CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DẤU VẾT CÁC-BON CỦA SẢN PHẨM LÚA GẠO VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về dấu vết các-bon của sản phẩm 1. Khái niệm “dấu vết các-bon” Thuật ngữ “dấu vết các-bon” có nguồn gốc là một bộ phận cấu thành của “dấu vết sinh thái” - thuật ngữ được đưa ra bởi Wackernagel và Rees [103].
Dấu vết sinh thái là diện tích đất và biển có hệ sinh thái cần thiết để duy trì cuộc sống của một số dân nhất định. Theo định nghĩa này, “dấu vết các-bon” là diện tích đất sẽ hấp thụ được lượng CO2 phát thải trong cuộc đời của một người hoặc tổng dân số toàn cầu. Việc tính toán “dấu vết các-bon” trong “dấu vết sinh thái” là rất phức tạp. Tuy nhiên, khi BĐKH dần trở thành thách thức toàn cầu, khái niệm “dấu vết các-bon” đã phát triển độc lập và dưới một hình thức khác với nguồn gốc ban đầu của khái niệm này [41].
Hiện tại, khái niệm “dấu vết các-bon” là sự kết hợp từ nguồn gốc từ ''dấu vết sinh thái'' nhưng về bản chất định nghĩa là chỉ số tiềm năng ấm lên toàn cầu. Tuy nhiên, vẫn còn một vài nghiên cứu vẫn tính toán “dấu vết các-bon” theo đơn vị diện tích dựa trên nguồn gốc của khái niệm này [29], [96]. Wiedmann và Minx [105] thấy rằng định nghĩa “dấu vết các-bon” vẫn còn khác nhau giữa các nghiên cứu và “dấu vết các-bon” chỉ nên phản ánh việc đo đạc phát thải CO2 trực tiếp và gián tiếp gây ra bởi một hoạt động hay được tích lũy qua các giai đoạn của vòng đời sản phẩm. Nếu tất cả các KNK được đưa vào tính toán thì chỉ số ''dấu vết khí hậu'' nên được sử dụng.
Do mục đích của chỉ số “dấu vết các-bon” là đánh giá tác động của các hoạt động đến luan an 11 khí hậu toàn cầu, các nghiên cứu và hướng dẫn mới đề nghị bao gồm tất cả các KNK được quy định theo Nghị định thư Kyoto vào trong “dấu vết các- bon” [45], [81]. Do đó, định nghĩa dấu vết các-bon được đề xuất như sau: ''Lượng KNK được thể hiện dưới dạng CO2 tương đương phát thải vào bầu khí quyển của một cá nhân, tổ chức, quy trình, sản phẩm hoặc sự kiện trong phạm vi ranh giới cụ thể'' [97]. Cũng theo ISO 14040 [75], dấu vết các-bon là tổng lượng CO2 và các loại KNK khác (ví dụ như mêtan, nitơ oxit.) phát thải ra trong vòng đời sản phẩm. Dấu vết các-bon là bộ dữ liệu nằm trong một Đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA – Life Cycle Assessment) hoàn chỉnh hơn.
Các dấu vết các-bon của sản phẩm có thể là tác động hàng năm hoặc trên một đơn vị. Ví dụ, dấu vết các-bon của một chiếc xe có thể được tính theo năm hoặc trên một kilomet di chuyển. Không nghiên cứu dấu vết các- bon nào là hoàn hảo mà chỉ là “ước tính tốt nhất” lượng phát thải tại một thời điểm cụ thể dựa trên các số liệu sẵn có [31]. Mỗi sản phẩm (hay dịch vụ) đều gây ra các tác động đối với môi trường.
