MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Biến đổi khí hậu (BĐKH) với các biểu hiện chính là gia tăng nhiệt độ toàn cầu và mức nước biển dâng, được xem là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21. Với những tác động tiềm tàng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường, BĐKH đang là một trong những vấn đề lớn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới.
Cuộc chiến chống BĐKH đòi hỏi phải hành động ngay lập tức không chỉ trên phương diện thích ứng mà còn làm giảm thiểu tác động của BĐKH. BĐKH đã và đang gây ra những biến động mạnh mẽ thông qua các hiện tượng cực đoan như nhiệt độ tăng, bão mạnh, mưa lớn, lũ lụt và hạn hán; trong đó đáng chú ý là những tác động của BĐKH đang một đáng kể và gia tăng gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế quốc dân, thậm chí còn tác động mạnh hơn đến sinh kế những nhóm dân cư nghèo nhất sinh sống ở khu vực nông thôn. Việt Nam là một trong số những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất với những biểu hiện ngày càng gia tăng của những hiện tượng này. Bên cạnh những chính sách do Chính phủ Việt Nam ban hành nhằm thích ứng với BĐKH và giảm phát thải khí nhà kính, cộng đồng quốc tế đã và đang tích cực hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong các hoạt động ứng phó với BĐKH, hướng tới phát triển bền vững ở các địa phương đặc biệt là những khu vực kém phát triển và nghèo khó.
Với điều kiện địa lý phức tạp, vùng Đông Bắc là một trong những nơi chịu ảnh hượng nhiều nhất từ thiên tai. Thực tiễn cho thấy đây là vùng chịu ảnh hưởng của ít nhất 9 loại hình do thiên tai, hiểm họa gây ra bao gồm: ngập úng, lụt, hạn hán, mưa lớn, sạt lở đất, lốc, rét đậm, rét hại xói lở bờ sông. Trong tháng 7 năm 2015 chỉ sau 3 ngày mưa lũ ở Quảng Ninh đã làm 23 c 2 người chết và mất tích, 100ha lúa ngập, 40 căn nhà hư hại và thiệt hại kinh tế hơn 1000 tỷ đồng. Tỉnh Thái Nguyên có địa hình phức tạp, có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc - Nam và thấp dần xuống phía nam, cấu trúc vùng núi phía Bắc chủ yếu là đá phong hóa mạnh, tạo thành nhiều hang động và thung lũng nhỏ, là tỉnh phải gánh chịu không ít những thiệt hại do BĐKH.
Trong những năm gần đầy đã có những biểu hiện ngày càng rõ nét tác động của BĐKH đã làm suy thoái đất, hạn hán, gây tổn thất cho sản xuất nông nghiệp trên toàn tỉnh; ảnh hưởng đến 1/4 diện tích đất, đe dọa an ninh lương thực, gây đói nghèo cho hơn 1 triệu người dân tại Thái Nguyên, đặc biệt là các xã nghèo miền núi. Rõ ràng, BĐKH có thể tác động xấu đến một số bộ phận của các cộng đồng trong tương lai, và biện pháp thích ứng dài hạn tốt nhất cho những cộng đồng chịu tổn thương là tăng cường khả năng sẵn sàng đối phó với thiên tai và thúc đẩy việc phát triển sinh kế bền vững cho họ. Trong bối cảnh mà nông nghiệp là hệ thống sản xuất chính chủ yếu là dựa vào nguồn nước (cả số lượng và chất lượng), những kinh nghiệm tích lũy được trong việc đối phó với thiên tai và những kiến thức bản địa có vai trò quyết định trong việc duy trì cuộc sống của họ đến nay. Tuy nhiên, tác động của BĐKH rất có thể làm trầm trọng hơn đến tính dễ bị tổn thương của họ.
Do đó, điều quan trong là cần phải đánh giá được tính dễ bị tổn thương của sinh kế nông hộ. Với những lý do như trên, đề tài này được cho bởi tên “Đánh giá tính dễ bị tổn thương về sinh kế của nông hộ trồng chè do biến đổi khí hậu trên địa bàn xã An khánh - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên” nhằm đánh giá tác động của các hiện tượng BĐKH đối với các hoạt động sản xuất và tính dễ bị tổn thương của sinh kế người dân trong bối cảnh BĐKH và diễn biến phức tạp của thiên tai; từ đó tạo cở sở cho việc đề xuất được những giải pháp và chiến lược hợp lý để cải thiện sinh kế cho các hộ gia đình trước những diễn biến ngày càng phức tạp của BĐKH. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Mô tả theo nhận định của người dân về các hiện tượng BĐKH ở xã An Khánh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 – 2017; - Phân tích theo nhận định của người dân về tần suất và mức độ tác động của các hiện tượng BĐKH đối với hoạt động sản xuất tại xã An Khánh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; - Đánh giá năng lực thích ứng của người dân trước những tác động của hiện tượng BĐKH. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Nghiên cứu đề tài này giúp tôi có cơ hội vận dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn đồng thời học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong thực tế. - Quá trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân mỗi sinh viên. - Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho các sinh viên trong trường. Ý nghĩa thực tiễn Trên cơ sở phân tích một cách khoa học, khóa luận hy vọng mô tả được đầy đủ những tác động của các hiện tượng BĐKH đến sự thây đổi các hoạt động sản xuất và cơ cấu nghề nghiệp, thu nhập của người dân tại khu vực nghiên cứu, và nhận biết được nhưng kinh nghiệm và kiến thức bản địa mà người dân tại khu vực nghiên cứu đã áp dụng trong việc ứng phó trước những tác động đó.
c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Những khái niệm về tính dễ bị tổn thương với Biến đổi khí hậu Có nhiều khái niện về tính dễ bị tổn thương (TDBTT) và việc sử dụng thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thương. TDBTT thường đi kèm với các nguy cơ tự nhiên như lũ lụt, hạn hán và nguy cơ xã hội như nghèo đói, vv.Gần đây, khái niêm này được sử dụng rộng rãi trong bối cảnh BĐKH để biểu thị mức độ thiệt hại mà một khu vực dự kiến sẽ bị ảnh hưởng do các tác động khác nhau của BĐKH.
