Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây Quế (Cinnamomum cassia Nees ex Blume), thuộc họ Long não (Lauraceae), là loài cây gỗ bản địa đa tác dụng có giá trị kinh tế và phòng hộ môi trường cao. Vỏ và tinh dầu quế là nguồn nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp y dược, chế biến thực phẩm, hương liệu và xuất khẩu, đồng thời thảm rừng quế góp phần nâng cao độ che phủ, chống xói mòn và điều hòa tiểu khí hậu vùng đồi núi dốc. Tại tỉnh Lào Cai, tổng diện tích quế năm 2015 đạt 11.198,5 ha, riêng huyện Bảo Thắng có 1.689,1 ha. Mặc dù là cây trồng chủ lực trong chiến lược xóa đói giảm nghèo của địa phương, song trong giai đoạn canh tác gần đây, diện tích, năng suất vỏ và phẩm chất lâm phần quế có biểu hiện suy giảm do thiếu hụt các dẫn liệu khoa học về đặc tính sinh thái, quy luật sinh trưởng và kỹ thuật lâm sinh thích ứng trên từng dạng lập địa cụ thể.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Trần Văn Đoàn thực hiện khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Quản lý tài nguyên rừng (Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2016) dưới sự hướng dẫn của TS. Hồ Ngọc Sơn. Nghiên cứu tập trung giải quyết các mục tiêu sau:

  1. Đánh giá tình hình sinh trưởng của rừng trồng quế tại thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
  2. Đánh giá chất lượng rừng trồng và tình hình sâu bệnh hại trên cây quế tại địa bàn nghiên cứu.
  3. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng rừng quế phù hợp với điều kiện lập địa địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản:

  • Đối tượng nghiên cứu: Rừng quế trồng thuần loài đều tuổi ở các giai đoạn 4 tuổi, 5 tuổi và 6 tuổi.
  • Phạm vi không gian: Lô số 3, khoảnh vĩ, tiểu khu 228 thuộc địa bàn thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thực địa được thu thập từ ngày 15/02/2016 đến tháng 05/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên lý thuyết điều tra rừng và sản lượng rừng, tiếp cận quan niệm sinh trưởng của Ludwig von Bertalanffy, cùng giáo trình chuyên ngành của Vũ Tiến Hinh – Phạm Ngọc Giao (1997) và Lê Văn Phúc (2012). Theo đó, sinh trưởng được định nghĩa là sự biến đổi kích thước hình học (đường kính $D_{1.3}$, chiều cao $H_{vn}$, đường kính tán $D_t$, thể tích $V$) của cây cá lẻ và lâm phần theo thời gian dưới sự chi phối đồng thời của đặc tính di truyền loài, điều kiện lập địa (đất đai, địa hình, khí hậu) và các tác động lâm sinh. Tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu về lập địa nhiệt đới của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 1984), nghiên cứu năng suất lập địa của Gonçalves và cộng sự (2004), phân vùng lập địa của Nguyễn Ngọc Nhị và Nguyễn Văn Khánh, phân loại giống quế của Đỗ Tất Lợi, Trần Hợp, cùng nghiên cứu tuyển chọn cây trội quế của Nguyễn Huy Sơn.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra thực địa ngoại nghiệp và xử lý thống kê sinh học nội nghiệp:

  • Bố trí thí nghiệm và điều tra ngoại nghiệp:

