Tổng quan luận án

Biến đổi khí hậu toàn cầu do sự gia tăng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển đang tác động nghiêm trọng đến môi trường và sản xuất nông nghiệp trên phạm vi toàn thế giới. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được xác định là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng ấm lên toàn cầu, nước biển dâng, hạn hán và xâm nhập mặn. Trong cơ cấu phát thải khí nhà kính từ hoạt động nhân sinh, sản xuất nông nghiệp đóng góp khoảng 14%, trong đó canh tác lúa nước chiếm gần 60% tổng lượng phát thải của ngành. Hai loại khí nhà kính chủ yếu phát sinh từ đất canh tác nông nghiệp là khí mêtan ($\text{CH}_4$) và ôxit nitơ ($\text{N}_2\text{O}$), lần lượt chiếm khoảng 50% và 60% nguồn phát thải gây hiệu ứng nhà kính trong nông nghiệp.

Tại thành phố Cần Thơ, diện tích canh tác lúa đạt 232.336 ha, chiếm tới 99,6% tổng diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt. Tập quán thâm canh độc canh 2–3 vụ lúa mỗi năm kết hợp giữ nước ngập thường xuyên, bón nhiều phân đạm vô cơ và xử lý rơm rạ bằng cách đốt đồng hoặc vùi rơm tươi trực tiếp vào đất ngập nước đã dẫn đến những bất cập lớn: gây ngộ độc hữu cơ cho cây lúa, làm mất cân đối dinh dưỡng đất và làm tăng lượng khí $\text{CH}_4$, $\text{N}_2\text{O}$ phát thải vào bầu khí quyển.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án tập trung giải quyết xuất phát từ mối quan hệ đánh đổi giữa hai loại khí nhà kính trên ruộng lúa: việc rút nước để tạo môi trường thoáng khí giúp giảm phát thải $\text{CH}_4$ nhưng có nguy cơ kích thích phát thải $\text{N}_2\text{O}$ và ngược lại. Do đó, việc xác định ngưỡng mực nước ruộng hợp lý, đánh giá định lượng phát thải trên các biện pháp xử lý phụ phẩm rơm rạ và so sánh tiềm năng phát thải giữa hệ thống luân canh lúa – màu với độc canh 3 vụ lúa là vấn đề khoa học và thực tiễn cấp bách.

Luận án đặt ra ba giả thuyết nghiên cứu cụ thể:

  1. Cần xác định biện pháp quản lý nước phù hợp để vừa giảm phát thải khí $\text{CH}_4$, vừa kiểm soát không làm tăng phát thải khí $\text{N}_2\text{O}$ mà không gây suy giảm năng suất lúa.
  2. Cần lượng hóa mức độ phát thải khí $\text{CH}_4$ và $\text{N}_2\text{O}$ trên các tập quán xử lý rơm rạ phổ biến (vùi rơm tươi, đốt rơm rạ, xử lý nấm Trichoderma sp.).
  3. Mô hình luân canh cây màu trên nền đất lúa có tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính so với mô hình độc canh 3 vụ lúa như thế nào trong khi vẫn đảm bảo hiệu quả mùa vụ.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Xác định được biện pháp quản lý nước phù hợp làm giảm phát thải $\text{CH}_4$ và $\text{N}_2\text{O}$ trong canh tác lúa.
  2. Đánh giá tiềm năng phát thải $\text{CH}_4$ và $\text{N}_2\text{O}$ giữa các biện pháp xử lý rơm rạ sau thu hoạch.
  3. Xác định được mô hình canh tác có tiềm năng phát thải khí nhà kính thấp nhưng năng suất lúa vẫn ổn định trên hệ thống luân canh cây màu (cây mè) và độc canh 3 vụ lúa trên nền đất lúa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Khí nhà kính $\text{CH}_4$ và $\text{N}_2\text{O}$; các chỉ tiêu lý hóa học đất; các thành phần năng suất và năng suất lúa; các chế độ quản lý nước; các biện pháp xử lý rơm rạ; mô hình luân canh lúa – mè – lúa và mô hình độc canh 3 vụ lúa.
  • Phạm vi không gian: Thí nghiệm nhà lưới và thí nghiệm ngoài đồng ruộng được tiến hành trên nhóm đất phèn nhẹ tại Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long (xã Tân Thạnh) và ấp Thới Phong A (thị trấn Thới Lai), thuộc huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
  • Phạm vi thời gian: Các vụ canh tác thực hiện từ năm 2015 đến năm 2017, gồm vụ Đông Xuân (ĐX) 2015–2016, Xuân Hè (XH) 2016, Hè Thu (HT) 2016, Đông Xuân (ĐX) 2016–2017, kết hợp kế thừa số liệu từ dự án CLUES–ACIAR giai đoạn 2012–2013.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về các yếu tố chi phối quá trình sinh học tạo thành và phát thải khí nhà kính trong đất lúa:

