Nghiên cứu quy trình sản xuất phân compost quy mô hộ gia đình tại Đà Nẵng

Luận văn tốt nghiệp kỹ thuật nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất phân compost quy mô hộ gia đình tại, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

63
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT PHÂN COMPOST TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.1.1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất phân compost trên thế giới

1.1.2. Ủ phân compost theo quy mô lớn

1.1.3. Ủ phân compost theo quy mô hộ gia đình

1.1.4. Tình hình nghiên cứu và sản xuất phân compost tại Việt Nam

1.1.4.1. Ủ phân compost theo quy mô lớn

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4. CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC VÀ HÌNH ẢNH THỰC TẾ

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng và sự gia tăng chất thải rắn sinh hoạt, việc sản xuất phân compost tại hộ gia đình trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Đà Nẵng, với lượng rác thải hữu cơ chiếm khoảng 70% trong tổng lượng rác thải phát sinh, đang đối mặt với thách thức lớn trong việc xử lý rác thải. Việc áp dụng quy trình sản xuất phân hữu cơ không chỉ giúp giảm lượng rác thải ra bãi rác mà còn tạo ra nguồn dinh dưỡng an toàn cho cây trồng. Theo thống kê, lượng chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm, trong đó rác hữu cơ chiếm tỷ lệ cao. Điều này cho thấy sự cần thiết phải phát triển các phương pháp xử lý rác thải hiệu quả, trong đó có quy trình compost tại hộ gia đình.

II. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xây dựng quy trình sản xuất phân compost quy mô hộ gia đình tại Đà Nẵng. Cụ thể, nghiên cứu sẽ tìm hiểu các vấn đề tồn tại trong việc sản xuất phân compost, thực hiện các thí nghiệm để giải quyết những vấn đề này, và áp dụng quy trình tại một số hộ gia đình thí điểm. Việc này không chỉ giúp nâng cao nhận thức của người dân về quản lý rác thải mà còn tiết kiệm chi phí và cung cấp nguồn dinh dưỡng cho cây trồng. Nghiên cứu cũng hướng đến việc khuyến khích người dân tham gia vào quá trình xử lý rác thải và sản xuất phân bón tự nhiên.

III. Tình hình nghiên cứu và sản xuất phân compost trên thế giới

Trên thế giới, quy trình compost đã được áp dụng từ hàng nghìn năm trước. Các quốc gia như Mỹ, Canada, và các nước châu Âu đã phát triển nhiều mô hình công nghệ xử lý rác thải hữu cơ. Tại Đông Nam Á, Singapore là quốc gia tiên phong trong việc quản lý chất thải rắn và khuyến khích người dân phân loại rác tại nguồn. Các mô hình sản xuất phân compost quy mô lớn và hộ gia đình đã được triển khai, giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tạo ra nguồn dinh dưỡng cho cây trồng. Tuy nhiên, một số vấn đề như mùi hôi và giòi vẫn tồn tại, đòi hỏi sự can thiệp từ chính phủ và các tổ chức phi chính phủ để cải thiện tình hình.

IV. Tình hình nghiên cứu và sản xuất phân compost tại Việt Nam

Tại Việt Nam, việc sản xuất phân compost đang được chú trọng, đặc biệt là tại các đô thị lớn. Các mô hình ủ compost quy mô lớn đã được đầu tư, tuy nhiên, việc áp dụng quy trình tại hộ gia đình vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu cho thấy rằng, mặc dù có nhiều lợi ích từ việc sản xuất phân bón tự nhiên, người dân vẫn gặp khó khăn trong việc thực hiện do thiếu thông tin và hỗ trợ kỹ thuật. Việc nâng cao nhận thức và cung cấp hướng dẫn cụ thể cho người dân là rất cần thiết để khuyến khích họ tham gia vào quy trình này.

V. Quy trình sản xuất phân compost tại hộ gia đình

Quy trình sản xuất phân compost tại hộ gia đình bao gồm các bước như thu gom rác thải hữu cơ, phân loại, ủ và bảo quản. Người dân cần được hướng dẫn cụ thể về cách thức thực hiện để đảm bảo hiệu quả. Việc sử dụng các nguyên liệu như rau củ, lá cây, và các chất thải hữu cơ khác sẽ giúp tạo ra phân bón tự nhiên chất lượng cao. Ngoài ra, việc theo dõi các thông số như nhiệt độ, độ ẩm và pH trong quá trình ủ cũng rất quan trọng để đảm bảo quá trình phân hủy diễn ra thuận lợi.

