Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Biến đổi khí hậu với sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu và nước biển dâng là một trong những thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững. Tại Việt Nam, vùng Đông Bắc là khu vực chịu ảnh hưởng của ít nhất 9 loại hình thiên tai: ngập úng, lụt, hạn hán, mưa lớn, sạt lở đất, lốc, rét đậm, rét hại và xói lở bờ sông. Điển hình, đợt mưa lũ tháng 7/2015 tại Quảng Ninh đã làm 23 người chết và mất tích, 100 ha lúa bị ngập, 40 căn nhà hư hại và thiệt hại kinh tế hơn 1.000 tỷ đồng. Tỉnh Thái Nguyên có địa hình đồi núi phức tạp, cấu trúc địa chất phong hóa mạnh; các hiện tượng thời tiết cực đoan đã làm suy thoái đất, hạn hán, gây tổn thất cho sản xuất nông nghiệp trên 1/4 diện tích đất và đe dọa sinh kế của hơn 1 triệu dân, đặc biệt tại các xã miền núi.

Tại xã An Khánh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nông nghiệp là hệ thống sản xuất chủ lực phụ thuộc vào nguồn nước, trong đó cây chè là nguồn thu nhập quan trọng của nông hộ. Dù người dân có kinh nghiệm canh tác và kiến thức bản địa, tác động tiêu cực của các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng làm gia tăng tính dễ bị tổn thương về sinh kế. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Cụt Bá Thoát (chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2017) được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ khoa học sau:

  1. Mô tả theo nhận định của người dân về các hiện tượng biến đổi khí hậu ở xã An Khánh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 – 2017.
  2. Phân tích theo nhận định của người dân về tần suất và mức độ tác động của các hiện tượng biến đổi khí hậu đối với hoạt động sản xuất tại xã An Khánh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  3. Đánh giá năng lực thích ứng của người dân trước những tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm cộng đồng dân cư trên địa bàn xã An Khánh cùng các hoạt động sản xuất nông nghiệp và sản xuất chè trước tác động của biến đổi khí hậu. Phạm vi không gian là toàn bộ địa bàn xã An Khánh. Phạm vi thời gian nghiên cứu thu thập số liệu đánh giá trong giai đoạn 2014 – 2017, với đợt điều tra khảo sát thực địa tiến hành từ ngày 20/01/2017 đến ngày 30/05/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên khung lý thuyết của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC AR4, 2007). Theo đó, tính dễ bị tổn thương ($V$) là một hàm phụ thuộc vào ba yếu tố: mức độ phơi lộ ($E$), mức độ nhạy cảm ($S$) và năng lực thích ứng ($AC$), biểu diễn theo công thức:

$$V = f(E, S, AC) = f(PI, AC)$$

Trong đó $PI$ là tác động tiềm ẩn được hợp thành từ mức độ phơi lộ và mức độ nhạy cảm. Để phân tích năng lực thích ứng ở cấp độ nông hộ, tác giả vận dụng khung sinh kế bền vững với 5 nguồn vốn sinh kế: vốn tự nhiên (đất đai, nước, rừng), vốn xã hội (hỗ trợ dòng họ, xóm làng, đoàn thể), vốn con người (sức lao động, trình độ học vấn, kinh nghiệm bản địa), vốn vật chất (công cụ sản xuất, chuồng trại, hệ thống hạ tầng) và vốn tài chính (tiền tích lũy, khả năng tiếp cận vốn vay, chuyển dịch nguồn thu).

Văn bản tổng quan hệ thống các nghiên cứu quốc tế về tính dễ bị tổn thương của Chambers (1983), Blaikie và cộng sự (1994), Watson và cộng sự (1996), Adger (1999), USEPA (2006). Tại Việt Nam, đề tài kế thừa các nghiên cứu của Tom G. và cộng sự (1994–1996), Adger và cộng sự (1999 tại Giao Thủy, Nam Định), các dự án của UNDP tại Cần Thơ, Bình Định (2011), nghiên cứu tính tổn thương tài nguyên bờ biển của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009) và khung phân tích thay đổi sinh kế của Lưu Bích Ngọc.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ qua hai kênh dữ liệu:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ báo cáo thống kê định kỳ, tài liệu quy hoạch của UBND xã An Khánh, UBND huyện Đại Từ, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Trạm Khí tượng Thủy văn tỉnh Thái Nguyên (số liệu khí tượng năm 2016).
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua quan sát thực địa và điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi bán cấu trúc (câu hỏi đóng và mở).