  • Cơ chế phát thải khí $\text{N}_2\text{O}$ và các yếu tố ảnh hưởng: Theo các nghiên cứu kinh điển của Patrick & Reddy (1976), Reddy & Patrick (1984), Ishii và ctv. (2011), đạm trong đất trải qua các quá trình khoáng hóa, amoni hóa, nitrat hóa và phản nitrat. Quá trình nitrat hóa xảy ra tại lớp đất mặt hiếu khí (0–2 mm quanh rễ), còn phản nitrat hóa diễn ra ở vùng yếm khí (cách rễ 1,5–5,0 mm và tầng đất khử dày 10–20 cm) (Reddy & Patrick, 1984). Các tiến trình Anammox (Zhu và ctv., 2011) và khử nitrat ngược tạo thành amoni (DNRA) (Giblin và ctv., 2013) cũng tham gia vào chu trình chuyển hóa N. Zou và ctv. (2005) cùng Dalal và ctv. (2003) xác định lượng $\text{N}_2\text{O}$ thất thoát chiếm từ 0,01% đến 1,78% lượng phân đạm bón vào đất. Ussiri & Lal (2013) và Park và ctv. (2011) khẳng định liều lượng và kỹ thuật bón phân đạm vô cơ là chỉ số dự báo trực tiếp đến lượng $\text{N}_2\text{O}$ phát thải.

  • Cơ chế phát thải khí $\text{CH}_4$: Lê Văn Khoa và ctv. (1999), Minamikawa & Sakai (2005), Trần Đăng Hồng (2007) và Bouwman (1990) chỉ rõ $\text{CH}_4$ hình thành từ sự phân giải chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí bởi vi khuẩn sinh mêtan (methanobacterium) khi điện thế ôxy hóa khử (Eh) giảm xuống mức âm (từ -300 mV đến 0 mV). Khí $\text{CH}_4$ phát tán chủ yếu qua hệ thống thông khí của thân cây lúa và bọt khí mặt nước. Yagi & Miami (1990) và Lindau (1994) ghi nhận vùi rơm tươi làm tăng tốc độ phát thải $\text{CH}_4$ từ 2 đến 4 lần so với không vùi rơm.

  • Ảnh hưởng của chế độ nước và kỹ thuật canh tác: Cai và ctv. (1997, 1999), Zou và ctv. (2005), Liu và ctv. (2010), Sander và ctv. (2014) chỉ ra rằng việc rút nước phơi ruộng hoặc áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (AWD) làm giảm đáng kể $\text{CH}_4$ nhưng có xu hướng kích thích đỉnh phát thải $\text{N}_2\text{O}$. Ngược lại, Beare và ctv. (2009) ghi nhận lượng $\text{N}_2\text{O}$ giảm từ 93–96% trong giai đoạn đất khô. Tô Lan Phương và ctv. (2012) chứng minh tưới ngập khô luân phiên giúp tăng hiệu quả kinh tế so với tưới ngập liên tục.