Trong một thế giới đối mặt với nhiều cuộc khủng hoảng của sự suy giảm tài nguyên, ô nhiễm không khí, nước và đất, và BĐKH, con người có nhu cầu hướng tới việc giảm bớt những tác động của sản phẩm vì một tương lai bền vững hơn. Vì vậy, việc đo lường dấu vết các-bon là quan trọng để có thể giảm nhẹ phát thải KNK. Mặc dù khái niệm “dấu vết các-bon” dần trở nên phổ biến, được hiểu là chỉ số đóng góp của một cá nhân/tổ chức/quy trình/sản phẩm đối với hiện tượng ấm lên toàn cầu, tuy nhiên vài năm trước, vẫn có sự nhầm lẫn về định nghĩa của dấu vết các-bon [97], [105] do thiếu một phương pháp tiêu chuẩn để tính toán dấu vết các-bon. Nhận thấy sự quan tâm của cộng đồng đến các nghiên cứu về “dấu vết các-bon” và các giao dịch tài chính ngày một gia tăng trên thị trường các-bon, Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO) đã xây dựng tiêu chuẩn về “dấu vết các-bon” và Viện Tiêu chuẩn Anh (BSI) cũng đã xây dựng luan an 12 và cập nhật các hướng dẫn tính toán “dấu vết các-bon”.
Các nghiên cứu về “dấu vết các-bon” cũng đang được ngày càng phát triển, vì vậy, các nghiên cứu này hỗ trợ cho việc xây dựng các phương pháp chuẩn cho tính toán “dấu vết các-bon”. Phạm vi dấu vết các-bon của sản phẩm Các động lực chính của tính toán dấu vết các-bon bao gồm: (i) yêu cầu pháp lý; (ii) buôn bán các-bon; (iii) trách nhiệm xã hội doanh nghiệp; và (iv) phân tích khoa học cho việc xây dựng chính sách hiệu quả để chống lại sự nóng lên toàn cầu [33]. Phạm vi của dấu vết các-bon khá rộng, bao gồm hầu như tất cả các loại sản phẩm, dịch vụ, hoạt động, và quy trình. Dấu vết các-bon của sản phẩm và dịch vụ đã được chứng minh là khá hữu ích không chỉ trong quản lý phát thải hiệu quả hơn trong chuỗi cung ứng, mà còn là một công cụ kinh doanh [83].
Số lượng các công ty tham gia Dự án Công khai Các-bon ngày càng gia tăng do người tiêu dùng bắt đầu ưa thích các sản phẩm với dấu vết các-bon thấp hơn các sản phẩm khác [34]. Vì vậy, quy định dán nhãn các-bon của sản phẩm cũng đã được giới thiệu. Suh [100] đã tính toán dấu vết các-bon cho các vòng đời sản phẩm khác nhau ở Mỹ và đưa ra kết luận rằng, vôi là sản phẩm phát thải lượng các-bon lớn nhất (22,1 kg CO2tđ/$), tiếp theo là hóa chất, phân bón và sản xuất thịt. Các dịch vụ như chăm sóc sức khỏe, cung cấp nước, điện toán và xử lý dữ liệu, vui chơi giải trí để lại dấu vết các-bon nhỏ hơn, dao động từ 42,1- 46,1TgCO2tđ đối với một hộ gia đình trung bình.
Hoefnagels và nnk [64] sử dụng dấu vết các-bon của sản phẩm để so sánh các lựa chọn sử dụng năng lượng khác nhau. Trong điều kiện tối ưu, sản xuất nhiên liệu sinh học phát ra từ 17-140 gCO2tđ/MJ. Dấu vết các-bon của các nhiên liệu khác nhau được tính toán để quyết định về việc nhập khẩu các nhiên liệu xe cộ ở California [36]. Gemechu và nnk [61] cũng ủng hộ việc áp dụng thuế các-bon dựa trên luan an 13 dấu vết các-bon sản phẩm cho sản xuất bột giấy gói hàng, trong đó, việc sử dụng năng lượng là khâu gây ô nhiễm nhất với gần 0,32 kg CO2tđ/kg bột giấy sản xuất.
Trong số các dịch vụ, hàng không là lĩnh vực phát thải KNK cao nhất, do đó, việc tính toán dấu vết các-bon cho ngành hàng không đang được thực hiện [91]. Liên minh châu Âu đã đi đầu trong việc xây dựng các ràng buộc pháp lý để giảm lượng phát thải của ngành hàng không. Trường học và các trường đại học cũng thực hiện tính toán dấu vết các-bon. GAP và nnk [58] ước tính rằng, trong năm 2001, dấu vết các-bon của tất cả các trường ở Vương quốc Anh là 9,2 x 109 kg CO2tđ.