Phương pháp chọn mẫu khảo sát áp dụng theo công thức tính cỡ mẫu với sai số cho phép $e = 10%$ trên tổng số $N = 1.900$ hộ của xã, cho quy mô mẫu lý thuyết $n = 95$ hộ. Tác giả mở rộng quy mô điều tra thực tế lên $n = 120$ hộ phân bổ ngẫu nhiên tại 6 xóm đại diện (xóm Hàng, Sòng, Tân Tiến, Đoàn Kết, Đạt, Đồng Sầm), bao quát đầy đủ các nhóm hộ khá giàu, trung bình, cận nghèo và nghèo. Toàn bộ số liệu được tổng hợp, xử lý bằng Microsoft Excel và Microsoft Word qua các kỹ thuật thống kê mô tả, quy đổi điểm và xếp hạng thứ bậc.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc đánh giá tính dễ bị tổn thương sinh kế nông hộ trong bối cảnh các hiện tượng khí hậu cực đoan gia tăng tại vùng trung du miền núi phía Bắc. Xác định rõ mục tiêu nghiên cứu gồm 3 nội dung chính: nhận diện hiện tượng, đánh giá tác động và phân tích năng lực thích ứng. Nêu ý nghĩa khoa học trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn hỗ trợ công tác quy hoạch phát triển sinh kế địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa các khái niệm biến đổi khí hậu, thích ứng, khung sinh kế bền vững và tính dễ bị tổn thương qua các thời kỳ báo cáo của IPCC (1992, 1996, 2001, 2007). Phân tích chi tiết 5 nguồn vốn sinh kế hộ gia đình và tổng kết các hướng tiếp cận đánh giá tổn thương tại các quốc gia đang phát triển cũng như các vùng ven biển, đồng bằng và khu vực đồi núi tại Việt Nam.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định đối tượng là cộng đồng dân cư và hai hoạt động sản xuất chủ chốt: canh tác nông nghiệp và sản xuất chè tại xã An Khánh từ năm 2014 đến năm 2017. Trình bày chi tiết công thức xác định cỡ mẫu điều tra ngẫu nhiên 120 hộ từ 1.900 hộ tại 6 xóm, kèm quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp, sơ cấp và phương pháp phân tích số liệu bằng công cụ thống kê.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là nội dung trọng tâm của khóa luận, bao gồm các phân tích thực chứng chi tiết về địa bàn và tác động của biến đổi khí hậu:

Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội địa bàn nghiên cứu: Xã An Khánh có diện tích tự nhiên 1.462,62 ha (chiếm 12% diện tích huyện Đại Từ). Năm 2016, nhiệt độ trung bình là 24,7 °C (thấp nhất tháng 1: 11,9 °C, cao nhất tháng 7: 32,8 °C); tổng giờ nắng bình quân 143 giờ/tháng; lượng mưa trung bình 237,2 mm/tháng (tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, đỉnh điểm tháng 7 đạt 991,0 mm, tháng 1 chỉ có 4,4 mm); độ ẩm trung bình 80,2%. Về cơ cấu đất đai: đất nông nghiệp chiếm 54,22% tổng diện tích, trong đó đất trồng màu là 164 ha (11,21%), đất trồng chè là 82,1 ha (5,61%), đất lâm nghiệp 453 ha (30,97%), đất phi nông nghiệp 213,7 ha (14,61%) và đất chưa sử dụng 2,82 ha (0,19%). Về dân sinh, toàn xã có 1.900 hộ với 6.205 nhân khẩu, hơn 3.000 lao động; thu nhập bình quân đầu người đạt 7 triệu đồng/năm.