  • Quản lý rơm rạ và luân canh cây trồng: Bùi Thị Thanh May (2012) thống kê lượng phụ phẩm rơm rạ và trấu tại Việt Nam đạt trung bình khoảng 100 triệu tấn/năm. Theo FAO (2016), lượng rơm rạ bị đốt tại Việt Nam năm 2012 là 4,0 triệu tấn. Vùi rơm tươi gây tích lũy các axit hữu cơ (axit butyric, axit acetic) gây ngộ độc rễ (Nguyễn Thành Hối, 2008), trong khi xử lý rơm ủ nấm Trichoderma sp. kết hợp phân đạm vô cơ giúp giảm phát thải $\text{CH}_4$ và duy trì số bông/$\text{m}^2$ (Trần Thị Hồng Huyến, 2018). Paustian và ctv. (2004), Izaurralde và ctv. (2001), West & Post (2002) chỉ ra việc luân canh cây họ đậu hoặc cây trồng cạn trên nền đất lúa giúp cải thiện cân bằng cacbon và giảm phát thải khí nhà kính.

Vị trí của luận án được xác lập thông qua việc đánh giá đồng thời cả hai loại khí $\text{CH}_4$ và $\text{N}_2\text{O}$ trong điều kiện thực nghiệm đồng ruộng tại ĐBSCL, xác định ngưỡng quản lý mực nước tối ưu nhằm giải quyết mâu thuẫn đánh đổi giữa phát thải $\text{CH}_4$ và $\text{N}_2\text{O}$, đồng thời định lượng chính xác hiệu quả giảm phát thải của hệ thống luân canh cây mè trên nền đất lúa phèn nhẹ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên khung lý thuyết về chu trình sinh địa hóa của cacbon và nitơ trong đất ngập nước, tiềm năng làm ấm toàn cầu (Global Warming Potential – GWP) theo chuẩn tính toán của IPCC (2007) với hệ số quy đổi trong khung thời gian 100 năm: 1 kg $\text{CH}_4 = 25\text{ kg CO}_2\text{e}$ và 1 kg $\text{N}_2\text{O} = 298\text{ kg CO}_2\text{e}$.

Phương pháp nghiên cứu định lượng thực nghiệm bao gồm 8 thí nghiệm (trong nhà lưới và ngoài đồng) cùng 1 thí nghiệm kế thừa từ dự án CLUES–ACIAR:

  • Nội dung 1 (Quản lý nước): Bố trí thí nghiệm nhà lưới khảo sát 4 chế độ nước (ngập liên tục 15 cm, ngập 5 cm, tưới ngập khô xen kẽ AWD, đất bão hòa nước) và mô hình kiểm chứng ngoài đồng ruộng so sánh giữa chế độ ngập nông (0–5 cm) và tập quán ngập sâu truyền thống của nông dân.
  • Nội dung 2 (Xử lý rơm rạ): Thí nghiệm nhà lưới và mô hình đồng ruộng khảo sát các nghiệm thức: vùi rơm rạ tươi, đốt rơm rạ tại ruộng, xử lý nấm Trichoderma sp. phân hủy rơm rạ, kết hợp phân hữu cơ và vô cơ.
  • Nội dung 3 (Hệ thống canh tác): Bố trí mô hình đồng ruộng so sánh hệ thống luân canh lúa – mè – lúa (vụ Xuân Hè trồng mè, vụ Hè Thu và Đông Xuân trồng lúa) với hệ thống độc canh 3 vụ lúa/năm (Xuân Hè – Hè Thu – Đông Xuân).

