Chương 1: Giới thiệu bối cảnh chính sách, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi chính sách, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Trình bày khung phân tích và các nghiên cứu đi trước. Chương 3: Tổng quan chiến lược nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu để trả lời câu hỏi nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Khung sinh kế bền vững của DFID Khung phân tích của đề tài được áp dụng trên cơ sở chuyển thể từ khung sinh kế bền vững của cơ quan Phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) để xem xét mối tương quan giữa bối cảnh dễ bị tổn thương của người nông dân do các cú sốc của điều kiện thiên nhiên, các chính sách hiện tại của chính quyền địa phương tác động đến đời sống sinh kế của người dân vùng trồng LMN như thế nào, bao gồm 5 vấn đề sau: Sơ đồ 2.1: Khung phân tích sinh kế người dân vùng trồng LMN Ghi chú: H: Nguồn vốn con người S: Nguồn vốn xã hội N: Nguồn vốn tự nhiên P: Nguồn vốn vật chất F: Nguồn vốn tài chính Tài sản sinh kế Kết quả sinh kế - Tăng cơ hội nghề H Chính sách hiện hành nghiệp. Bối cảnh dễ bị - Cuộc sống ổn định tổn thương - Ứng phó với các cú hơn.
N sốc từ thiên thiên. - Nâng cao khả năng - Bảo tồn LMN. thích ứng. - Các cú sốc: Hạn S - Các chính sách về hán, xâm ngập đất đai, vay vốn, đào mặn, lũ lụt, P tạo nghề.
nước biển dâng. Chiến lược lựa chọn - Các chương trình - Các xu hướng. F sinh kế sinh kế xóa đói, giảm nghèo. - Tính mùa vụ.
- Hạ tầng cơ sở. - Tiết kiệm chi tiêu. - Chuyển LĐ tìm việc làm khác. - Đa dạng hóa sinh kế.
Nguồn: Chuyển thể từ DFID 1999 -7- 2. Bối cảnh dễ bị tổn thương Bối cảnh dễ bị tổn thương là các tình huống bất lợi đến từ môi trường bên ngoài, nó tác động vào cuộc sống của người dân mà họ không đủ khả năng kiểm soát được như các cú sốc về sức khoẻ, thiên tai, dịch bệnh, hạn hán, ngập mặn, lũ lụt hay các xu hướng thay đổi về môi trường sống, nguồn lực, công nghệ cũng như các thay đổi mang tính mùa vụ như giá nông sản, các cơ hội về nghề nghiệp… Các cú sốc, đối với người nông dân xã Vĩnh Phước cú sốc lớn nhất là sự thay đổi bất thường của điều kiện thiên nhiên, trong đó hiện tượng lũ lụt (lũ quá lớn) hay hạn hán (lũ ít hoặc không có lũ) làm thiệt hại mùa màng của người nông dân, dẫn đến mất nguồn thu nhập, tác động rất lớn đến nguồn sinh kế của họ. Các xu hướng, lũ về chậm và ít hay việc tăng diện tích đê bao làm lúa vụ 3 trong những năm gần đây làm suy giảm nguồn lợi thủy sản. Tình trạng ngập mặn, hạn hán, thiếu nước ngọt cho tưới tiêu nông nghiệp là những khó khăn mà người nông dân phải đối diện.
Tính mùa vụ, giá bán hàng hóa nông sản làm ra thấp và không ổn định (giá thấp vào mùa thu hoạch, giá cao khi hàng hóa khan hiếm). Bên cạnh đó, tính mùa vụ sẽ tạo ra lao động nhàn rỗi vào những tháng không có mùa vụ và thiếu lao động nông nghiệp khi vào mùa vụ thu hoạch chính. Các tài sản, nguồn vốn sinh kế Các tài sản, nguồn vốn sinh kế bao gồm 5 nhóm tài sản là nguồn vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội mà các hộ gia đình sử dụng để kiếm sống nhằm đảm bảo đời sống sinh kế hay giảm nghèo. Nguồn vốn con người là các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm mà mỗi người tự tích luỹ được trong cuộc sống thông quá trình học tập, lao động, rèn luyện để tạo ra các khả năng và sức khoẻ tốt giúp con người theo đuổi các sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế của mình.
-8- Nguồn vốn tự nhiên bao gồm tất cả các yếu tố thuộc về tài sản thiên nhiên phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, phục vụ cho nhu cầu sinh kế của người dân. Có rất nhiều nguồn vốn tự nhiên như đất đai, nguồn nước, rừng, biển, chất lượng không khí, động thực vật… Đời sống sinh kế của người dân nghèo thường phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, họ thường bị động và phản ứng yếu ớt trước các cú sốc của các hiện tượng tự nhiên như biến đổi khí hậu, sự cạn kiệt nguồn tài nguyên hay các dịch bệnh xảy ra. Nguồn vốn vật chất bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm, chợ, các khu vui chơi giải trí, hệ thống viễn thông, xử lý chất thải, năng lượng, thiết bị công cụ sản xuất, giống cây trồng và các hàng hoá, phương tiện phục vụ nhu cầu sinh kế cho người dân như xe cộ, máy móc thiết bị, cây giống, con giống, các phương tiện phục vụ mua bán kinh doanh nhỏ. Nguồn vốn tài chính bao gồm các tài sản lưu động như tiền, các khoản gửi tiết kiệm, trợ cấp hay vốn vay và các khoản tương đương tiền có thể chuyển đổi thành tiền mặt để phục vụ mục tiêu sinh kế của người dân.