    • Thiết lập tổng cộng 9 ô tiêu chuẩn (OTC) định vị tạm thời tại rừng quế thuần loài ở 3 cấp tuổi (4, 5, 6 tuổi). Mỗi cấp tuổi bố trí 3 OTC diện tích $500 \text{ m}^2$ ($20 \text{ m} \times 25 \text{ m}$) phân bố đại diện theo 3 vị trí địa hình: chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi.
    • Dung lượng mẫu đo đếm dao động từ 147 đến 153 cây/OTC; tổng số cây khảo sát đo đếm chi tiết là 1.341 cây.
    • Đo chu vi thân cây ở vị trí ngang ngực ($C_{1.3}$) bằng thước dây, quy đổi ra đường kính ngang ngực theo công thức $D_{1.3} = C_{1.3} / 3{,}14$. Đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước sào với độ chính xác đến 0,1 cm. Đo đường kính tán ($D_t$) bằng thước dây theo hai hướng trực giao Đông – Tây ($D_{tĐT}$) và Nam – Bắc ($D_{tNB}$), lấy trung bình cộng $D_t = (D_{tĐT} + D_{tNB}) / 2$.
    • Phân loại chất lượng cây rừng thành 3 cấp: cây Tốt (thân thẳng, sinh trưởng cân đối, không sâu bệnh), cây Trung bình (chiều cao thấp hơn cây tốt, không sâu bệnh, tán lá cân đối), cây Xấu (thân cong queo, sâu bệnh, còi cọc).
    • Đào và mô tả phẫu diện đất theo tầng phát sinh, xác định độ dày tầng đất, màu sắc, độ ẩm, độ chặt, tỷ lệ đá lẫn, thành phần cơ giới và chỉ thị sinh vật đất. Điều tra thành phần thực bì dưới tán và ghi nhận loài sâu bệnh hại thực tế.
  • Phương pháp tính toán nội nghiệp:

    • Xác định số tổ phân chia $m = 5 \cdot \lg(N)$ và cự ly tổ $k = (X_{max} - X_{min}) / m$ theo phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp của Ngô Kim Khôi và cộng sự (2001).
    • Tính toán các đại lượng mẫu ngẫu nhiên: giá trị trung bình ($\bar{X}$), phương sai mẫu ($S^2$), độ lệch tiêu chuẩn mẫu ($S$) và hệ số biến động ($S%$).
    • Sử dụng tiêu chuẩn phân phối chuẩn $U$ (U-test) để kiểm định sai dị giữa các giá trị trung bình ở các vị trí địa hình khác nhau:

$$U = \frac{\bar{X}_1 - \bar{X}_2}{\sqrt{\frac{S_1^2}{N_1} + \frac{S_2^2}{N_2}}}$$

Nếu $|U| > U_{\alpha/2} = 1{,}96$ ở mức ý nghĩa $\alpha = 0{,}01$, bác bỏ giả thuyết quy không $H_0$, kết luận có sự sai khác có ý nghĩa thống kê về sinh trưởng giữa các vị trí địa hình.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc phát triển cây quế bản địa gắn liền với sinh kế miền núi, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ tài nguyên đất dốc tại Lào Cai. Xác định mục tiêu nghiên cứu gồm đánh giá động thái sinh trưởng các chỉ tiêu đường kính, chiều cao, đường kính tán; đánh giá chất lượng cây và tình hình sâu bệnh; đề xuất biện pháp lâm sinh điều chỉnh mật độ, nuôi dưỡng lâm phần. Nêu rõ ý nghĩa học thuật trong việc rèn luyện phương pháp điều tra thực địa và ý nghĩa thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch kinh doanh rừng quế tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Tổng kết cơ sở khoa học về động thái sinh trưởng rừng trồng và tương tác lập địa. Hệ thống hóa các nghiên cứu quế trên thế giới (J. Lan, 1928; FAO, 1979) và tại Việt Nam (phân loại quế của Đỗ Tất Lợi gồm quế Thanh Hóa C. loureirii, quế Trung Quốc C. cassia, quế Xây Lan C. zeylanicum; kết luận của Trần Hợp về quế miền Bắc thuộc loài C. cassia; tuyển chọn giống có hàm lượng tinh dầu cao từ 2,20% đến 5,15% của Nguyễn Huy Sơn). Giới thiệu đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội thị trấn Phố Lu: diện tích tự nhiên $16{,}42 \text{ km}^2$, dân số 10.226 người; khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình đạt 2.000 mm/năm; tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh Lào Cai là 417.676,69 ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 52,8%.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể đối tượng nghiên cứu là rừng quế thuần loài 4, 5, 6 tuổi tại Lô 3, khoảnh vĩ, tiểu khu 228 thị trấn Phố Lu. Thiết lập hệ thống 9 OTC có diện tích $500 \text{ m}^2$/ô đại diện cho 3 cấp tuổi và 3 dạng địa hình (chân, sườn, đỉnh). Mô tả quy chuẩn kỹ thuật đo đếm các chỉ tiêu $D_{1.3}$, $H_{vn}$, $D_t$, tiêu chuẩn đánh giá 3 cấp chất lượng thân cây, quy trình đào phẫu diện đất xác định lý hóa tính và thuật toán thống kê sinh học lâm nghiệp (phân tổ, phương sai, tiêu chuẩn kiểm định sai dị $U$).