Phương pháp thu mẫu và kỹ thuật phân tích:

  • Thu mẫu khí: Sử dụng phương pháp buồng kín (closed chamber box) chuyên dụng cho lúa nước. Buồng thu khí được thiết kế riêng biệt cho đo $\text{CH}_4$ và $\text{N}_2\text{O}$, có gắn quạt khuấy đều khí và nhiệt kế theo dõi nhiệt độ buồng đo.
  • Đo nồng độ khí: Nồng độ $\text{CH}_4$ và $\text{N}_2\text{O}$ trong mẫu khí được phân tích định lượng trên hệ thống máy sắc ký khí (Gas Chromatography – GC) do Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Úc (ACIAR) tài trợ qua dự án CLUES đặt tại Viện Lúa ĐBSCL.
  • Đo đạc các thông số môi trường: Điện thế ôxy hóa khử (Eh) của đất được đo trực tiếp ngoài đồng bằng máy đo Eh chuyên dụng; theo dõi mực nước ruộng bằng ống đo mực nước PVC đục lỗ; ghi nhận nhiệt độ không khí và đất tại các thời điểm lấy mẫu.
  • Chỉ tiêu đất và cây trồng: Lấy mẫu đất tầng mặt (0–20 cm) ở đầu vụ và cuối vụ để phân tích các chỉ tiêu lý hóa (pH, chất hữu cơ OC, $\text{NH}_4^+-\text{N}$, $\text{NO}3^--\text{N}$, N tổng số, P dễ tiêu, K trao đổi). Đánh giá các chỉ tiêu nông học của lúa: số chồi/$\text{m}^2$, số bông/$\text{m}^2$, số hạt chắc/bông, trọng lượng 1000 hạt ($\text{P}{1000}$) và năng suất thực thu (tấn/ha).
  • Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý thống kê phân tích phương sai (ANOVA), kiểm tra sai khác trung bình bằng phép thử Duncan hoặc Tukey qua phần mềm thống kê chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương 1 trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh ĐBSCL chịu tác động sâu sắc của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn. Tác giả nêu rõ mục tiêu, 3 giả thuyết nghiên cứu, đối tượng, phạm vi không gian tại huyện Thới Lai (TP. Cần Thơ) trên đất phèn nhẹ, phạm vi thời gian từ 2015 đến 2017, ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn và tóm tắt những đóng góp mới của luận án.

Chương 2: Tổng quan tài liệu

Chương 2 tổng hợp toàn diện các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL và TP. Cần Thơ; thực trạng biến đổi khí tượng thủy văn (nhiệt độ tăng 0,5°C, suy giảm 200 mm lượng mưa trong giai đoạn 1998–2008, độ mặn 1‰ và 4‰ lấn sâu vào đất liền); hiện trạng sử dụng và đốt phụ phẩm rơm rạ; cơ chế hóa sinh của sự phát thải khí $\text{CH}_4$, $\text{N}_2\text{O}$, chu trình nitrat hóa, phản nitrat, Anammox, DNRA; và các yếu tố thổ nhưỡng, phân bón, chế độ tưới tác động đến thông lượng khí nhà kính.

Chỉ tiêu kiểm kê khí nhà kính quốc gia năm 2010 Năng lượng Nông nghiệp LULUCF Chất thải Tổng cộng (kể cả LULUCF)
Phát thải $\text{CO}_2$ (triệu tấn) 124,8 – -20,3 0,07 125,7
Phát thải $\text{CH}_4$ (triệu tấn $\text{CO}_2\text{e}$) 16,0 57,9 1,0 13,4 88,3
Phát thải $\text{N}_2\text{O}$ (triệu tấn $\text{CO}_2\text{e}$) 0,4 30,4 0,1 1,8 32,8
Tổng lượng phát thải (triệu tấn $\text{CO}_2\text{e}$) 141,1 88,3 -19,2 15,4 246,8
Tỷ trọng phát thải không tính LULUCF (%) 53,05% 33,20% — 5,78% 100,00%

(Nguồn: Số liệu trích xuất từ Báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014 được trình bày trong Chương 2 của luận án)

Tác giả cũng phân tích cơ cấu phát thải trong nội bộ ngành nông nghiệp Việt Nam năm 2010 (tổng cộng 88.354,8 nghìn tấn $\text{CO}_2\text{e}$): canh tác lúa nước chiếm tỷ trọng lớn nhất với 50,5%, tiếp theo là đất nông nghiệp (26,9%), tiêu hóa thức ăn của gia súc (10,7%), quản lý phân bón (9,69%) và đốt phụ phẩm nông nghiệp trên đồng ruộng (2,15%).

