18,74 cm.
- Ảnh hưởng của giá thể đến cây Kwanso in vitro: Giá thể CT5 (Klasmann : Đất : Trấu hun = 2:1:1) mang lại tỷ lệ sống, tỷ lệ đạt chuẩn ra ngôi cao nhất và các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao thân, số lá, kích thước lá) vượt trội so với đối chứng cát sạch (CT1) và các công thức khác.
Phần V: Kết luận và đề nghị
Đúc kết các phát hiện thực nghiệm về tập đoàn dòng lai, phân nhóm ứng dụng cảnh quan, xác nhận công thức giá thể tối ưu CT5 cho giai đoạn vườn ươm cây mô Kwanso, đồng thời đề xuất các hướng theo dõi tiếp theo trong mùa hoa hè.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính kèm số liệu thực nghiệm
1. Đánh giá tập đoàn 52 dòng hoa hiên lai và phân nhóm ứng dụng cảnh quan
Quá trình theo dõi 52 dòng hoa hiên lai 3 năm tuổi tại Hà Nội ghi nhận các thông số nông sinh học:
- Chiều cao cây cực đại: 49,13 cm (dòng 135-7) đến 86,93 cm (dòng 133-3).
- Số lá trên thân: Dao động từ 4 lá (dòng 136-1) đến 21 lá (dòng 188-3).
- Kích thước bộ lá: Chiều dài lá dao động 28,5–85,1 cm; chiều rộng lá dao động 1,2–2,9 cm.
Dựa trên chiều cao cây giai đoạn không có hoa, tác giả phân loại 52 dòng lai vào các nhóm ứng dụng cảnh quan:
| Nhóm chiều cao |
Số lượng dòng |
Tỷ lệ (%) |
Các dòng tiêu biểu |
Đề xuất ứng dụng cảnh quan |
| Cây thấp (≤ 50 cm) |
1 |
1,92% |
135-7 (49,13 cm) |
Trồng thảm phủ đất, trồng viền bồn hoa, tạo hiệu ứng tầng thấp phía trước cây bụi. |
| Cây trung bình (50–70 cm) |
29 |
55,77% |
193-3, 193-2, 193-1, 188-2, K16, 142-1, 147-4, 142-9, 126-4, 196-1... |
Trồng khóm, trồng bồn cảnh quan, trồng chậu trang trí sân vườn, phối kết thảm hoa. |
| Cây cao (≥ 70 cm) |
22 |
42,31% |
133-3 (86,93 cm), 188-1, 188-4, 133-13, 134-1, 144-8, 193-4, 183-5... |
Trồng hàng rào xanh, trang trí chân tường rào, dải phân cách đường phố, trồng cụm điểm nhấn. |
2. Kết quả nhân giống
- Nhân giống chẻ thân: Cây con đạt tỷ lệ sống 50%–100%; chiều cao thời điểm lớn nhất đạt 22,6–32,3 cm; kích thước lá dài 10,2–13,9 cm và rộng 0,7–0,95 cm.
- Nhân giống hữu tính (gieo hạt 28 THL): Có 10/28 THL nảy mầm. Tổng số hạt nảy mầm là 43/377 hạt (tỷ lệ nảy mầm đạt 11,4%), số cây sống giữ được là 39 cây (tỷ lệ cây sống đạt 90,7%). Thời gian từ gieo đến nảy mầm từ 4–76 ngày; thời gian kết thúc nảy mầm 11–77 ngày; thời gian ra lá thật từ 10–84 ngày. Cây con đạt chiều cao từ 8,1 cm đến 18,74 cm; lá dài 2,1–8,9 cm và rộng 0,4–0,66 cm.
3. Ảnh hưởng của giá thể ra ngôi cây mô Kwanso
Thử nghiệm 5 công thức giá thể trên 360 cây hoa hiên Kwanso in vitro khẳng định vai trò của thành phần phối trộn:
- Giá thể CT5 (Klasmann : Đất : Trấu hun = 2:1:1 theo thể tích) cho tỷ lệ sống, khả năng thích nghi và các chỉ tiêu tăng trưởng chiều cao cây, số lá, kích thước lá tốt nhất trong vườn ươm.