VI. Lợi ích của phân compost

Sản xuất phân compost mang lại nhiều lợi ích cho môi trường và cộng đồng. Đầu tiên, nó giúp giảm lượng rác thải hữu cơ ra bãi rác, từ đó giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Thứ hai, phân bón tự nhiên từ compost cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, giúp cải thiện chất lượng đất và tăng năng suất cây trồng. Cuối cùng, việc tham gia vào quy trình này cũng nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ môi trường và quản lý rác thải, góp phần xây dựng một cộng đồng bền vững.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT PHÂN COMPOST TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất phân compost trên thế giới Lịch sử quá trình ủ compost đã có từ rất lâu, ngay từ khi khai sinh của nông nghiệp hàng nghìn năm trước Công nguyên, ghi nhận tại Ai Cập từ 3.000 năm trước Công nguyên như là một quá trình xử lý chất thải nông nghiệp đầu tiên trên thế giới. Người Trung Quốc đã ủ chất thải từ cách đây 4.000 năm, người Nhật đã sử dụng compost làm phân bón trong nông nghiệp từ nhiều thế kỷ.

Tuy nhiên đến năm 1943, quá trình ủ compost mới được nghiên cứu một cách khoa học và báo cáo bởi giáo sư người Anh, Sir Albert Howard thực hiện tại Ấn Độ [4]. Đến nay đã có nhiều tài liệu viết về quá trình ủ compost và nhiều mô hình công nghệ ủ compost quy mô lớn và quy mô hộ gia đình được phát triển trên thế giới. Ủ phân compost theo quy mô lớn Tại Đông Nam Á, Singapo là nước đầu tiên áp dụng thành công trong quản lý CTR để BVMT. Chính phủ Singapo đang yêu cầu tăng tỷ lệ tái chế thông qua phân loại rác tại nguồn từ các hộ gia đình, các chợ, các cơ sở kinh doanh để giảm chi ngân sách cho Nhà nước.

Các quốc gia còn lại đang trong quá trình tìm kiếm hoặc triển khai mới mô hình quản lý CTR. Tại Bangkok, việc phân loại rác tại nguồn chỉ mới thực hiện được tại một số trường học và một số quận trung tâm để tách ra một số loại bao bì dễ tái chế, lượng rác còn lại vẫn đang phải chôn lấp, tuy nhiên được ép chặt để giảm thể tích và cuốn nilon rất kỹ xung quanh mỗi khối rác để giảm bớt ô nhiễm. Một số công nghệ tái chế rác thải làm phân bón ở các nước như sau [5;16]. Ở các vùng của Mỹ và Canađa có khí hậu ôn đới thường áp dụng phương pháp xử lý rác thải ủ đống tĩnh có đảo trộn như sau: Rác thải được tiếp nhận và tiến hành phân loại, rác thải hữu cơ được nghiền và bổ sung vi sinh vật, trộn với bùn và đánh đống ở ngoài trời.

Chất thải được lên men từ 8-10 tuần lễ, sau đó sàng lọc và đóng bao [6]. Luan van 5 Sơ đồ dây chuyền công nghệ được thể hiện như hình 1.1 Tiếp nhận rác thải Loại bỏ tạp chất không hữu cơ Nghiền hữu cơ Bổ sung VSV Bùn Đánh luống Lên men từ 8 đến 10 tuần Sàng, xử lý chất hữu Chôn lấp chất trơ cơ Đóng bao phân bón Hình 1. Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải của Mỹ – Canada Nguồ n: Vietnam ossociation for conservation of nature and environment, 2013 Ưu điểm: Thu hồi được sản phẩm làm phân bón, tận dụng được nguồn bùn là các phế thải của thành phố hoặc bùn ao, cung cấp được nguyên liệu tái chế cho các ngành công nghiệp. Kinh phí đầu tư và duy trì thấp.

Hạn chế: Hiệu quả phân huỷ hữu cơ không cao, chất lượng phân bón được thu hồi không cao vì có lẫn các kim loại nặng trong bùn thải hoặc bùn ao. Việc áp dụng mô hình này không phù hợp với khí hậu nhiệt đới tại Việt Nam vì phát sinh Luan van 6 nước rỉ rác, không đảm bảo được VSMT, ảnh hưởng đến nguồn nước mặt và nước ngầm. Diện tích đất sử dụng quá lớn. Công nghệ phổ biến nhất của Đức là xử lý rác đi đôi với thu hồi khí sinh học và phân bón hữu cơ vi sinh, cụ thể như sau: Rác thải ở các gia đình đã được phân loại, ở những nơi công cộng phân loại chưa triệt để, được tiếp nhận và tiến hành phân loại tiếp.