Hiện trạng sản xuất cây chè: Tổng diện tích chè toàn xã là 82,1 ha (gồm 55 ha chè kinh doanh, 24,1 ha chè kiến thiết cơ bản, 4,7 ha trồng mới và thay thế). Cây chè phân bố phân tán trên 17 xóm, tập trung lớn nhất tại xóm Tân Tiến (11,3 ha), xóm Đạt (10,7 ha), xóm Đồng Sầm (9,5 ha), xóm An Bình (8,5 ha), xóm An Thanh (7,3 ha); thấp nhất là xóm Hàng (0,2 ha). Diện tích chè manh mún và thiếu hệ thống tưới tiêu đồng bộ làm hạn chế năng suất.

Nhận thức của người dân về tần suất xuất hiện các hiện tượng biến đổi khí hậu giai đoạn 2014 – 2017:

Hiện tượng Tỷ lệ nhận định ít hơn (%) Tỷ lệ nhận định vẫn như cũ (%) Tỷ lệ nhận định nhiều hơn (%) Tỷ lệ không biết (%) Tần suất xuất hiện quy đổi Điểm số
Mưa lớn 11,9 22,2 65,2 0,7 Cao 3
Hạn hán 17,8 30,4 51,9 0,0 Cao 3
Nắng nóng 35,6 20,7 42,2 1,5 Trung bình 2
Rét đậm 7,4 10,4 31,1 41,1 Trung bình 2
Rét hại 5,2 3,7 5,9 45,2 Thấp 1
Ngập úng 63,0 14,1 22,2 0,7 Thấp 1

Tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động canh tác nông nghiệp: Ngập úng và mưa lớn gây tổn hại trực tiếp nhất đối với trồng trọt. Ngập úng khiến 62,6% số hộ bị mất mùa, 52,2% hộ bị giảm năng suất và 22,6% hộ bị tăng chi phí sản xuất. Mưa lớn làm giảm năng suất ở 64,3% hộ và gây mất mùa ở 39,1% hộ. Hạn hán gây thiếu nước tưới cho 52,2% hộ, làm cây chậm sinh trưởng ở 40,0% hộ và giảm năng suất ở 38,3% hộ. Nắng nóng chủ yếu làm thiếu nước tưới (25,4%) và tăng chi phí sản xuất (12,9%). Rét hại gây giảm năng suất ở 20,9% hộ, trong khi rét đậm tác động không đáng kể.

Tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất chè:

Hiện tượng Giảm diện tích (%) Giảm năng suất (%) Giảm chất lượng (%) Tăng sâu bệnh (%) Tăng chi phí sản xuất (%)
Mưa lớn 6,0 11,9 6,0 14,9 28,4
Nắng nóng 12,4 17,9 9,0 13,4 15,9
Hạn hán 8,4 16,4 25,4 10,4 14,9
Ngập úng 9,0 9,4 6,0 4,5 10,9
Rét hại 0,0 2,3 1,5 0,0 3,2
Rét đậm 1,5 1,5 2,3 0,0 0,0

Mưa lớn tác động tiêu cực nhất đến sản xuất chè thông qua việc làm gia tăng chi phí sản xuất (28,4% số hộ đồng tình) và bùng phát sâu bệnh (14,9%). Hạn hán là nguyên nhân hàng đầu làm suy giảm phẩm cấp, chất lượng búp chè (chiếm tỷ lệ cao nhất với 25,4% số hộ lựa chọn). Nắng nóng kéo dài làm giảm năng suất ở 17,9% hộ và tăng chi phí tưới tiêu ở 15,9% hộ.