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Phần kết quả tập trung các số liệu điều tra thực nghiệm, phân tích sinh trưởng, tính chất đất và giải pháp kỹ thuật:

1. Hiện trạng phân bố rừng trồng quế

Tổng diện tích quế tỉnh Lào Cai là 11.198,5 ha, phân bố tại 50 xã thuộc 4 huyện; riêng huyện Bảo Thắng có 1.689,1 ha. Quế non chiếm tỷ trọng chủ yếu, trong đó diện tích trồng mới giai đoạn 2010 – 2014 toàn tỉnh đạt 5.140,1 ha (riêng Bảo Thắng đạt 727,1 ha). Hai giống quế chính gồm giống lá to (quế quan - C. zeylanicum) và giống lá nhỏ (quế đơn - C. cassia), trong đó giống quế đơn chiếm đa số nhờ vỏ dày và hàm lượng tinh dầu cao.

Cấp tuổi Giai đoạn trồng Toàn tỉnh (ha) Bảo Thắng (ha) Văn Bàn (ha) Bảo Yên (ha) Bắc Hà (ha)
Cấp 1 2010 – 2014 5.140,1 727,1 1.093,0 2.263,0 1.046,0
Cấp 2 2005 – 2009 2.810,0 426,0 373,0 1.243,0 768,0
Cấp 3 2000 – 2004 1.769,2 135,2 172,0 751,2 507,0
Cấp 4 1995 – 1999 1.178,2 152,0 99,0 568,0 359,2
Cấp 5 Trước 1995 301,0 32,0 17,0 25,0 227,0
Tổng 11.198,5 1.689,1 1.754,0 4.848,2 2.907,2

2. Đánh giá sinh trưởng đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và đường kính tán ($D_t$)

Dung lượng đo đếm tại mỗi OTC dao động từ 147 đến 153 cây. Tại OTC1 (4 tuổi, chân đồi, 147 cây), giá trị $H_{vn}$ trung bình đạt 5,502 m và $D_t$ trung bình đạt 2,739 m. Phép kiểm định sai dị tiêu chuẩn $U$ đối với tất cả các cặp so sánh giữa các vị trí chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi ở từng cấp tuổi đều cho kết quả $|U| > U_{\alpha/2} = 1{,}96$ (ví dụ: so sánh OTC1 – OTC2 ở chỉ tiêu $D_{1.3}$ đạt $|U| = 11{,}422$; ở $H_{vn}$ đạt $|U| = 11{,}040$; ở $D_t$ đạt $|U| = 12{,}040$). Kết quả khẳng định sinh trưởng của quế có sự phân hóa rõ rệt theo điều kiện địa hình: vị trí đỉnh đồi nhận được nhiều ánh sáng hơn giúp sinh trưởng chiều cao vượt trội do quế bước sang giai đoạn sau 3 tuổi là loài ưa sáng hoàn toàn; trong khi chân và sườn đồi bị che bóng cục bộ bởi địa hình và các vạt rừng lân cận.

3. Phân cấp chất lượng rừng trồng

Tổng số cây khảo sát là 1.341 cây trên 9 OTC. Tỷ lệ cây tốt và cây trung bình chiếm ưu thế tuyệt đối:

  • Tỷ lệ cây Tốt cao nhất đạt 58% (tại OTC9, tuổi 6) và thấp nhất đạt 35% với 52 cây (tại OTC6, tuổi 5).
  • Tỷ lệ cây Trung bình cao nhất đạt 64,63% với 95 cây (tại OTC6) và thấp nhất đạt 38% với 57 cây (tại OTC9).
  • Tỷ lệ cây Xấu chiếm tỷ lệ rất thấp; cao nhất là 11,49% với 17 cây (tại OTC5, tuổi 5); tại OTC6 gần như không xuất hiện cây xấu.

