Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn biến ngày càng phức tạp trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam, biểu hiện qua sự gia tăng nhiệt độ, lượng mưa biến đổi bất thường, tình trạng hạn hán kéo dài cùng các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ, rét đậm rét hại và sạt lở đất. Các tác động này đe dọa trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sinh kế của hàng triệu hộ nông dân, đặc biệt là các cộng đồng dân cư sinh sống tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Tỉnh Thái Nguyên là trung tâm sản xuất chè trọng điểm của cả nước, trong đó xã Tân Cương (thành phố Thái Nguyên) nổi tiếng với thương hiệu chè đặc sản mang lại nguồn thu nhập chính và ổn định cho người dân địa phương. Cây chè (Camellia sinensis) là cây công nghiệp dài ngày có chu kỳ khai thác kinh tế từ 50 đến 60 năm, đòi hỏi các điều kiện nghiêm ngặt về nhiệt độ, độ ẩm và lượng nước tưới. Tuy nhiên, sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan trong những năm gần đây đã làm suy giảm năng suất, ảnh hưởng đến chất lượng búp chè, phát sinh sâu bệnh hại và gây tổn hại trực tiếp đến nguồn thu nhập của các nông hộ.
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế người dân trồng chè xã Tân Cương, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên" do sinh viên Triệu Thị Thu thực hiện (chuyên ngành Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2016) nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp thích ứng.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế người dân trồng chè tại xã Tân Cương, qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế sự ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu đến đời sống và sản xuất của nông hộ.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá hiện trạng sản xuất chè của người dân xã Tân Cương.
- Đánh giá sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các nguồn lực sinh kế của người dân trồng chè xã Tân Cương.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế người dân trồng chè xã Tân Cương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề kinh tế - xã hội liên quan đến sinh kế của người dân trồng chè tại xã Tân Cương chịu sự tác động của biến đổi khí hậu.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại 3 xóm có diện tích và sản lượng chè lớn thuộc xã Tân Cương, gồm: xóm Hồng Thái 1, xóm Hồng Thái 2 và xóm Soi Vàng.
- Phạm vi thời gian: Thời gian thực hiện nghiên cứu từ ngày 30/11/2015 đến ngày 16/4/2016; các chuỗi số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2005 – 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Lý luận về biến đổi khí hậu: Sử dụng định nghĩa và phân tích về các biểu hiện của biến đổi khí hậu (nhiệt độ tăng, thay đổi lượng mưa, thời tiết cực đoan) và tác động của nó tới tài nguyên nước, môi trường, nông nghiệp, lâm nghiệp và sức khỏe cộng đồng dựa trên các tài liệu chuyên ngành khí hậu và môi trường.
- Khung phân tích sinh kế bền vững (SLA - Sustainable Livelihoods Framework): Dựa trên khung phân tích của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 2003) và định nghĩa của Chambers & Conway (1992). Khung phân tích xem xét 5 nguồn vốn sinh kế cơ bản của nông hộ:
- Vốn con người: Lao động, trình độ kỹ thuật, kỹ năng, sức khỏe.
- Vốn tự nhiên: Đất đai canh tác, nguồn nước tưới, điều kiện khí hậu, thảm thực vật.
- Vốn vật chất: Hạ tầng giao thông, thủy lợi, lưới điện, máy móc sao chế biến chè, phương tiện sinh hoạt.
- Vốn tài chính: Thu nhập tiền mặt từ bán chè, tiền tiết kiệm, các nguồn vay tín dụng ngân hàng, trợ cấp.
- Vốn xã hội: Mối quan hệ họ hàng, tổ hợp tác, làng nghề truyền thống, các lớp tập huấn khuyến nông, thể chế và quy ước cộng đồng.
