Đặt vấn đề Israel là một nước nhỏ ở Trung Đông có điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt, 2/3 diện tích lãnh thổ là sa mạc, còn lại là đồi núi đá trọc, khí hậu nơi đây cực kỳ khô hạn nhưng, ngành nông nghiệp Israel phát triển ở trình độ cao. Là một nhà xuất khẩu lớn của thế giới về nông sản và đứng hàng đầu về công nghệ trong nông nghiệp. Do vậy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu. Cùng với phân bón hóa học, thuốc BVTV là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm an ninh lương thực cho loài người.
Do các loại thuốc BVTV thường là các chất hoá học có độc tính cao nên mặt trái của thuốc BVTV là rất độc hại với sức khoẻ cộng đồng và là một đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường sinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng cách. Dư lượng thuốc BVTV quá giới hạn cho phép trong nông sản, thực phẩm là mối đe dọa đối với sức khoẻ con người. Ngoài mặt tích cực là tiêu diệt các sinh vật gây hại mùa màng, thuốc BVTV còn gây nhiều hậu quả nghiêm trọng. Phá vỡ cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng, gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường sống và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng và cả cho người sản suất.
Vì vậy, giải quyết hài hoà giữa việc sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ sản xuất nông nghiệp với việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và môi trường là một đòi hỏi và thách thức lớn đối với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ thực vật. Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa môi trường, dưới sự hướng dẫn của cô giáo ThS.Nguyễn Thị Huệ, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình sản xuất và ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật tới môi trường tại trang trại 57 ein yahav, vùng Arava, Israel” n 2 1. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Nắm được thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong quá trình canh tác một số cây trồng tại trang trại 57 ein yahav vùng arava , Israel.
Và đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý tốt việc sử dụng thuốc BVTV tại trang trại 1. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được sản xuất nông nghiệp trên toàn khu vực quận Ein Yahav - Đánh giá được thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình canh tác một số cây trồng ảnh hưởng tới môi trường tại trang trại 57 Ein Yahav vùng Arava, Israel - Đề xuất giải pháp nhằm quản lý tốt việc sử dụng thuốc BVTV tại trang trại 57 Ein Yahav vùng Arava, Israel 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học + Nâng cao kiến thức kỹ năng, tích lũy được kinh nghiệm và rút ra bài học kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập vào nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiến Đưa ra nhận xét ban đầu về tình hình sử dụng thuốc BVTV và mức độ ảnh hưởng của thuốc đối với môi trường trong quá trình canh tác một số cây trồng tại trang trại 57 ein yahav Hướng dẫn nông dân sử dụng thuốc BVTV một cách hợp lý, góp phần giảm chi phí dùng thuốc, bảo vệ môi trường sống và sức khỏe của người dân nông thôn. Tạo cơ sở đề xuất được các biện pháp quản lý và sử dụng thuốc BVTV một cách phù hợp. Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho người dân địa phương.
n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Các khái niệm liên quan đến thuốc Bảo vệ thực vật * Khái niệm về thuốc Bảo vệ thực vật (BVTV) Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật. Những sinh vật gây hại chính gồm nhiều nhóm khác nhau, gọi theo tên nhóm sinh vật gây hại, như thuốc trừ sâu dùng để trừ sâu hại, thuốc trừ bệnh dùng để trừ bệnh cây… Thuốc BVTV bao gồm cả những chất có tác dụng điều hoà sinh trưởng cây trồng, chất kích thích cây trồng, chất làm rụng và khô lá hoặc các chất dùng trước hay sau thu hoạch để đảm bảo sản phẩm không bị hư hại trong khi chuyên chở hay bảo quản.
* Khái niệm chung về chất độc Chất độc: Là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lượng nhỏ cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá huỷ nghiêm trọng những chức năng của cơ thể, làm cho sinh vật bị ngộ độc hoặc bị chết. Tính độc (độc tính): là khả năng gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật ở một lượng nhất định của chất độc đó. Độ độc: biểu thị mức độ của tính độc, là liều lượng nhất định của chất độc cần có để gây được một tác động nào đó trên cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập vào cơ thể sinh vật. n 4 Liều lƣợng: là lượng chất độc cần thiết được (tính bằng mg hay g) để gây được một tác động nhất định trên cơ thể sinh vật.
* Khái niệm dư lượng của thuốc bảo vệ thực vật. Dư lượng của thuốc bảo vệ thực vật là phần còn lại của hợp chất, các sản phẩm chuyên hóa và thành phần khác có trong thuốc, tồn tại trên cây trồng, nông sản, đất, nước sau một thời gian dưới tác động của các hệ sống và điều kiện ngoại cảnh. Dư lượng của thuốc được tính bằng mg (miligam) thuốc có trong 1 kg nông sản, đất hay nước (mg/kg). Như vậy, dư lượng thuốc BVTV bao gồm bất kỳ dẫn xuất nào của thuốc cung như các sản phẩm chuyển hóa của chúng có thể gây độc cho môi sinh, môi trường.