4. Đặc điểm đất dưới tán và tình hình sâu bệnh

Phẫu diện đất dưới tán rừng quế 4, 5, 6 tuổi phản ánh đất feralit phát triển tốt:

  • Độ dày tầng đất: Trung bình các ô đạt từ 68,3 cm đến 70 cm (biến động các phẫu diện đơn lẻ từ 68 cm đến 71 cm).
  • Tính chất lý hóa đất: Màu sắc chủ đạo là vàng đỏ, vàng nâu và vàng xám; độ chặt từ xốp, khá xốp đến hơi chặt; độ ẩm tương đối cao đến rất ẩm; tỷ lệ đá lẫn ít đến trung bình; thành phần cơ giới chủ yếu là thịt nhẹ và thịt trung bình. Hoạt động của động vật đất ghi nhận sự hiện diện phổ biến của giun đất, kiến và dế.
  • Thực bì: Thảm tươi dưới tán phát triển mạnh gồm thẩu tấu, sim, mua, cỏ tranh (cỏ danh), cỏ cứt lợn.
  • Sâu bệnh hại: Rừng quế ít bị sâu bệnh do chủ rừng chủ động phòng trừ trước mùa xuân. Ghi nhận bệnh xuất hiện trên lá là bệnh đốm lá ở quy mô nhỏ lẻ.

5. Biện pháp kỹ thuật lâm sinh đề xuất

  • Chăm sóc rừng non (năm 1 đến năm 3): Trồng dặm cây chết ở năm đầu. Trồng nông lâm kết hợp hoặc trồng theo băng rạch cần chăm sóc 2 lần/năm trong 3 năm đầu; phát dọn dây leo, cỏ dại lấn át, giữ ẩm gốc. Xới đất quanh gốc đường kính 1 m, kết hợp bón phân NPK liều lượng 50 g/gốc (bón cách gốc 30 – 40 cm). Điều chỉnh độ tàn che giảm dần để cây hấp thụ ánh sáng hoàn toàn từ năm thứ 4.
  • Nuôi dưỡng theo độ tuổi:
    • Rừng quế 4 tuổi: Rừng đang khép tán nhưng chưa đều, thảm thực bì còn cạnh tranh không gian; cần tập trung phát quang cây bụi, cỏ dại quanh gốc cây.
    • Rừng quế 5 tuổi: Cây gỗ đã vượt tầng cỏ dại; tiến hành tỉa thưa định hình để duy trì mật độ khoảng 2.000 cây/ha; bón phân thúc bổ sung cho những cá thể sinh trưởng chậm, còi cọc và làm vệ sinh rừng.
    • Rừng quế 6 tuổi: Quá trình cạnh tranh không gian dinh dưỡng và tỉa thưa tự nhiên diễn ra gay gắt; cần áp dụng bài cây tỉa thưa nhân tạo để loại bỏ triệt để cây xấu, cây cong queo, sâu bệnh nhằm giải phóng không gian tán cho các cây sinh trưởng tốt.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể từ hiện trường điều tra tại tiểu khu 228 thị trấn Phố Lu:

Chỉ tiêu / Yếu tố khảo sát Giá trị định lượng ghi nhận trong văn bản
Quy mô điều tra thực địa 9 OTC ($500 \text{ m}^2$/ô); tổng số cây đo đếm chi tiết là 1.341 cây (147 – 153 cây/ô)
Cấp tuổi nghiên cứu Gồm 3 cấp tuổi: 4 tuổi (OTC1 – 3), 5 tuổi (OTC4 – 6), 6 tuổi (OTC7 – 9)
Kiểm định sai dị địa hình ($U$-test) Giá trị $|U| > 1{,}96$ ở mọi cặp so sánh chân – sườn – đỉnh ($p < 0{,}01$) đối với $D_{1.3}, H_{vn}, D_t$
Tỷ lệ phân cấp chất lượng lâm phần Cây Tốt: 35% – 58%; Cây Trung bình: 38% – 64,63%; Cây Xấu: 0% – 11,49%
Đặc điểm phẫu diện đất rừng Tầng đất dày trung bình 68,3 – 70 cm; đất thịt nhẹ đến thịt trung bình; ẩm; nhiều giun đất
Thành phần thực bì và sâu bệnh Thảm tươi: thẩu tấu, sim, mua, cỏ tranh, cỏ cứt lợn; Sâu bệnh: xuất hiện bệnh đốm lá
Mật độ nuôi dưỡng đích (tuổi 5) Đưa mật độ lâm phần về mức 2.000 cây/ha thông qua kỹ thuật tỉa thưa

Về mặt đóng góp, tác giả đã tự xác định:

  • Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm khách quan về sinh trưởng hình học ($D_{1.3}$, $H_{vn}$, $D_t$) của quế thuần loài giai đoạn khép tán (4 – 6 tuổi) trên các vi địa hình khác nhau tại thị trấn Phố Lu.
  • Chứng minh bằng toán học thống kê sự phân hóa sinh trưởng giữa các vị trí chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi, làm cơ sở giải thích nhu cầu ánh sáng và độ ẩm của quế khi chuyển sang giai đoạn ưa sáng.
  • Xây dựng hệ thống biện pháp lâm sinh chi tiết theo từng cấp tuổi (phát quang tuổi 4; bón phân thúc và tỉa thưa mật độ về 2.000 cây/ha ở tuổi 5; tỉa thưa giải phóng tán ở tuổi 6), phục vụ trực tiếp cho công tác quản trị rừng của Hạt Kiểm lâm Bảo Thắng và các hộ dân nhận khoán đất lâm nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu được công bố trong văn bản:

  • Phạm vi khảo sát không gian chỉ giới hạn tại một địa điểm duy nhất (Lô 3, khoảnh vĩ, tiểu khu 228, thị trấn Phố Lu) và thời gian quan trắc ngắn hạn (từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2016), chưa theo dõi được động thái tăng trưởng định kỳ liên tục qua nhiều năm sinh trưởng.
  • Nghiên cứu chỉ tập trung vào giai đoạn tuổi non từ 4 đến 6 tuổi, chưa bao quát toàn bộ chu kỳ kinh doanh dài hạn của rừng quế (từ tuổi 10 đến khi khai thác trắng vỏ chính ở tuổi 15 – 20).
  • Chưa tiến hành phân tích hóa nghiệm các chỉ tiêu độ phì đất trong phòng thí nghiệm (mới dừng ở mô tả phẫu diện hình thái ngoài thực địa) và chưa định lượng hàm lượng tinh dầu thực tế của các lâm phần khảo sát để đối chiếu với các vùng nguyên liệu khác.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn thiết thực:

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Khuyến nông; cán bộ kỹ thuật tại các ban quản lý rừng phòng hộ, hạt kiểm lâm cấp huyện; các chủ rừng trang trại và hộ gia đình tham gia trồng rừng kinh tế vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.
  • Nội dung tham khảo trọng tâm: Phương pháp thiết lập ô tiêu chuẩn $500 \text{ m}^2$ và quy trình ứng dụng thuật toán kiểm định tiêu chuẩn $U$ trong xử lý số liệu sai dị lập địa; các định mức kỹ thuật chăm sóc rừng non (bón 50 g NPK/gốc cách gốc 30 – 40 cm, khống chế mật độ 2.000 cây/ha ở tuổi 5).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng dung lượng mẫu điều tra là bao nhiêu và phân bố như thế nào?
Nghiên cứu thiết lập 9 ô tiêu chuẩn định vị tạm thời, mỗi ô có kích thước $20 \text{ m} \times 25 \text{ m}$ (diện tích $500 \text{ m}^2$). Các ô được chia đều cho 3 cấp tuổi (tuổi 4, 5, 6), mỗi cấp tuổi khảo sát 3 ô đại diện cho 3 vị trí địa hình: chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi. Tổng số cây rừng được đo đếm thực tế là 1.341 cây, với dung lượng mẫu mỗi ô dao động từ 147 đến 153 cây.