Rác hữu cơ được đưa vào các thiết bị ủ kín dưới dạng các thùng chịu áp lực cùng với thiết bị thu hồi khí sinh ra trong quá trình lên men phân giải hữu cơ [6]. Tiếp nhận rác thải sinh hoạt Phân loại Rác vô cơ Rác hữu cơ lên men Hút khí Tái chế Phân hữu cơ vi sinh Lọc Chôn lấp chất trơ Nạp khí Hình 1. Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của CHLB Đức Nguồ n: Vietnam ossociation for conservation of nature and environment, 2013 Ưu điểm: Xử lý triệt để, đảm bảo VSMT, thu hồi sản phẩm là khí đốt có giá trị cao, phục vụ cho các ngành công nghiệp ở khu lân cận nhà máy. Thu hồi phân Luan van 7 bón có tác dụng cải tạo đất, cung cấp nguyên liệu tái chế cho các ngành công nghiệp.

Hạn chế: Đòi hỏi kinh phí đầu tư lớn và kinh phí duy trì cao, chất lượng phân bón thu hồi không cao. Tại Trung Quốc thường áp dụng công nghệ trong các thiết bị kín. Rác được tiếp nhận, đưa vào thiết bị ủ kín (hầm ủ) sau 10-12 ngày, hàm luợng các khí H2S, CH4, SO2. giảm được đưa ra ngoài ủ chín.

Sau đó mới tiến hành phân loại, chế biến thành phân bón hữu cơ [6]. Tiếp nhận rác thải Thiết bị chứa có bổ sung vi sinh vật, thu nước thải trong thời gian 10 đến 12 ngày Ủ chính, độ ẩm 40%, thời gian từ 15 đến 20 ngày Sàng phân loại theo kích thuớc Phân loại theo trọng Vật vô cơ lượng bằng không khí có thu kim loại Phân loại sản Phối trộn các nguyên tố phẩm để tái chế khác N P K và các nguyên tố khác Chôn lấp chất trơ Ủ phân bón nhiệt độ từ 30 đến 40◦C trong thời gian từ 5 đến 10 ngày Hình 1. Công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt Trung Quốc Nguồ n: Vietnam ossociation for conservation of nature and environment, 2013 Luan van 8 Ưu điểm: Rác được ủ từ 10-12 ngày đã giảm mùi của khí H2S, sau đó mới đưa ra ngoài xử lý, góp phần giảm nhẹ mức độ độc hại đối với người lao động. Thu hồi được nước rác, không gây ảnh hưởng tới tầng nước ngầm.

Thu hồi được sản phẩm tái chế. Rác vô cơ khi đưa đi chôn lấp không gây mùi và ảnh hưởng đến tầng nước ngầm vì đã được ôxy hoá trong hầm ủ. Thu hồi được sản phẩm làm phân bón. Hạn chế: Chất lượng phân bón không cao, chưa xử lý triệt để các vi khuẩn gây bệnh.

Thao tác vận hành phức tạp. Diện tích hầm ủ rất lớn không được phân loại, diện tích nhà máy lớn. Kinh phí đầu tư ban đầu lớn. Ủ phân compost theo quy mô hộ gia đình Do lượng rác thải hữu cơ ngày càng nhiều (>80%), với ý thức bảo vệ môi trường và mong muốn có một môi trường sống trong sạch và lành mạnh đồng thời để giảm lượng rác thải ra bãi rác mà một số nước đang phát triển và phát triển như Thái Lan, Đan Mạch, Malaixia, Canada, Sri Lanka đã đưa việc làm phân compost cho những hộ gia đình với mong muốn vừa cải tạo môi trường vừa tạo ra nguồn dinh dưỡng bón cho cây an toàn.

Chính phủ các nước khuyến khích người dân tách FW tại các nguồn ở một số tỉnh, thành phố để tăng cường thực hiện 3Rs, nhằm mục đích tăng tỷ lệ sử dụng chất thải hữu cơ lên 50%. Hơn nữa, chính phủ của họ đã hợp tác với các tổ chức phi chính phủ (NGOs) quản lý một chương trình làm phân compost bằng cách cung cấp miễn phí thùng rác thải hữu cơ, hướng dẫn và theo dõi cách làm của người dân. Trước sự khuyến khích đó thì hầu hết các hộ gia đình đều áp dụng việc làm phân compost tại nhà, các hộ dân đều ủng hộ nhiệt tình và rất hứng thú với sản phẩm làm ra và số lượng hộ gia đình ủ đã tăng đáng kể và đã tạo ra một câu chuyện thành công và du khách các nước đến học hỏi kinh nghiệm. Tuy nhiên, sau một thời gian bất chấp sự thành công bước đầu và công khai, hoạt động phân compost đã giảm, hộ dân cho rằng việc làm phân này rất tốn thời gian và một số hộ đã gặp vấn đề về mùi hôi, giòi và nước rỉ.