Tình hình phát thải khí nhà kính qua các giai đoạn tại Việt Nam Năm 1994 Năm 2000 Năm 2010 Dự báo 2020 Dự báo 2030
Ngành Năng lượng (triệu tấn $\text{CO}_2\text{e}$) 25,6 52,8 141,1 381,1 648,5
Ngành Nông nghiệp (triệu tấn $\text{CO}_2\text{e}$) 52,4 65,1 88,3 100,8 109,3
Toàn quốc (bao gồm LULUCF / các lĩnh vực) 103,8 150,9 246,8 466,0 760,5

(Nguồn: Trích dẫn báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014 trong Chương 2)

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình bố trí các thí nghiệm:

  • Nội dung 1: Nghiên cứu biện pháp quản lý nước ảnh hưởng đến phát thải $\text{CH}_4$ và $\text{N}_2\text{O}$ trong nhà lưới và mô hình kiểm chứng ngoài đồng tại Thới Lai.
  • Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ và các biện pháp xử lý rơm (vùi rạ, đốt rơm, chế phẩm Trichoderma) đến phát sinh khí nhà kính.
  • Nội dung 3: Đánh giá tiềm năng phát thải trên hệ thống luân canh lúa – mè – lúa so với độc canh 3 vụ lúa liên tục. Chương này mô tả chi tiết quy cách buồng thu khí, cấu hình hệ thống sắc ký khí GC, vị trí và tần suất đo thông lượng khí, quy trình lấy mẫu và phân tích đất tầng 0–20 cm trước và sau thí nghiệm, cùng các công thức tính toán lượng phát thải tích lũy và quy đổi $\text{CO}_2\text{e}$.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 phân tích chi tiết dữ liệu thực nghiệm qua 3 nội dung trọng tâm:

  1. Kết quả về biện pháp quản lý nước:

    • Biện pháp giữ mực nước ngập nông từ 0–5 cm làm giảm thông lượng phát thải khí $\text{CH}_4$ đạt mức 28,3% đến 38,0% (tính theo kg/ha/ngày) so với tập quán ngập sâu liên tục của nông dân.
    • Quản lý nước ngập nông không làm tăng lượng phát thải khí $\text{N}_2\text{O}$. Tổng lượng phát thải quy đổi giảm 32,1% trong vụ Hè Thu 2016 và 25,7% trong vụ Đông Xuân 2016–2017. Tính chung cả năm, tổng phát thải quy đổi ($\text{kg CO}_2\text{e/ha/năm}$) giảm 27,9% so với mô hình canh tác truyền thống.
    • Phát thải $\text{N}_2\text{O}$ tập trung mạnh nhất vào các đợt bón phân: lượng phát thải khí $\text{N}_2\text{O}$ sau những ngày bón phân cao gấp 2,67 – 3,00 lần lượng phát thải trung bình hằng ngày, chiếm 41,2 – 42,4% tổng lượng $\text{N}_2\text{O}$ phát thải trong toàn bộ vụ mùa.
  2. Kết quả về xử lý rơm rạ:

    • Tốc độ phát thải $\text{CH}_4$ trung bình hằng ngày ghi nhận ở mô hình vùi rạ là 2,02 kg/ha/ngày; mô hình xử lý chế phẩm nấm Trichoderma sp. là 1,99 kg/ha/ngày; và mô hình đốt rơm rạ là 1,90 kg/ha/ngày.
    • Tổng phát thải tích lũy qua hai vụ (Hè Thu 2016 và Đông Xuân 2016–2017) ở mô hình vùi rạ lần lượt đạt 5.671 $\text{kg CO}_2\text{e/ha}$ và 5.345 $\text{kg CO}_2\text{e/ha}$; ở mô hình đốt rơm rạ lần lượt đạt 4.807 $\text{kg CO}_2\text{e/ha}$ và 5.108 $\text{kg CO}_2\text{e/ha}$.
    • Về mặt thống kê, tổng lượng phát thải khí nhà kính quy đổi ($\text{kg CO}_2\text{e/ha/năm}$) không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các biện pháp xử lý rơm rạ khác nhau. Lượng phát thải $\text{N}_2\text{O}$ sau các ngày bón phân ở mô hình rơm rạ cao gấp 2,50 – 2,57 lần lượng phát thải hằng ngày, chiếm từ 36,9% đến 45,1% tổng lượng phát thải $\text{N}_2\text{O}$ cả vụ.
  3. Kết quả về hệ thống canh tác (Luân canh lúa – mè – lúa và Độc canh 3 vụ lúa):