2. Kết quả kiểm định tiêu chuẩn $U$ đối với các chỉ tiêu sinh trưởng mang lại ý nghĩa gì?
Kết quả kiểm định tiêu chuẩn $U$ cho thấy tất cả các cặp so sánh giữa chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi ở các chỉ tiêu đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và đường kính tán ($D_t$) đều có trị số $|U| > 1{,}96$ ở mức ý nghĩa $\alpha = 0{,}01$. Điều này khẳng định sự khác biệt về sinh trưởng giữa các vị trí địa hình có ý nghĩa thống kê; trong đó vị trí đỉnh đồi tạo điều kiện cho cây phát triển chiều cao tốt hơn do quế từ năm thứ 4 trở đi có nhu cầu ưa sáng hoàn toàn.

3. Hiện trạng phân bố rừng quế tại huyện Bảo Thắng và tỉnh Lào Cai được ghi nhận ra sao?
Tính đến năm 2015, toàn tỉnh Lào Cai có 11.198,5 ha rừng quế, trong đó huyện Bảo Thắng có 1.689,1 ha phân bố trên 15 xã/thị trấn. Rừng quế toàn tỉnh phần lớn là rừng non; trong đó diện tích trồng trong giai đoạn 2010 – 2014 (cấp tuổi 1) chiếm ưu thế với 5.140,1 ha trên toàn tỉnh và 727,1 ha tại huyện Bảo Thắng.

4. Đặc điểm đất đai dưới tán rừng quế tại khu vực nghiên cứu có những tính chất gì?
Đất đai tại tiểu khu 228 chủ yếu là đất feralit vàng đỏ, vàng nâu và vàng xám, tầng đất tương đối dày với độ dày trung bình dao động từ 68,3 cm đến 70 cm. Đất có tỷ lệ đá lẫn ít, tơi xốp đến hơi chặt, độ ẩm cao, thành phần cơ giới là đất thịt nhẹ đến thịt trung bình, giàu mùn và có sự hoạt động mạnh của giun đất và kiến.

5. Tác giả đề xuất chế độ chăm sóc và mật độ nuôi dưỡng lâm phần như thế nào?
Trong giai đoạn từ năm thứ 1 đến năm thứ 3, chăm sóc mỗi năm 2 lần: phát dọn cỏ dại, xới vạc đất quanh gốc đường kính 1 m, bón phân NPK với liều lượng 50 g/gốc cách gốc 30 – 40 cm. Từ năm thứ 4 trở đi, chăm sóc mỗi năm 1 lần, mở tán cho cây đón sáng hoàn toàn. Đến năm thứ 5, tiến hành tỉa thưa nuôi dưỡng rừng để điều chỉnh mật độ lâm phần duy trì ở mức 2.000 cây/ha.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Văn Đoàn đã đánh giá chi tiết đặc điểm sinh trưởng và cấu trúc chất lượng của rừng quế trồng thuần loài ở giai đoạn 4, 5 và 6 tuổi tại thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai thông qua hệ thống 9 ô tiêu chuẩn với 1.341 cây đo đếm. Kết quả xử lý toán học chứng minh sự phân hóa sinh trưởng rõ rệt giữa các dạng vi địa hình (chân, sườn, đỉnh đồi), đồng thời khẳng định tầng đất feralit dày 68 – 70 cm tại khu vực nghiên cứu rất thích hợp cho cây quế phát triển với tỷ lệ cây tốt và trung bình chiếm ưu thế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh bám sát thực tiễn như tỉa thưa đưa mật độ về 2.000 cây/ha ở tuổi 5, bón thúc phân NPK 50 g/gốc và xử lý thực bì cạnh tranh theo từng giai đoạn phát triển của lâm phần.