- Cơ sở sinh vật học và kỹ thuật canh tác chè: Khái quát các yêu cầu sinh thái của cây chè gồm: đất Feralit chua có pH từ 4,5 – 5,5; tầng đất dày 0,6 – 1,0 m; nhiệt độ thích ứng tối ưu từ 22 – 28°C (ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ < 10°C hoặc > 40°C); lượng mưa trung bình 1.500 – 2.000 mm/năm phân bổ đều; độ ẩm không khí đạt 80 – 85%.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu từ các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của UBND xã Tân Cương (giai đoạn 2010 – 2015), số liệu thống kê nông nghiệp thành phố Thái Nguyên, niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên và các công trình khoa học đã công bố về cây chè.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
- Phương pháp chọn mẫu điều tra: Chọn ngẫu nhiên 60 hộ gia đình trồng chè tại 3 xóm đại diện (Hồng Thái 1, Hồng Thái 2, Soi Vàng), mỗi xóm điều tra 20 hộ.
- Công cụ điều tra: Phỏng vấn trực tiếp chủ hộ bằng bảng hỏi bán cấu trúc kết hợp quan sát thực địa về quy trình canh tác, chi phí, năng suất và các tổn thất do thời tiết.
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
- Xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm Microsoft Excel.
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, số bình quân) để phân tích đặc điểm mẫu điều tra và mức độ nhận thức về thời tiết cực đoan.
- Sử dụng phương pháp phân tích so sánh để đánh giá biến động diện tích, năng suất, chi phí sản xuất chè qua các mốc thời gian (2005, 2010, 2015).
- Hệ thống chỉ tiêu kinh tế nông hộ áp dụng:
- Giá trị sản xuất: $GO = \sum (Q_i \times P_i)$ (trong đó $Q_i$ là khối lượng sản phẩm thứ $i$, $P_i$ là giá bán sản phẩm thứ $i$).
- Chi phí trung gian: $IC = \sum C_i$ (gồm chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhiên liệu, điện nước).
- Giá trị gia tăng: $VA = GO - IC$.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh BĐKH tác động sâu rộng tới sản xuất nông nghiệp Việt Nam; xác định mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi không gian, thời gian và cấu trúc gồm 5 phần của khóa luận.
Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về BĐKH, khung sinh kế bền vững DFID và kỹ thuật phát triển cây chè. Đồng thời, chương này tổng thuật bức tranh thực tiễn sản xuất chè trên thế giới, Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên:
- Thế giới: Có 58 quốc gia sản xuất chè, tập trung nhiều nhất tại châu Á (chiếm 80% diện tích toàn cầu). Các quốc gia dẫn đầu xuất khẩu gồm Sri Lanka (1,2 tỷ USD năm 2010), Trung Quốc và Ấn Độ.
- Việt Nam: Diện tích chè cả nước dao động 126.000 – 133.000 ha, thu hút 2 triệu lao động. Miền Bắc chiếm 68% diện tích và 66,7% sản lượng cả nước, tập trung tại các tỉnh trung du miền núi như Yên Bái, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên.
- Tỉnh Thái Nguyên: Diện tích chè năm 2010 đạt trên 17.000 ha, năng suất đạt 107 tạ/ha, sản lượng đạt trên 171.000 tấn chè búp tươi. Cơ cấu tiêu thụ gồm 70% thị trường nội địa và 30% xuất khẩu sang các thị trường chính như Đài Loan (43%), Pakistan (30%), Trung Quốc (27%). Cơ cấu giống có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ giống chè Trung du truyền thống sang các giống mới chọn tạo và nhập nội (LDP1, Kim Tuyên, PH8).
| Chỉ tiêu phát triển chè Thái Nguyên |
Năm 2008 |
Năm 2009 |
Năm 2010 |
| Diện tích chè toàn tỉnh (ha) |
16.994 |
16.309 |
17.661 |
| Năng suất búp tươi (tạ/ha) |
87,8 |
91,7 |
107,0 |
| Sản lượng búp tươi (tấn) |
149.207 |
158.702 |
171.500 |
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Quy định rõ đối tượng nghiên cứu, địa bàn khảo sát tại 3 xóm trọng điểm của xã Tân Cương, phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên 60 hộ gia đình, phương pháp thu thập số liệu sơ cấp/thứ cấp và hệ thống công thức tính toán các chỉ tiêu kinh tế ($GO, IC, VA$).