    • Tổng lượng phát thải khí $\text{N}_2\text{O}$ sau các đợt bón phân qua 3 vụ canh tác chiếm từ 25,1 – 65,6% tổng lượng $\text{N}_2\text{O}$ ở mô hình luân canh và từ 18,3 – 37,4% ở mô hình độc canh.
    • Tổng lượng phát thải khí nhà kính quy đổi ($\text{kg CO}_2\text{e/ha/năm}$) ở mô hình luân canh lúa – mè – lúa thấp hơn mô hình độc canh 3 vụ lúa là 20,6%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê qua các mùa vụ trong khi năng suất các vụ lúa trong hệ thống luân canh vẫn duy trì ổn định.
Tổng hợp các chỉ tiêu phát thải khí nhà kính chính từ kết quả nghiên cứu Mô hình Quản lý nước ngập nông (0–5 cm) Mô hình Quản lý nước truyền thống Mô hình Luân canh (Lúa – Mè – Lúa) Mô hình Độc canh (3 vụ lúa/năm)
Giảm phát thải $\text{CH}_4$ hằng ngày (%) Giảm 28,3 – 38,0% Đối chứng — —
Giảm tổng phát thải vụ Hè Thu 2016 (%) Giảm 32,1% Đối chứng — —
Giảm tổng phát thải vụ Đông Xuân 2016–2017 (%) Giảm 25,7% Đối chứng — —
Giảm tổng phát thải quy đổi năm ($\text{kg CO}_2\text{e/ha/năm}$) Giảm 27,9% Đối chứng Giảm 20,6% Đối chứng
Tỷ lệ $\text{N}_2\text{O}$ phát thải sau các đợt bón phân (%) 41,2 – 42,4% — 25,1 – 65,6% 18,3 – 37,4%
Mức tăng phát thải $\text{N}_2\text{O}$ ngày bón phân so với ngày thường Cao gấp 2,67 – 3,00 lần — — —

(Nguồn: Tổng hợp từ các bảng số liệu kết quả nghiên cứu trong Chương 4 và Tóm tắt luận án)

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương 5 đúc kết các phát hiện chính của luận án, khẳng định chế độ ngập nông 0–5 cm và mô hình luân canh mè trên đất lúa là hai giải pháp kỹ thuật tối ưu giúp cắt giảm phát thải khí nhà kính mà không làm suy giảm năng suất lúa, đồng thời đề xuất khuyến cáo chuyển đổi canh tác và hoàn thiện gói kỹ thuật quản lý nước cho vùng ĐBSCL.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được các đóng góp khoa học và thực tiễn cụ thể:

  • Về mặt khoa học và lý luận:

    1. Xác định được mô hình quản lý mực nước ruộng ngập nông (0–5 cm) giúp giảm lượng phát thải khí $\text{CH}_4$ từ 28,3% đến 38,0% (kg/ha/ngày) mà không làm tăng lượng phát thải khí $\text{N}_2\text{O}$ trên đất lúa phèn nhẹ, giúp tổng phát thải khí nhà kính quy đổi ($\text{kg CO}_2\text{e/ha/năm}$) giảm 27,9% so với tập quán giữ nước ngập sâu liên tục.
    2. Định lượng chính xác tốc độ phát thải khí $\text{CH}_4$ giữa các biện pháp xử lý rơm rạ: mô hình vùi rạ đạt 2,02 kg/ha/ngày, xử lý nấm Trichoderma đạt 1,99 kg/ha/ngày và đốt rơm đạt 1,90 kg/ha/ngày; đồng thời chứng minh tổng phát thải quy đổi $\text{kg CO}_2\text{e/ha/năm}$ không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các biện pháp xử lý rơm rạ.
    3. Làm sáng tỏ động thái phát thải $\text{N}_2\text{O}$ phụ thuộc chặt chẽ vào thời điểm bón phân đạm: lượng $\text{N}_2\text{O}$ bốc thoát trong những ngày ngay sau bón phân cao gấp 2,50 đến 3,00 lần lượng phát thải trung bình hằng ngày và chiếm tỷ trọng từ 36,9% đến 45,1% tổng phát thải $\text{N}_2\text{O}$ trong toàn vụ.
    4. Chứng minh mô hình luân canh cây mè trên nền đất lúa có tổng lượng phát thải khí quy đổi $\text{kg CO}_2\text{e/ha/năm}$ thấp hơn mô hình độc canh 3 vụ lúa là 20,6%, trong khi vẫn duy trì năng suất lúa ổn định qua các vụ.
  • Về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:

    1. Khuyến cáo áp dụng rộng rãi quy trình quản lý nước ngập nông (0–5 cm) và chuyển đổi các diện tích lúa 3 vụ kém hiệu quả sang mô hình luân canh lúa – mè – lúa cho vùng đất phèn nhẹ thành phố Cần Thơ và các vùng có điều kiện sinh thái tương tự tại ĐBSCL.
    2. Luận án tính toán rằng với tổng diện tích gieo trồng lúa của vùng ĐBSCL khoảng 4 triệu ha/năm, việc áp dụng biện pháp quản lý nước ngập nông kết hợp chuyển đổi diện tích lúa kém hiệu quả sang luân canh có tiềm năng giảm khoảng 12,03 triệu tấn $\text{CO}_2\text{e}$, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính quốc gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo giới hạn nghiên cứu được tác giả xác định trong văn bản:

  • Hạn chế về phạm vi không gian và thổ nhưỡng: Đề tài tập trung thực hiện thực nghiệm trên địa bàn huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ, đại diện cho nhóm đất phèn nhẹ. Kết quả chưa bao quát các nhóm đất đặc thù khác của ĐBSCL như đất phù sa mặn, đất phèn nặng ngập úng kéo dài hay đất than bùn.
  • Hạn chế về nội dung và đối tượng: Nghiên cứu tập trung vào 3 nội dung kỹ thuật (chế độ nước, xử lý rơm rạ, luân canh cây mè); chưa mở rộng đánh giá đối với các loại phân bón đạm có chất ức chế nitrat hóa, các loại phân tan chậm hoặc các công thức luân canh với các cây màu khác (ngô, đậu tương, dưa hấu) hay xen canh thủy sản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục triển khai thử nghiệm mô hình quản lý nước ngập nông và các hệ thống luân canh trên các tiểu vùng sinh thái đất khác nhau ở ĐBSCL; theo dõi diễn biến lý hóa tính đất và cân bằng cacbon hữu cơ trong các chu kỳ luân canh dài hạn hơn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Khoa học Đất, Nông học, Khoa học Môi trường và Biến đổi khí hậu: Tham khảo quy trình thực nghiệm đồng ruộng, phương pháp thu mẫu bằng buồng kín và kỹ thuật đo đạc sắc ký khí GC đối với hai khí $\text{CH}_4$ và $\text{N}_2\text{O}$, cùng hệ thống số liệu định lượng về động thái phát thải khí nhà kính theo chu kỳ sinh trưởng của lúa và thời điểm bón phân.
  • Cán bộ khuyến nông và nhà hoạch định chính sách nông nghiệp tại ĐBSCL: Sử dụng các kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để ban hành các hướng dẫn kỹ thuật canh tác lúa giảm phát thải (ngập nông 0–5 cm), xây dựng đề án tái cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang luân canh cây màu thích ứng với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn.

