MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Dong riềng (Canna edulis) là cây thân thảo, thuộc họ dong riềng (Cannaceae) và có nhiều tên gọi khác nhau như khoai chuối, dong tây, củ đao, khoai riềng, củ đót. Dong riềng có nguồn gốc phát sinh ở Peru, Nam Mỹ (Trương Văn Hộ và cs. Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở nhiều nước nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới. Nam Mỹ được coi là trung tâm đa dạng của dong riềng nhưng Châu Á, Châu Úc và Châu Phi là những nơi trồng và sử dụng dong riềng nhiều nhất.
Theo Hermann và cs…(2007)[14], cây dong riềng là loài cây đa dụng triển vọng cho hệ thống nông lâm kết hợp vì nó có những đặc điểm quí như chịu bóng râm, trồng được những nơi khó khăn như khô hạn, đất xấu, thời tiết lạnh. Ở Việt Nam dong riềng được người Pháp đưa vào trồng từ đầu thế kỷ 19 (Lý Ban, 1963)[1]. Lúc đầu, dong riềng được trồng với mục đích làm cảnh và lấy củ như nguồn bổ sung lương thực, chúng chủ yếu được trồng trên đất cằn cỗi, đất tận dụng mà các cây khác không phát triển được hoặc trên đất đồi núi nên diện có diện tích rất nhỏ. Từ năm 1986 do nhu cầu sản xuất miến dong ngày càng tăng đã đi kèm với việc mở rộng diện tích trồng loại cây này.
Năm 1993 ở nước ta ước chừng có khoảng 30 nghìn ha trồng dong riềng, năng suất đạt 45 - 60 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 13,36 - 16,4% (Nguyễn Thiếu Hùng và cs. Hiện nay vẫn được trồng phổ biến khắp cả nước từ vùng đồng bằng, trung du đến các vùng núi cao như Hưng Yên, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lào Cai.Ở những vùng miền núi, những nơi khó khăn dong riềng cũng được coi là cây có thể đảm bảo an ninh lương thực. n 2 Hiện nay, trồng dong riềng chủ yếu để lấy củ, củ dong riềng có rất nhiều công dụng có thể luộc, xay làm bột cho người ăn giúp dễ tiêu hóa rất tốt cho trẻ em và người ốm, sử dụng tinh bột làm nguyên liệu để chế biến miến, bánh đa, bánh mì, bánh bao, kẹo, làm thức ăn chăn nuôi, thân cây có nhiều sợi màu trắn có thể sử dụng để chế biến thành sợi dệt thành các loại bao bì đựng gạo, ngô. Để phát triển kinh tế xã hội các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam, trong những năm qua, xu hướng chuyển dịch kinh tế được thực hiện quả ở nhiều địa phương.
Trong đó, hoạt động chế biến các loại sản phẩm cây trồng sản xuất tại chỗ để tạo ra các sản phẩm có giá trị cao phục vụ tiêu dùng tong nước và xuất khẩu đã được tổ chức sản xuất ở quy mô làng nghề. Miến dong là một sản phẩm chế biến từ tinh bột củ dong riềng, một loại cây trồng phù hợp với nhiều vùng đất miền núi. Nhiều địa phương cấp xã, huyện ở các tỉnh miền núi đã chọn cây dong riềng và sản phẩm miến dong là sản phẩm chủ lực đã thu hút nhiều ngày công lao động của nông dân, thợ thủ công, góp phần tạo việc làm cho nhiều người lao động, đồng thời đã góp một phần quan trọng trong việc nâng cao nguồn thu cho người sản xuất. Mặc dù dong riềng là cây tăng thu nhập cho nông dân tại một số vùng sinh thái đặc thù như nơi đất khô hạn, đất dốc sử dụng nước trời, nơi khí hậu lạnh như Mộc Châu, Sơn La.
Nhưng những nghiên cứu phát triển bền vững dong riềng ở Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức. Các hướng nghiên cứu về giống, biện pháp kỹ thuật canh tác, chế biến đối với cây dong riềng vẫn còn nhiều hạn chế. Đặc biệt ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, dong riềng được trồng chủ yếu trên đất dốc với những phương thức canh tác truyền thống, người dân thường sử dụng giống cũ, mật độ trồng không đồng đều, có nơi trồng quá thưa nên lãng phí đất, nơi lại trồng quá dày dẫn đến củ nhỏ, năng suất không cao. Thời điểm thu hoạch không được xác định đúng cũng làm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng dong riềng.
n 3 Chính vì vậy, với mục đích tuyển chọn ra một số giống dong riềng sinh trưởng, phát triển tốt và có khả năng cho tinh bột cao và xác định được các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng dong riềng chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2. Mục tiêu của đề tài Xác định được giống dong riềng có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên 2. Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của một số giống dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Theo dõi tình hình sâu, bệnh hại và khả năng chống đổ của các giống dong riềng thí nghiệm. - Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng củ của các giống dong riềng thí nghiệm. Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để giới thiệu giống mới cho sản xuất, góp phần làm phong phú cơ cấu giống dong riềng tại địa phương.