Ở những nơi khác, trường đại học British Columbia và Đại học Pennsylvania có dấu vết các-bon lần lượt là 8,28 x 107 và 3,0 x 108 kg CO2tđ [49]. Dấu vết các-bon cũng đã được đưa vào trong việc quản lý của các thành phố và các tổ chức để cải thiện các chính sách môi trường [36], [62]. Edgar và Peters [42] và UNDP [102] sử dụng cho dấu vết các-bon trên đầu người của các quốc gia khác nhau để so sánh sự đóng góp của các nước, thành phố và các lĩnh vực đối với hiện tượng nóng lên toàn cầu. Các báo cáo này ghi rõ rằng các nước có thu nhập cao để lại dấu vết các-bon lớn nhất, trong khi các nước đang phát triển có dấu vết các-bon nhỏ hơn.
Hiện nay, dấu vết các-bon còn được sử dụng như một chỉ số trong quản lý các sự kiện [88]. Việc tính toán dấu vết các-bon tự nguyện của các tổ chức cũng như cá nhân cũng đang gia tăng với tốc độ nhanh. Tư vấn và tính toán dấu vết các- bon trực tuyến đã đẩy mạnh việc tính toán dấu vết các-bon của cá nhân, đặc biệt là tại các nước phát triển [82], [95]. Các phần mềm tính toán trực tuyến cũng đưa ra các phương án bù trừ các-bon, chủ yếu thông qua hỗ trợ trồng rừng và phát triển năng lượng tái tạo [92].
Theo các báo cáo, thị trường các- bon tự nguyện đã tăng trưởng mạnh mẽ kể năm 1989 [63]. Việc tính toán dấu luan an 14 vết các-bon các hệ thống tự nhiên và bán tự nhiên, có thể giúp so sánh tác động của tự nhiên và con người đối với môi trường [37]. Do đó, có thể thấy rằng việc tính toán dấu vết các-bon có thể được áp dụng đối với hầu hết mọi đối tượng. Phạm vi dấu vết các-bon còn phụ thuộc vào phạm vi các hoạt động sẽ được đưa vào tính toán, bao gồm: cấp 1 (phát thải trực tiếp tại chỗ), cấp 2 (phát thải gián tiếp do mua năng lượng) và cấp 3 (phát thải gián tiếp không bao gồm trong cấp 2) [30], [33], [106].
Việc lựa chọn phát thải trực tiếp và gián tiếp cũng là không tương thích giữa các nghiên cứu khác nhau. Trong hầu hết các trường hợp, việc bao gồm tất cả phát thải gián tiếp là rất phức tạp; do đó, nhiều nghiên cứu trường hợp về “dấu vết các-bon” chỉ báo cáo phát thải trực tiếp hoặc gián tiếp cấp 2 [33], [105]. Tuy nhiên, lượng phát thải gián tiếp có thể chiếm phần lớn trong dấu vết các-bon của nhiều hoạt động [90]. Các tiêu chuẩn, hướng dẫn tính toán dấu vết các-bon của sản phẩm 1) Các hướng dẫn tính toán dấu vết các-bon sản phẩm nói chung Nhìn chung, việc phân tích dấu vết các-bon (CF–Carbon Footprint) có thể được thực hiện cho sản phẩm hoặc hoạt động của các cá nhân, nhóm hoặc tổ chức.
Dấu vết các-bon của hoạt động là các kiểm kê phát thải KNK hàng năm của các cá nhân, nhóm, tổ chức, công ty và chính phủ. Các kiểm kê quốc gia (cách tiếp cận dựa trên hoạt động) dựa trên phát thải trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Điều đó nghĩa là các hoạt động sản xuất, vận chuyển và các hoạt động khác trong phạm vi quốc gia và vì vậy phát thải KNK từ sản xuất và vận chuyển quốc tế các sản phẩm nhập khẩu sẽ bị loại trừ. Tuy nhiên, dấu vết các- bon sản phẩm là cách tiếp cận đánh giá vòng đời của toàn bộ/một phần vòng đời sản phẩm hoặc dịch vụ, điều đó có nghĩa là tất cả phát thải KNK từ mọi hoạt động sản xuất trong vòng đời sản phẩm/dịch vụ sẽ được bao gồm.
Cách tiếp cận này sẽ đầy đủ và công bằng hơn do người tiêu dùng sẽ chịu trách luan an 15 nhiệm cho lượng phát thải KNK.