Có nhiều nghiên cứu về TDBTT trên thế giới và khái niệm về TDBTT cũng khác nhau tùy theo quan điểm của nhà nghiên cứu. Cụ thể, một số định nghĩa về TDBTT điển hình như sau: Chamber(1983) định nghĩa TDBTT có hai mặt. Một mặt là rủi ro bên ngoài, các cú sốc mà một cá nhân hoặc hộ gia đình phải chịu từ các tác động của BĐKH và một mặt là nội bộ bên trong đó là sự không có khả năng bảo vệ, có nghĩa là thiếu phương tiện để đối phó mà không bị thiệt hại.[12] O’brien và Mileti (1992) đã thử nghiệm TDBTT đối với BĐKH và khẳng định rằng bên cạnh sự ổn định và giàu có về kinh tế, khả nưng chống chịu của dân cư với các cú sốc về môi trường, cấu trúc về tình trạng sức khỏe của người dân có thể đóng một vai trò quan trọng quyết định đến TDBTT. Tuổi tác là một vấn đề quan trọng vì người già và trẻ em vốn là những đối tường dễ bị tổn thương do rủi ro về môi trường và nguy cơ phơi lộ.
Dân số trong độ tuổi lao động và có sức khỏe tốt có nhiều khả năng đối phó và do đó ít bị tổn thương hơn khi đối mặt với nguy cơ phơi lộ.[13] Blaikie và cộng sự (1994) định nghĩa TDBTT là các đặc điểm của một người hoặc một nhóm người về khả năng của họ để dự đoán trước, đối phó với, chống chịu và phục hồi từ các tác động của các nguy cơ tự nhiên và khẳng định rằng TDBTT có thể được đánh giá thông qua khả năng chống chịu và mức độ nhạy cảm. c 5 Watson và cộng sự (1996) định nghĩa TDBTT như mức độ mà BĐKH có thể gây thiệt hại hoặc gây tổn hại cho một hệ thống, không chỉ phụ thuộc mức độ nhạy cảm của hệ thống mà còn về năng lực thích ứng với điều kiện khí hậu mới. Atkins và cộng sự (1998) đã nghiên cứu các phương pháp đo lường TDBTT và xây dựng một kết hợp chỉ số TDBTT thích hợp cho các nước đang phát triển. Các chỉ số dễ bị tổn thương tổng hợp đã được trình bày cho một mẫu của 110 nước phát triển có số liệu thích hợp có sẵn.
Các chỉ số cho thấy rằng các quốc gia nhỏ đặc biệt dễ bị tổn thương khi so sánh với các quốc gia lớn. Giữa các quốc gi nhỏ, Cape Verde và Trinidad và Tabago, được ước tính có TDBTT tương đôi cao; và nước Tonga, Antigua và Barbedas có TDBTT cao đối với các yếu tố kinh tế và môi trường bên ngoài. Handmer và cộng sự (1999) đã nghiên cứu các cơ chế đối phó với các cú sốc về môi trường hoặc nguy cơ gây ra tổn thương về mặt sinh lý. Các yếu tố như ổn định về thể chế và chất lượng cơ sở hạ tầng công cộng là rất quan trọng trong việc xác định TDBTT đối vơi BĐKH.
Một xã hội với cơ sở hạ tầng công cộng thích hợp sẽ có thể đối phó với một mối nguy một cách hiệu quả và do đó làm giảm TDBTT. Một xã hội như vậy có thể được xem như một xã hội có TDBTT thấp. Nếu không có năng lực thể chế liên quan đến các kiến thức về các hiện tượng và năng lực đối phó, thì TDBTT cao có khả năng chuyển rủy ro về sinh lý thành một tác động đến dân số. Theo Adger (1999 ), TDBTT là mức độ mà một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội dễ bị thiệt hại do BĐKH.
Nó được coi là một hàm của hai thành phần: anh hưởng có thể có của một hiện tượng đến con người, được gọi là năng lực hoặc TDBTT về mặt xã hội và rủi ro về một hiện tượng có thể xảy ra, thường được gọi là sự phơi lộ (exposure). Kasperson và cộng sự (2000) định nghĩa TDBTT như mức độ mà một hệ thống dễ bị thiệt hại do bị phơi lộ với một nhiễu loạn hoặc căng thẳng và thiếu năng lực hoặc các biện pháp để đối phó, phục hồi hoặc thích ứng một cách cơ bản để trở thành một hệ thống mới hoặc sẽ mất đi vĩnh viễn. c 6 Chris Easter (2000) đã xây dựng một chỉ số TDBTT đối với các quốc gia khối thịnh vượng chung, dựa trên hai nguyên tắc.