Ý nghĩa thực tiễn Đề tài sẽ lựa chọn được 1 - 2 giống dong riềng có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, chống chịu tốt, cho năng suất cao và ổn định, có chất lượng củ cao thích nghi với điều kiện trồng trọt của tỉnh Thái Nguyên, góp phần mở rộng diện tích trồng các giống dong riềng mới làm tăng hiệu quả sản xuất.3 Ý nghĩa đối với học tập - Giúp sinh viên củng cố kiến thức đồng thời biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, có thêm kinh nghiệm trong kiến thức và sản xuất. - Giúp sinh viên tiếp cận với nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn, đồng thời tạo cho sinh viên tác phong làm việc nghiêm túc hiệu quá đúc rút được kinh nghiệm trong quá trình thực tập. n 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài Trong sản xuất nông nghiệp, giống cây trồng là tư liệu quan trọng quyết định rất lớn trong việc tăng năng suất và cải thiện chất lượng sản phẩm, giống tốt là tiền đề nâng cao năng suất chất lượng cây trồng. Thực tế sản xuất nhiều năm qua ở nước ta cho thấy việc lựa chọn giống phù hợp với điều kiện sản xuất và thích ứng điều kiện địa phương còn nhiều hạn chế.
Vì vậy công tác chọn tạo giống cây trồng mới là hết sức cần thiết và cần được duy trì liên tục. muốn khẳng định giống mới có ưu thế hơn các giống khác thì phải qua chọn tạo và đánh giá một cách cụ thể từng vùng, song mức độ ảnh hưởng của môi trường lên các giống là không giống nhau có giống sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất cao ít sâu bệnh hại trong khi đó một số giống khác lại phát triển kém cho năng suất thấp nhiều sâu bệnh thậm chí không sinh trưởng phát triển nên không cho thu hoạch. Việc mở rộng diện tích trồng một loại cây trồng nói chung và cây dong riềng nói riêng trước tiên phải chọn được bộ giống phù hợp, thích nghi với điều kiện đất đai, khí hậu, có khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh, đồng thời cho năng suất củ và tinh bột cao phục vụ sản xuất là vấn đề trước mắt hiện nay. Vì vậy muốn phát huy hiệu quả tối đa của giống, cần tiến hành nghiên cứu và đánh giá khả năng thích ứng cũng như tiềm năng năng suất của các giống mới trước khi đưa ra sản xuất đại trà, từ đó tìm ra những giống thích hợp nhất đối với từng vùng sinh thái.
Ngày nay sản xuất dong riềng muốn phát triển theo hướng hàng hoá với sản lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường, cần phải có các biện pháp hữu hiệu như thay thế các giống cũ, năng suất, chất lượng thấp bằng các giống mới năng suất cao, n 6 chất lượng tốt. Đặc biệt là ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, sử dụng giống có khả năng chống chịu tốt, cho năng suất, chất lượng cao sẽ góp phần phát huy hiệu quả kinh tế của giống, đồng thời góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nghiên cứu giống sẽ giúp chúng ta nắm bắt được đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng phù hợp của chúng với điều kiện ngoại cảnh, từ đó có thể lựa chọn được những giống phù hợp với điều kiện của địa phương trước khi đưa vào sản xuất. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong riềng 2.
Nguồn gốc Dong riềng có nguồn gốc ở Peru, Nam Mỹ và được trồng ở nước ta vào đầu thế kỉ 19 để lấy tinh bột và làm lương thực là chính (Mai Thạch Hoành và Cs.Người ta đã xác định được 7 loài dong riềng nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ và Trung Quốc (Darlington và Janaki, 1945) đó là: - Canna discolor ở Tây Ấn nhiệt đới. Flauca ở Tây Ấn và Mêhico. flaccida ở Nam Mỹ. edulis ở châu Mỹ nhiệt đới.
Indica ở châu Mỹ nhiệt đới.humilis ở Trung Quốc. Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới có khí hậu nhiệt đới và Á nhiệt đới. Trong đó Nam Mỹ là trung tâm đa dạng di truyền nguồn gen dong riềng, ngoài ra dong riềng được trồng nhiều ở các nước châu Á, châu Phi, Châu Úc. Phân loại cây dong riềng - Tên khoa học: Canna Edulis Ker n 7 - Dong riềng thuộc họ chuối hoa Cannacea - Bộ: Scitaminales Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n = 2X = 18 và tam bội 2n = 2X = 27 2.
Phân bố và các giống dong riềng Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước vùng nam Mỹ, châu Phi, và một số nước nam Thái Bình Dương. Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và Đài Loan (Hermann, M. Đặc điểm thực vật học cây dong riềng Thân: Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ. Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2 m - 1,5 m có những giống có thể cao trên 2,5 m.
Thân cây thường có mầu xanh hoặc xen tím. Thân gồm những lóng kéo dài, giữa các lóng là các đốt; Thân khí sinh được tính từ đốt tiếp phần củ.