Câu hỏi thường gặp

1. Biện pháp quản lý nước ngập nông từ 0 – 5 cm mang lại hiệu quả giảm phát thải khí nhà kính như thế nào? Biện pháp ngập nông 0–5 cm làm giảm thông lượng phát thải khí $\text{CH}_4$ từ 28,3% đến 38,0% (kg/ha/ngày) và không làm tăng phát thải khí $\text{N}_2\text{O}$. Tổng phát thải khí nhà kính quy đổi ($\text{kg CO}_2\text{e/ha}$) giảm 32,1% trong vụ Hè Thu 2016, giảm 25,7% trong vụ Đông Xuân 2016–2017 và tính chung cả năm giảm 27,9% so với tập quán giữ nước ngập sâu liên tục của nông dân.

2. Động thái phát thải khí $\text{N}_2\text{O}$ trên ruộng lúa chịu ảnh hưởng của việc bón phân đạm như thế nào? Lượng khí $\text{N}_2\text{O}$ phát thải sau các ngày bón phân tăng vọt, cao gấp từ 2,50 đến 3,00 lần lượng phát thải trung bình hằng ngày. Lượng phát thải trong các đợt bón phân này chiếm tỷ trọng rất lớn, từ 36,9% đến 45,1% trên tổng lượng khí $\text{N}_2\text{O}$ phát thải của toàn bộ vụ mùa.

3. Có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về tổng phát thải khí nhà kính giữa các biện pháp xử lý rơm rạ không? Tốc độ phát thải $\text{CH}_4$ trung bình hằng ngày ở mô hình vùi rạ là 2,02 kg/ha/ngày, xử lý nấm Trichoderma là 1,99 kg/ha/ngày và đốt rơm là 1,90 kg/ha/ngày. Tuy nhiên, khi quy đổi ra tổng lượng phát thải cả năm ($\text{kg CO}_2\text{e/ha/năm}$), sự khác biệt giữa các biện pháp xử lý rơm rạ không có ý nghĩa thống kê.

4. Mô hình luân canh lúa – mè – lúa giảm phát thải khí nhà kính bao nhiêu so với độc canh 3 vụ lúa? Tổng lượng phát thải khí nhà kính quy đổi cả năm ($\text{kg CO}_2\text{e/ha/năm}$) ở mô hình luân canh lúa – mè – lúa thấp hơn 20,6% so với mô hình độc canh 3 vụ lúa/năm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê qua từng vụ mùa trong khi năng suất lúa vẫn được giữ ổn định.

5. Theo số liệu kiểm kê quốc gia năm 2010 trong văn bản, lĩnh vực nông nghiệp và canh tác lúa đóng góp bao nhiêu vào tổng lượng phát thải? Năm 2010, lĩnh vực nông nghiệp phát thải 88,3 triệu tấn $\text{CO}_2\text{e}$ (chiếm 33,20% tổng phát thải quốc gia không kể LULUCF). Trong nội bộ ngành nông nghiệp, riêng canh tác lúa nước phát thải lớn nhất, chiếm 50,5% tổng lượng phát thải toàn ngành.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Kim Thu đã giải quyết trọn vẹn bài toán thực nghiệm đánh giá định lượng phát thải hai loại khí nhà kính quan trọng ($\text{CH}_4$ và $\text{N}_2\text{O}$) trên đất phèn nhẹ tại huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh chế độ quản lý nước ngập nông 0–5 cm giúp giảm 27,9% tổng phát thải $\text{CO}_2\text{e/năm}$ mà không gây bùng phát $\text{N}_2\text{O}$, đồng thời hệ thống luân canh lúa – mè – lúa giúp giảm 20,6% tổng phát thải so với độc canh 3 vụ lúa mà vẫn duy trì năng suất cây trồng ổn định. Công trình cung cấp luận cứ khoa học thực nghiệm có giá trị cao, đóng góp thiết thực cho chiến lược chuyển đổi cơ cấu canh tác nông nghiệp giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.