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung phân tích thực trạng địa bàn nghiên cứu và kết quả khảo sát thực tế:
1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Tân Cương:
- Tổng diện tích tự nhiên của xã là 1.473,51 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 1.235,42 ha, đất phi nông nghiệp 221,57 ha và đất chưa sử dụng 16,51 ha. Diện tích chuyên trồng chè là 450 ha (chiếm 27,2% diện tích tự nhiên).
- Dân số toàn xã có 1.475 hộ với 5.666 nhân khẩu phân bố trên 16 xóm. Trong đó, 3 xóm khảo sát có quy mô dân số lớn nhất xã: Hồng Thái 1 (131 hộ, 514 khẩu), Hồng Thái 2 (119 hộ, 452 khẩu) và Soi Vàng (105 hộ, 410 khẩu). Lực lượng lao động trong độ tuổi là 2.150 người, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 30%.
- Toàn xã có 1.150 hộ chuyên sản xuất chè; sản lượng chè búp khô đạt trên 1.100 tấn/năm; giá trị thu nhập bình quân đạt 324 triệu đồng/ha/năm. Năm 2015, hai xóm Hồng Thái 1 và Hồng Thái 2 đã được UBND tỉnh công nhận là làng nghề truyền thống sản xuất chế biến chè. Tỷ lệ hộ nghèo toàn xã giảm mạnh từ 10,43% (năm 2010) xuống còn 1,29% (năm 2014).
| Loại đất đai tại xã Tân Cương |
Diện tích (ha) |
Cơ cấu (%) |
| Đất nông nghiệp |
1.235,42 |
83,84 |
| Đất phi nông nghiệp |
221,57 |
15,04 |
| Đất chưa sử dụng |
16,51 |
1,12 |
| Tổng diện tích đất tự nhiên |
1.473,51 |
100,00 |
2. Cơ cấu ngành nghề của mẫu hộ khảo sát (n = 60 hộ):
Nghề nông - lâm nghiệp (trồng chè, lúa) giữ vai trò chủ đạo tuyệt đối trong thu nhập của nông hộ tại cả 3 xóm điều tra.
| Xóm điều tra |
Nông lâm (hộ) |
Thủy sản (hộ) |
Dịch vụ (hộ) |
Khác (hộ) |
Tổng số hộ |
Tỷ lệ nông lâm (%) |
| Hồng Thái 1 |
15 |
0 |
4 |
1 |
20 |
75,0 |
| Hồng Thái 2 |
16 |
0 |
2 |
2 |
20 |
80,0 |
| Soi Vàng |
17 |
0 |
1 |
2 |
20 |
85,0 |
3. Đánh giá tác động của hiện tượng thời tiết cực đoan tới sinh kế:
- Kết quả khảo sát 60 hộ cho thấy 100% người dân ghi nhận sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan trong những năm gần đây (hạn hán, mưa lớn thất thường, xói mòn - ngập úng, nhiệt độ tăng cao và rét đậm rét hại).
- Nắng nóng và khô hạn (tháng 7 – 8): Khiến nương chè bị thiếu nước, búp chè rũ héo, rụng lá, cây ngừng sinh trưởng hoặc chết khô nếu không có hệ thống tưới; tạo điều kiện cho các loại sâu bệnh bùng phát nhanh như bọ xít muỗi, rầy xanh, nhện đỏ, sâu cuốn lá.
- Mưa dầm, thiếu ánh sáng (tháng 2 – 3): Làm giảm khả năng quang hợp của cây, búp chè chậm vươn, tỷ lệ ẩm ướt cao dẫn đến bùng phát bệnh đốm lá, thối búp, làm giảm năng suất lứa chè xuân.