- Công thức đối chứng CT1 (100% cát sạch) cho khả năng sinh trưởng kém nhất do thiếu hụt dinh dưỡng khoáng và khả năng điều hòa ẩm độ hạn chế.
Giải pháp và khuyến nghị kỹ thuật
- Về sử dụng giống cảnh quan: Khai thác các dòng cây thấp (135-7) cho hạng mục viền/thảm; sử dụng các dòng trung bình (chiếm đa số 55,77%) cho trồng chậu, bồn hoa phối kết; bố trí các dòng cây cao (≥70 cm) cho các dải phân cách và hàng rào đô thị.
- Về kỹ thuật vườn ươm cây mô: Áp dụng công thức phối trộn giá thể Klasmann : Đất : Trấu hun (2:1:1 thể tích) khi ra ngôi cây giống Kwanso in vitro. Duy trì ẩm độ 80–90% trong 3 ngày đầu, điều chỉnh ánh sáng tán xạ nhẹ kết hợp tưới phun sương trước khi giảm dần ẩm độ về mức 65–70%.
- Về chăm sóc vụ đông: Trong điều kiện miền Bắc, hoa hiên chịu ảnh hưởng của sương muối và rét buốt (<8°C) gây rụng/lụi lá. Cần bổ sung phân bón kali trong các tháng 12 và tháng 1 (2 lần/vụ) nhằm tăng sức chống chịu rét, đồng thời dọn sạch tàn dư lá bệnh, phun phòng trừ nấm gỉ sắt (Puccinia hemerocallidis) bằng Ridomil Gold 68WP.
Đóng góp mới của khóa luận
Khóa luận cung cấp hệ thống dẫn liệu thực nghiệm về động thái sinh trưởng thân lá qua các tháng thu - đông của 52 dòng hoa hiên lai tạo tại Việt Nam. Đồng thời, công trình xác lập dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về công thức giá thể tối ưu cho việc thuần dưỡng ra ngôi cây hoa hiên giống Kwanso nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Thời gian thực hiện đề tài diễn ra từ tháng 8/2021 đến tháng 3/2022 (giai đoạn sinh dưỡng và ngủ nghỉ mùa đông), chưa bao quát được chu kỳ sinh sản và mùa ra hoa chính (thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm). Do đó, các chỉ tiêu về số ngồng hoa, số hoa/ngồng, đường kính hoa, màu sắc và độ bền hoa của 52 dòng lai chưa được ghi nhận trực tiếp trong khóa luận này. Ngoài ra, tỷ lệ nảy mầm của hạt lai ở một số THL còn thấp (10/28 THL nảy mầm) do điều kiện nhiệt độ thấp lúc gieo và hạt có tính ngủ nghỉ sinh lý.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục theo dõi các chỉ tiêu nông sinh học sinh sản (ngồng hoa, hoa, thời gian nở hoa, màu sắc cánh hoa) của 52 dòng lai trong vụ xuân hè năm 2022.
- Nghiên cứu bổ sung các biện pháp xử lý cơ học hoặc hóa chất điều hòa sinh trưởng để phá ngủ hạt giống hoa hiên lai nhập nội nhằm nâng cao tỷ lệ và rút ngắn thời gian nảy mầm.
- Đánh giá khả năng sinh trưởng và nhân nhánh của cây Kwanso in vitro sau giai đoạn vườn ươm khi trồng ra bồn cảnh quan thực tế ngoài đồng ruộng.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu viên các ngành Nông học, Công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan, Công nghệ Sinh học Nông nghiệp.
- Kỹ sư thiết kế cảnh quan đô thị, các đơn vị thi công cây xanh công viên, dải phân cách giao thông.
- Các cơ sở sản xuất giống cây cảnh áp dụng công nghệ vi nhân giống (micropropagation).
- Các phần nội dung có giá trị tham chiếu cao:
- Bảng tổng hợp biến động chiều cao và bộ lá của 52 dòng lai (trang 31–41) làm căn cứ lựa chọn loài cây theo tầng bậc cảnh quan.
- Quy trình phối trộn giá thể ra ngôi cây in vitro với tỷ lệ mùn hữu cơ Klasmann, đất và trấu hun (2:1:1) giúp giảm tỷ lệ hao hụt cây giống giai đoạn vườn ươm.