Đánh giá năng lực thích ứng và các nguồn vốn sinh kế: Nông hộ chủ yếu thích ứng dựa trên kinh nghiệm truyền thống: đốn tỉa chè vào mùa khô (tháng 1, 2, 3), chủ động tưới bổ sung, che phủ gốc giữ ẩm và đắp bờ chống xói mòn khi mưa lớn. Tuy nhiên, năng lực thích ứng bị giới hạn do tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương thấp (mới thi công 530 m kênh xóm Đồng Sầm), thiếu vốn đầu tư hệ thống tưới tự động và trình độ lao động kỹ thuật còn thấp (chủ yếu tốt nghiệp cấp II).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp những kết luận rút ra từ khảo sát thực tiễn về mức độ phơi lộ và tính dễ bị tổn thương của nông hộ. Đề xuất các nhóm khuyến nghị phân định theo 3 cấp: cấp Nhà nước (hỗ trợ chính sách tín dụng ưu đãi, chuyển giao kỹ thuật), chính quyền địa phương (hoàn thiện quy hoạch vùng chè tập trung, cứng hóa thủy lợi nội đồng, mở rộng tập huấn khuyến nông) và người dân địa phương (chủ động liên kết nhóm hộ, áp dụng lịch thời vụ và biện pháp kỹ thuật che chắn thiên tai).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận định lượng hóa mức độ tổn thương của sinh kế nông hộ xã An Khánh dựa trên số liệu khảo sát thực địa:

  • Xác định mưa lớn (65,2% ý kiến) và hạn hán (51,9% ý kiến) là hai hiện tượng thời tiết cực đoan có tần suất xuất hiện cao nhất giai đoạn 2014 – 2017.
  • Đối với nông nghiệp nói chung, ngập úng gây thiệt hại mất mùa lớn nhất (62,6% số hộ ghi nhận), tiếp đến là mưa lớn làm giảm năng suất lúa (64,3% số hộ).
  • Đối với cây chè, mưa lớn làm gia tăng chi phí chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh nhiều nhất (28,4% số hộ), trong khi hạn hán là tác nhân chính làm suy giảm chất lượng búp chè thương phẩm (25,4% số hộ).
  • Làm rõ thực trạng phân bổ diện tích canh tác chè tại 17 xóm (tổng diện tích 82,1 ha, diện tích chè kinh doanh đạt 55 ha), chỉ ra điểm nghẽn về hạ tầng thủy lợi phục vụ tưới tiêu chưa đồng bộ.

Về mặt đóng góp, đề tài cung cấp bộ dữ liệu thực chứng vi mô về tính dễ bị tổn thương sinh kế nông nghiệp tại vùng trung du miền núi phía Bắc – một địa bàn vốn ít được khảo sát định lượng so với các khu vực ven biển hoặc đồng bằng ngập lụt. Tác giả xây dựng hệ thống giải pháp gắn với 5 nguồn vốn sinh kế, đề xuất các can thiệp kỹ thuật cụ thể như đốn tỉa chè tránh rét, kiên cố hóa 530 m mương nội đồng xóm Đồng Sầm và đa dạng hóa ngành nghề phi nông nghiệp nhằm giảm thiểu rủi ro kinh tế hộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do văn bản ghi nhận và điều kiện khảo sát thực tế:

  • Nghiên cứu tập trung vào 5 nguồn vốn sinh kế nội tại của hộ gia đình mà chưa lượng hóa sâu tác động của các thể chế, chính sách bên ngoài đến năng lực thích ứng.
  • Cỡ mẫu khảo sát dừng lại ở 120 hộ tại 6/17 xóm, thời gian khảo sát thực địa ngắn (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2017).
  • Nhận thức của người dân về một số hiện tượng khí hậu cực đoan chưa đồng đều; tỷ lệ chọn "không biết" đối với hiện tượng rét đậm (41,1%) và rét hại (45,2%) còn cao, gây khó khăn cho việc định lượng hóa chính xác mức độ ảnh hưởng của hai hiện tượng này.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi điều tra ra toàn bộ 17 xóm của xã và các xã lân cận trong vùng chè Đại Từ; xây dựng mô hình kinh tế lượng để tính toán cụ thể thiệt hại kinh tế tính bằng tiền mặt đối với từng tấn búp chè thu hoạch dưới các kịch bản khí hậu khác nhau.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý tài nguyên môi trường và Địa lý kinh tế khi xây dựng đề cương nghiên cứu về sinh kế nông hộ. Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi bán cấu trúc kết hợp quy đổi điểm tần suất và mức độ tác động là một gợi ý thực hành khả thi cho các nghiên cứu thực địa cấp xã. Ngoài ra, các số liệu kiểm kê hiện trạng sử dụng đất năm 2016, cơ cấu cây chè và các chỉ tiêu chăn nuôi, trồng trọt là nguồn dữ liệu lịch sử hữu ích cho cán bộ khuyến nông và chính quyền địa phương huyện Đại Từ trong việc xây dựng kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu cấp cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Hiện trạng diện tích và cơ cấu cây chè tại xã An Khánh được ghi nhận ra sao trong văn bản?
Năm 2017, toàn xã có tổng diện tích chè là 82,1 ha, gồm 55 ha chè kinh doanh, 24,1 ha chè kiến thiết cơ bản, 4,7 ha chè trồng mới và thay thế. Diện tích phân bố ở 17 xóm nhưng quy mô nhỏ lẻ, manh mún; xóm có diện tích lớn nhất là Tân Tiến (11,3 ha) và xóm Đạt (10,7 ha), xóm có diện tích thấp nhất là xóm Hàng (0,2 ha).