Dư lượng có thể có nguồn gốc từ những chất đã xử lý vào đất hay trên bề mặt vật phun, phần khác lại bắt nguồn từ sự ô nhiễm (biết hay không biết) có trong không khí đất và nước. Theo tiêu chuẩn GlobalGap của EU, dư lượng thuốc bảo vệ nông sản viết tắt là MRL (Maximum Residua Limit) là một giới hạn tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (biểu hiện bằng mg/kg), là nồng độ cao nhất của dư lượng thuốc có trong một đơn vị sản phẩm rau quả mà ở đó có thể chấp nhận. MRL dựa trên dữ liệu GAP và sản phẩm cây trồng và nó phải thỏa mãn MRL ở mức độ độc tính có thể chấp nhận được. Phân loại độ độc của thuốc BVTV Các nhà sản xuất thuốc BVTV luôn ghi rõ độc tính của từng loại, đơn vị đo lường được biểu thị dưới dạng LD50 (Lethal Dose 50) và tính bằng mg/kg cơ thể.
Các loại thuốc BVTV được chia theo mức độ độc như sau: n 5 Bảng 2. Phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại (theo qui định của WHO) Trị số LD50 của thuốc (mg/kg) Dạng lỏng Dạng rắn Rất độc Qua miệng Qua da Qua miệng Qua da Độc ≤ 20 ≤ 40 ≤5 ≤ 10 Độc trung bình 20 – 200 40 – 400 5 – 50 10 - 100 Ít độc 200 –2000 400 – 4000 50 – 500 100 - 1000 >2000 > 4000 > 500 >1000 (Nguồn: Nguyễn Trần Oánh, 2010) [6]. Liều chất độc cần thiết giết chết 50% chuột thực nghiệm, giá trị LD 50 càng nhỏ, chứng tỏ chất độc càng mạnh. - Liều lượng 5mg/kg thể trọng tương đương một số giọt uống hay nhỏ mắt.
- Liều 5-50 mg/kg thể trọng tương đương một thìa cà phê. - Liều 50-500 mg/kg thể trọng tương đương hai thìa súp. Phân loại nhóm độc của thuốc trừ dịch hại theo WHO Nhóm độc Nguy hiểm Báo động Cảnh báo Cảnh (I) (II) (III) báo (IV) LD 50 qua < 50 50 - 500 500 – 5.000 miệng(mg/kg) LD 50 qua da < 200 200 – 2. Phân loại độ độc thuốc BVTV ở Israel và các biểu tƣợng về độ độc cần ghi trên nhãn theo WHO Hình LD 50 đối với chuột (mg/kg) Nhóm Chữ Vạch tƣợng độc đen Màu Qua miệng Qua da (đen) Đầu lâu Xương chéo Nhóm Rất độc trong hình Đỏ ≤ 50 ≤ 200 ≤ 100 ≤ 400 độc I thoi vuông trắng Chữ thập Nhóm chéo trong > 50 - > 200 – >100 – > 400 – Vàng độc II Độc cao hình thoi 500 2.000 vuông trắng Đường chéo Xanh không liền nước 500 – > 2.000 Nguy hiểm nét trong >1.000 Nhóm hình thoi độc III vuông trắng Xanh Cẩn thận Không biểu > 2.
Vai trò của thuốc BVTV hóa học Để ngăn chặn có hiệu quả sự phá hoại của nhiều dịch hại, chúng ta đã sử dụng hàng loạt những biện pháp kỹ thuật riêng rẽ như: canh tác kỹ thuật, vật lý cơ giới… Đặc biệt là phương pháp hóa học. Rõ ràng cho đến nay vai trò của thuốc BVTV là không thể phủ nhận, nó đóng góp một vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ sản xuất lương thực, thực phẩm, đáp ứng dinh dưỡng cho dân số đang ngày một gia tăng. Ở Israel vai trò của thuốc BVTV cũng thể n 7 hiện rõ. Tính đến năm 2014, 24,2% diện tích Israel là đất nông nghiệp tổng diện tích đất canh tác đã tăng từ 408.300 km2), số cộng đồng nông nghiệp tăng từ 400 lên 725.
Sản lượng nông nghiệp tăng 16 lần, nhanh gấp 3 lần tốc độ tăng dân số. Sản lượng nông nghiệp Israel tăng 26% từ năm 1999 tới năm 2009, trong khi số lượng nông dân giảm từ 23. Nông dân cũng tạo ra nhiều sản phẩm hơn với lượng nước giảm, giảm 12% lượng nước tiêu thụ trong khi tăng 26% sản lượng.Điều đó làm Thuốc BVTV là một trong những nhân tố đảm bảo cho sự tăng sản lượng nông nghiệp ở israel thành công. Israel là một trong những nước đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu trái cây thuộc chi cam chanh, bao gồm cam, bưởi chùm, quýt và pomelit – một giống lai giữa bưởi chùm và bưởi thông thường được phát triển tại Israel.
Có hơn 40 loại trái cây khác nhau được trồng ở Israel. Ngoài chi cam chanh ra còn có bơ, chuối, táo, cherry, trái cây thuộc phân chi mận mơ, đào, nho, chà là, dâu tây, prickly pear, persimmon, nhót tây, lựu trong đó phải kể đến công tác giống và các biện pháp BVTV.