- Rét đậm, rét hại và sương muối (tháng 12 – tháng 1): Nhiệt độ xuống thấp dưới 10°C khiến chè ngừng đâm chồi, lá chè bị sém, héo úa; đợt băng tuyết bất thường đã làm nhiều diện tích nương chè bị hỏng nặng, người dân buộc phải đốn trẻ lại hoặc trồng thay thế, làm phát sinh chi phí đầu tư phục hồi và gián đoạn nguồn thu nhập.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt các phát hiện nghiên cứu về tác động tiêu cực của thời tiết cực đoan đối với các nguồn vốn sinh kế (vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất) của người dân trồng chè; đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền các cấp về đầu tư hoàn thiện hệ thống kênh mương thủy lợi, nâng cấp lưới điện phục vụ tưới tự động, mở rộng các lớp tập huấn kỹ thuật chuyển đổi giống chè chống chịu thời tiết và chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Đánh giá thực trạng sản xuất và kinh tế hộ: Khóa luận làm rõ bức tranh sản xuất chè tại xã Tân Cương với 450 ha chè, 1.150 hộ tham gia sản xuất, đạt sản lượng trên 1.100 tấn búp khô/năm và giá trị sản xuất bình quân 324 triệu đồng/ha/năm. Tỷ lệ đất trồng các giống chè mới năng suất cao (LDP1, Kim Tuyên, PH8, TRI 777) đạt trên 30% diện tích.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của thời tiết cực đoan: 100% hộ dân khảo sát xác nhận BĐKH làm gia tăng chi phí sản xuất (chi phí điện, nước tưới, phân bón phục hồi, thuốc bảo vệ thực vật), làm suy giảm chất lượng búp chè tươi và khiến năng suất chè bấp bênh qua các mùa vụ.
- Đánh giá tính dễ tổn thương của các nguồn lực sinh kế: Vốn tự nhiên (nước tưới, đất canh tác) và vốn tài chính của hộ chịu tổn thương nặng nề nhất do phụ thuộc lớn vào việc thu hoạch búp chè đều đặn hàng tháng.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Về giải pháp kỹ thuật canh tác: Khuyến khích người dân đẩy mạnh việc chuyển đổi từ giống chè hạt Trung du già cỗi sang các giống chè mới có khả năng chống chịu hạn và rét tốt; đầu tư lắp đặt hệ thống tưới phun sương tự động tiết kiệm nước; áp dụng kỹ thuật trồng cây che bóng (mật độ 170 – 230 cây/ha để che phủ 20 – 30% diện tích nương chè); cân đối tỷ lệ bón phân N-P-K, hạn chế bón thừa đạm để giữ vững hàm lượng tanin và chất lượng chè.
- Về hạ tầng và vốn vật chất: Đề nghị chính quyền địa phương tiếp tục đầu tư nạo vét hệ thống kênh mương tưới tiêu từ sông Công và hồ Núi Cốc, kiên cố hóa đường giao thông nội đồng và ổn định điện áp lưới điện nông thôn phục vụ chế biến, bơm tưới.
- Về thể chế và chính sách: Tăng cường tổ chức các lớp tập huấn khuyến nông về phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) trong điều kiện thời tiết thất thường; mở rộng các chương trình vay vốn ưu đãi để người nông dân có nguồn lực tái thiết nương chè sau thiên tai.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dung lượng mẫu khảo sát trực tiếp còn ở mức hạn chế (60 hộ dân tập trung tại 3 xóm), chưa bao quát toàn bộ 16 xóm của xã Tân Cương; các phân tích kinh tế hộ chủ yếu dựa trên số liệu hồi tưởng của nông dân qua các năm nên mức độ chi tiết về dòng tiền có thể chịu sai số nhất định.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu điều tra trên toàn bộ vùng chỉ dẫn địa lý chè Tân Cương (gồm các xã lân cận như Phúc Trìu, Phúc Xuân); ứng dụng các mô hình định lượng kinh tế lượng để đo lường cụ thể mức độ thiệt hại tài chính do từng hiện tượng thời tiết cực đoan (nhiệt độ tăng, lượng mưa thay đổi) gây ra đối với giá trị gia tăng ($VA$) của nông hộ.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh các ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên môi trường và Khuyến nông.