Nghiên cứu sử dụng kích thước mẫu khảo sát bao nhiêu và được chọn theo phương pháp nào?
Quy mô mẫu lý thuyết tính toán theo công thức chọn mẫu ngẫu nhiên từ tổng số 1.900 hộ toàn xã với sai số $e = 10%$ là 95 hộ. Tác giả mở rộng mẫu lên 120 hộ, tiến hành khảo sát ngẫu nhiên tại 6 xóm (Hàng, Sòng, Tân Tiến, Đoàn Kết, Đạt, Đồng Sầm) đảm bảo tính đại diện cho các nhóm kinh tế từ khá giàu đến nghèo.

Hiện tượng thời tiết cực đoan nào tác động tiêu cực nhất đến chi phí và chất lượng chè tại địa bàn?
Mưa lớn là hiện tượng làm tăng chi phí sản xuất chè nhiều nhất với 28,4% số hộ đồng tình, đồng thời làm tăng 14,9% sâu bệnh hại. Trong khi đó, hạn hán là nguyên nhân hàng đầu làm suy giảm chất lượng chè búp với 25,4% số hộ khẳng định.

Tại sao người dân địa phương gặp khó khăn khi nhận diện hiện tượng rét đậm và rét hại?
Kết quả điều tra cho thấy có tới 41,1% số hộ chọn "không biết" về rét đậm và 45,2% chọn "không biết" về rét hại. Nguyên nhân do người dân quen quan niệm mùa đông lạnh chung chung, khó phân biệt ngưỡng nhiệt độ kỹ thuật giữa rét đậm (13–15 °C) và rét hại (< 13 °C), cùng với đặc điểm địa hình xã An Khánh là vùng đồi núi thấp nên hiện tượng rét hại ít xuất hiện hơn vùng núi cao.

Năng lực thích ứng của nông hộ xã An Khánh dựa trên những giải pháp kỹ thuật cụ thể nào?
Người dân chủ yếu sử dụng kinh nghiệm bản địa như đốn tỉa chè vào mùa khô (tháng 1, 2, 3) để dưỡng cây, tưới nước bổ sung khi khô hạn, che phủ bề mặt đất gốc chè để chống hạn, tôn cao bờ thửa ngăn ngập úng và chủ động phun thuốc trừ sâu sau các đợt mưa lớn kéo dài.

Kết luận

Khóa luận của Cụt Bá Thoát đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết của IPCC (2007) và khung sinh kế bền vững để đánh giá thực trạng tổn thương của nông hộ trồng chè tại xã An Khánh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Thông qua điều tra thực địa 120 hộ dân, nghiên cứu đã lượng hóa được tần suất gia tăng của mưa lớn, hạn hán và nắng nóng, đồng thời chỉ rõ tác động tiêu cực của các hiện tượng này đến năng suất, chất lượng và chi phí sản xuất chè. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn giúp chính quyền địa phương và nông hộ định hướng các giải pháp thích ứng kỹ thuật, củng cố hạ tầng thủy lợi nhằm ổn định sinh kế nông nghiệp bền vững.