- Tư liệu tổng quan về đặc tính thực vật học, dược tính và thành phần hóa học của chi Hemerocallis.
Câu hỏi thường gặp
1. Chiều cao cây và số lá của các dòng hoa hiên lai biến động như thế nào trong các tháng mùa đông tại Hà Nội?
Sau mùa hoa, cây phục hồi sinh trưởng và đạt chiều cao cũng như kích thước lá lớn nhất vào tháng 11 (dao động từ 49,13 cm đến 86,93 cm). Từ tháng 12 đến tháng 1, do nhiệt độ giảm sâu (<8°C) kèm hiện tượng sương muối, các lá già bị khô héo và lụi đi trong khi lá non chậm phát triển (cây bước vào giai đoạn ngủ nghỉ/bán thường xanh), khiến chiều cao và số lá giảm mạnh. Đến tháng 2 và tháng 3, khi thời tiết ấm lên, có 24/52 dòng bắt đầu phục hồi và tái sinh trưởng chiều cao.
2. Dòng hoa hiên lai nào đạt chiều cao lớn nhất và dòng nào có chiều cao thấp nhất trong 52 dòng nghiên cứu?
Dòng lai đạt chiều cao lớn nhất tại thời điểm đỉnh sinh trưởng là dòng 133-3 với chiều cao trung bình 86,93 cm. Dòng lai có chiều cao thấp nhất là dòng 135-7 với chiều cao 49,13 cm.
3. Công thức phối trộn giá thể nào cho hiệu quả tốt nhất đối với cây hoa hiên Kwanso nuôi cấy mô giai đoạn ra ngôi?
Công thức CT5 gồm Klasmann : Đất : Trấu hun theo tỷ lệ thể tích 2:1:1 mang lại kết quả tốt nhất. Công thức này giúp cây giống đạt tỷ lệ sống cao, thích ứng nhanh với môi trường vườn ươm, đồng thời các chỉ tiêu chiều cao thân, số lá và kích thước lá đều vượt trội so với đối chứng cát sạch 100% (CT1) và các công thức phối trộn khác.
4. Kết quả gieo hạt 28 tổ hợp lai hoa hiên nhập nội đạt tỷ lệ nảy mầm và sinh trưởng cây con ra sao?
Trong 28 tổ hợp lai đem gieo, có 10 tổ hợp lai nảy mầm với tổng số 43/377 hạt nảy mầm (tỷ lệ 11,4%). Sau giai đoạn nảy mầm, số cây sống duy trì được là 39 cây (đạt tỷ lệ sống 90,7%). Thời gian từ khi gieo đến khi bắt đầu nảy mầm dao động từ 4 đến 76 ngày; chiều cao cây con sau vườn ươm đạt từ 8,1 cm đến 18,74 cm.
5. Tiêu chuẩn cây giống hoa hiên Kwanso in vitro khi đưa ra ngôi vườn ươm là gì?
Cây giống Kwanso in vitro đủ tiêu chuẩn xuất vườn ra ngôi là những cây khỏe mạnh, đã ra rễ hoàn chỉnh, đạt chiều cao từ 5–7 cm, có 4–6 lá non và sở hữu 4–8 rễ với chiều dài rễ từ 1–10 cm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Huế đã đánh giá đặc điểm nông sinh học của 52 dòng hoa hiên lai 3 năm tuổi tại Gia Lâm (Hà Nội), làm cơ sở phân loại và đề xuất hướng ứng dụng cụ thể vào các cấu trúc cảnh quan như trồng thảm viền, trồng bồn bụi hay hàng rào dải phân cách. Đồng thời, đề tài đã xác định được công thức giá thể tối ưu (Klasmann : Đất : Trấu hun = 2:1:1) giúp nâng cao tỷ lệ sống và khả năng sinh trưởng của cây hoa hiên giống Kwanso nuôi cấy mô khi thuần dưỡng tại vườn ươm. Các kết quả thực nghiệm này đóng góp dữ liệu khoa học cho công tác chọn tạo giống và hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất hoa hiên phục vụ cảnh quan đô thị tại Việt Nam.