Tuy nhiên, với sự can thiệp nhanh chóng từ chính phủ và NGOs mà những vấn đề này đã dần được loại bỏ. Mặc dù kết quả không tro ̣n ve ̣n, tuy nhiên tất cả người tham gia đều có kinh nghiệm về việc làm phân compost. Họ cũng hài lòng với phân hữu cơ tự sản xuất bởi mình để sử dụng Luan van 9 trong vườn của họ và một số người đã tự tin để chia sẻ và dạy bạn bè của họ những lợi ích của việc ủ phân [14;17;19]. Tình hình nghiên cứu và sản xuất phân compost tại Việt Nam a.

Ủ phân compost theo quy mô lớn Tại Việt Nam hai đơn vị dẫn đầu về nghiên cứu và ứng dụng phân compost là Viện Công Nghệ Sinh Học Trung Tâm Khoa Học Tự Nhiên Và Công Nghệ Quốc Gia và Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Ngiệp Việt Nam Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn. Một số mô hình xử lý chất thải rắn đô thị quy mô lớn cũng đã được đầu tư trong những năm gần đây [1]. Trong đó có các dự án sử dụng nguồn vốn của Nhà nước và ODA, điển hình như tại Cầu Diễn - TP. Hà Nội (năm 2002) áp dụng công nghệ của Tây Ban Nha và tại TP.

Nam Định (năm 2003) áp dụng công nghệ của Pháp. Một số dự án sử dụng nguồn vốn tư nhân đều áp dụng công nghệ trong nước như tại Thủy Phương - TP. Huế (năm 2004) áp dụng công nghệ An Sinh - ASC, tại Đông Vinh - TP. Vinh (năm 2005) và TX.

Sơn Tây - tỉnh Hà Tây (đang chạy thử nghiệm) [1]. Trong đó các mô hình công nghệ ủ compost áp dụng ở đây có thể chia thành các loại hình cơ bản như sau: Mô hình ủ compost hệ thống nửa mở, kiểu chia ô không liên tục tại Cầu Diễn, Nam Định, Thủy Phương. Thông thường hệ thống được điều khiển thông khí tự động. Nói chung các mô hình ủ compost kiểu này đều ở cấp độ đơn giản, vẫn còn những nguy cơ phát sinh mùi ô nhiễm do hệ thống chưa khép kín.

Mô hình ủ compost kiểu luống động trong nhà kín tại Đông Vinh được thiết kế hoạt động liên tục, đảo trộn theo chu kỳ ngắn. Trong đó hỗn hợp nguyên liệu hữu cơ đưa tới đâu vào của hệ thống vận chuyển liên tục trong quá trình ủ bằng cách đảo trộn sau cùng sản phẩm được lấy ra ở đầu cuối của hệ thống. Toàn bộ quá trình ủ ở đây được thực hiện trong nhà kín có thiết kế thông khí và xử lý khí thải bằng biofilter. Luống ủ được thiết kế với kích thước lớn và liên tục giúp tiết kiệm diện tích mặt bằng để vận hành, đây là mô hình công nghệ đơn giản với chi phí đầu tư không lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu quy trình sản xuất phân compost quy mô hộ gia đình tại Đà Nẵng" của tác giả Lưu Thị Kim Oanh, dưới sự hướng dẫn của TS. Kiều Thị Kính, trình bày một quy trình sản xuất phân compost hiệu quả cho các hộ gia đình tại Đà Nẵng. Nghiên cứu này không chỉ giúp người dân tận dụng rác thải hữu cơ mà còn góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng đất trồng. Việc sản xuất phân compost tại nhà mang lại nhiều lợi ích, bao gồm giảm thiểu lượng rác thải, tiết kiệm chi phí mua phân bón và cải thiện năng suất cây trồng.

Nếu bạn quan tâm đến các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững, hãy tham khảo thêm bài viết Luận văn về phát triển kinh tế trang trại bền vững tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, nơi đề cập đến các mô hình nông nghiệp bền vững. Ngoài ra, bài viết Sự Tham Gia Của Người Dân Và Tổ Chức Xã Hội Trong Xây Dựng Mô Hình Nông Thôn Mới Ở Xã Hải Đường, Huyện Hải Hậu, Tỉnh Nam Định cũng mang đến cái nhìn sâu sắc về sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nông thôn. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Giải pháp phát triển chăn nuôi bò thịt tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, một nghiên cứu liên quan đến phát triển chăn nuôi bền vững trong nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và tìm hiểu thêm về các phương pháp phát triển nông nghiệp hiệu quả.