- Nội dung tham khảo giá trị:
- Cung cấp khung phương pháp luận áp dụng Khung sinh kế bền vững (DFID) vào một đối tượng cây trồng cụ thể (cây chè đặc sản).
- Cung cấp bộ số liệu thực địa chi tiết về hiện trạng sản xuất nông nghiệp, cơ cấu sử dụng đất, nhân lực và các biến động kinh tế nông hộ tại xã Tân Cương giai đoạn 2010 – 2015.
- Là tài liệu tham khảo thực tiễn hữu ích cho cán bộ quản lý nông nghiệp cấp xã, huyện trong việc xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tại các vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng khung lý thuyết nào để đánh giá đời sống và sản xuất của người trồng chè?
Khóa luận sử dụng Khung phân tích sinh kế bền vững (SLA) của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 2003) kết hợp lý thuyết của Chambers & Conway (1992), đánh giá tổng hợp 5 nguồn vốn sinh kế của nông hộ gồm: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội.
2. Quy mô mẫu khảo sát thực địa của đề tài là bao nhiêu và được thực hiện ở đâu?
Đề tài thực hiện khảo sát chọn mẫu ngẫu nhiên trên 60 hộ gia đình trồng chè tại 3 xóm có diện tích chè lớn nhất xã Tân Cương (mỗi xóm 20 hộ), gồm: xóm Hồng Thái 1, xóm Hồng Thái 2 và xóm Soi Vàng.
3. Giá trị thu nhập bình quân trên một héc-ta đất trồng chè tại xã Tân Cương đạt bao nhiêu theo số liệu văn bản?
Theo báo cáo tổng kết và số liệu công bố trong khóa luận, giá trị thu nhập từ sản phẩm chè tại xã Tân Cương trung bình đạt 324 triệu đồng/ha/năm, với sản lượng chè búp khô toàn xã đạt trên 1.100 tấn/năm.
4. Tác động bất lợi nhất của đợt rét đậm và băng tuyết đối với nương chè được ghi nhận trong nghiên cứu là gì?
Khi nhiệt độ xuống thấp dưới 10°C, cây chè tạm ngừng sinh trưởng hoàn toàn và không đâm búp non. Các đợt sương muối và băng tuyết bất thường làm cháy lá, héo rũ thân cành, khiến nhiều diện tích nương chè bị chết cục bộ, buộc người nông dân phải tốn chi phí đốn đau phục hồi hoặc phá bỏ để trồng mới lại từ đầu.
5. Đề tài đề xuất giải pháp kỹ thuật nào để hạn chế tình trạng khô hạn cho nương chè vào mùa hè?
Tác giả đề xuất xây dựng hệ thống tưới phun mưa tự động, kết hợp kỹ thuật trồng cây che bóng mát với mật độ từ 170 – 230 cây/ha nhằm đảm bảo độ che phủ 20 – 30% diện tích, giúp điều hòa tiểu khí hậu và duy trì độ ẩm cho nương chè trong các đợt khô hạn kéo dài tháng 7 – 8.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Triệu Thị Thu đã hệ thống hóa và phân tích sâu sắc tác động đa chiều của biến đổi khí hậu đến các nguồn lực sinh kế của người trồng chè tại xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên. Thông qua các số liệu khảo sát thực tế tại 60 nông hộ, nghiên cứu đã minh chứng rõ nét những thiệt hại về năng suất, chi phí sản xuất gia tăng và dịch bệnh bùng phát do các hiện tượng thời tiết cực đoan gây ra. Những giải pháp đồng bộ về kỹ thuật canh tác, đầu tư hạ tầng tưới tiêu và chính sách hỗ trợ tín dụng được đề xuất có giá trị ứng dụng thiết thực, góp phần hỗ trợ chính quyền địa phương và nông dân xây dựng chiến lược phát triển vùng chè đặc sản Tân Cương một cách bền vững.