Nguồn vốn xã hội là các mối quan hệ được hình thành trong quá trình học tập, làm việc, mua bán kinh doanh, nó dựa trên niềm tin, sự hiểu biết và phụ thuộc lẫn nhau. Từ đó, hình thành các tổ hợp tác, mạng lưới, hiệp hội… để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ tài chính cho các thành viên gặp khó khăn mà các hộ gia đình có thể sử dụng để phục vụ cho mưu cầu sinh kế của mình. Chính sách của chính quyền Các quy định của pháp luật được cụ thể hoá thành luật, nghị định, thông tư, các chính sách, chương trình, kế hoạch hành động của các cấp chính quyền địa phương. Các chiến lược lựa chọn sinh kế Là những kế hoạch làm việc trong ngắn và dài hạn gắn với nguồn tài nguyên thiên nhiên mà các hộ gia đình có thể lựa chọn nhằm đạt được các mục tiêu sinh kế của mình, bao -9- gồm các hoạt động sản xuất, các chiến lược đầu tư, tái đầu tư mà người dân phải thích nghi khi xảy ra các cú sốc.
Kết quả sinh kế và mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố đến kết quả sinh kế bền vững Nhìn từ khung phân tích sinh kế người dân vùng trồng LMN (Hình 2.1) ta thấy, nếu tiếp cận theo hướng từ phải sang trái, để đạt các kết quả sinh kế như tăng cơ hội nghề nghiệp, cuộc sống ổn định hơn và nâng cao khả năng thích ứng cần phải xây dựng các chiến lược sinh kế bao gồm nhiều hoạt động và phương pháp thực hiện khác nhau. Các chiến lược này được thực hiện dựa vào khả năng tiếp cận các loại nguồn vốn của người dân địa phương cũng như những chính sách hiện hành của các cấp chính quyền trong việc ứng phó với hiện tượng biến đổi khí hậu như thế nào. Trong đó, ảnh hưởng của các nguồn vốn tiếp cận như vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội sẽ tác động đến kết quả sinh kế của các hộ dân trong việc ứng phó với các cú sốc của điều kiện thiên nhiên. Các nghiên cứu liên quan Nghiên cứu hiện tượng lũ bất thường (lũ rất nhỏ/không có lũ) tác động như thế nào đến thu nhập, chi tiêu dẫn đến sự thay đổi đời sống sinh kế người dân vùng trồng LMN, các giải pháp mà người dân áp dụng để khắc phục hay thích nghi, các khả năng tiếp cận nguồn vốn tài chính, nguồn vốn xã hội để ứng phó với các cú sốc là một nghiên cứu mới.
Do đó, việc xem xét các nghiên cứu đi trước để có cái nhìn tổng quan về sinh kế của người dân nơi đây trước hiện tượng bất thường của điều kiện thiên nhiên là rất cần thiết. Nghiên cứu của nhóm CIEM (MPI), IPSARD (MARD) và DERG (DoC) (2011) về “Các cú sốc thu nhập và các chiến lược thích ứng với rủi ro của hộ gia đình: Vai trò của bảo hiểm chính thức ở nông thôn Việt Nam”. Bài viết cho rằng, các cú sốc mang tính hiệp biến về mặt không gian (lũ lụt, hạn hán) khó bảo hiểm và phòng ngừa hơn các cú sốc mang tính đặc trưng (bệnh, chết), nó không đo lường trước được nên không có kế hoạch để ứng phó. Để ứng phó với các cú sốc tiêu cực về thu nhập, các hộ dân thực hiện cơ chế -10- điều chỉnh tiêu dùng bằng cách sử dụng các khoản tiết kiệm dự phòng, bán tài sản dự trữ có tính thanh khoản hay tăng sự vay mượn để đối phó với các cú sốc.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, các cơ quan hoạch định chính sách có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường pháp lý cạnh tranh và minh bạch nhằm khuyến khích khu vực tư nhân tham gia cung cấp bảo hiểm, người dân hiểu và mua bảo hiểm nông nghiệp. Đây là biện pháp tăng phúc lợi trong dài hạn cho người nông dân, giúp họ tăng tiêu dùng và đầu tư cho hoạt động sản xuất nhiều hơn. Tuy nhiên, trong ngắn hạn cần có các chương trình đào tạo nghề, hướng nghiệp, hỗ trợ khuyến nông, tiếp cận nguồn vốn để giúp họ vượt qua các cú sốc. Theo tài liệu nghiên cứu của Tổ chức Liên Hợp quốc tại Việt Nam (2012) về “Giảm nghèo bền vững và quản lý rủi ro do thảm họa thiên nhiên ở khu vực Duyên hải Miền Trung: Bài học rút ra và chính sách gợi ý”.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù có nhiều sáng kiến quản lý rủi ro thiên tai mang lại kết quả cụ thể, nhưng do cộng đồng không phải là chủ các dự án này hoặc không trực tiếp tham gia giai đoạn lập kế hoạch và thực hiện dự án, nên các dự án này thiếu tính bền vững. Để giảm thiểu rủi ro của các thảm họa, cần phải đặt con người vào trung tâm của quá trình ra quyết định và họ phải tham gia chủ động trong sự phát triển của chính mình. Nghiên cứu cũng cho rằng, cần có một hệ thống bảo trợ có khả năng thích ứng, toàn diện và tổng thể như các dịch vụ xã hội cơ bản, bảo hiểm, tiếp cận tín dụng, các chương trình công cộng để giảm tính dễ bị tổn thương và tăng khả năng chống chọi một cách hiệu quả với các cú sốc do bất kể nguyên nhân gì. Nghiên cứu về “Tính tổn thương sinh kế nông hộ bị ảnh hưởng lũ tại tỉnh An Giang và các giải pháp ứng phó” của Nguyễn Duy Cần và đ.